1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những thập niên gần đây, trên thế giới đã nghiên cứu, tổng
hợp và sử dụng mét sè keo dính sinh học có thành phần hóa học chủ yếu
là cyanoacrylate nhưGlubran và Glubran 2 của Italia, keo dán ngoại khoa
Bioglue Surgical Adhesive (BSA) của Cryolife ( Mỹ), hồ chống viêm, kháng
khuẩn dùng trong ngoại khoa sulfacrylate của Nga v. v. . . và gần đây, tháng 2-
2008, Viện trang thiết bị và công trình Y tế thuộc bộ Y tế (Việt Nam) đã sản
xuất thành công keo phẫu thuật LEPAMEDvới sự giúp đỡ của chuyên gia Nga.
Bên cạnh tác dụng cầm máu thay cho dùng kẹp, khâu, đốt điện hoặc
dùngcác hoạt chất sinh học dạng keo cú chứa thrombin, keo sinh học tổng
hợp còn có tác dụng bịt kín vết thương mà không cần khâu, giúp bệnh nhân
rót ngắn thời gian nằm viện do chê cắt chỉ. Keo sinh học có thể giúp các Bác
sĩ trong mét sè thao tác khó hoặc trong phẫu thuật nội soi. Nếu sử dụng
đúng, vết thương sẽ có sẹo đẹp, đảm bảo tính thẩm mỹ cao.
Tuy nhiên, ngoài mét sè yếu tố cơ học cần phải có như độ kết dính,
khả năng polymer hoá, tất cả các loạikeo khi đưa vào cơ thể phảikhông
độc với tế bào,không gây nhiễm khuẩn, có tính phù hợp sinh học cao, có
khảnăng cầm máu vàlàm liền vết thương.
Nhằmđánh giá những đặc tính trên của keo Lepamed, chúng tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài:
" Nghiên cứu tÝnh phù hợp sinh học, tính kháng khuẩn và khả năng
liền mô của keo phẫu thuật Lepamed"
Đề tài nhằm 3 mục tiêu:
1. Đánh giá tính phù hợp sinh học ( độc tính với tế bào, các chỉ
tiêuhuyết học, sinh hoá, mô học)của keo phẫu thuật LEPAMED
2. Đánh giá khả năng kháng khuẩncủa keo phẫu thuật LEPAMED
3. Đánh giá khả năng cầm máu và liền môcủa keo phẫu
thuậtLEPAMED.
Những kết quả thu được của đề tài sẽ bổ sung cho các mục tiêu
nghiên cứu của đề tài cấp Bộ và làm cơ sở cho việc ứng dụng keo phẫu
thuật Lepamed trên lõm sàng.
- 6 cừu phẫu thuật nối khí quản bằng chỉ khâu. Để 4 tuần.
- 18 cừu phẫu thuật nối khí quản, bịt kín lỗ thủng nhỏ nhu mô phổi bằng
keo. Để 2, 4, 12 tuần
Kết quả:
Đại thể: Quan sát đại thể thấy vùng nối kín, tổ chức chặt chẽ trong tất
cả các giai đoạn thời gian.
Vi thể: Phản ứng viêm với sự xuất hiện của các tế bào viêm xung
quanh vùng keo sau 2 tuần. Sau 4 tuần phản ứng mô đặc trưng là mô hạt.
Các đặc trưng này không quan sát thấy ở mô cừu dùng chỉ khâu.12 tuần
không còn thấy dấu hiệu phản ứng với vật lạ, không còn mô hạt.
Kết luận: Bioglue như một vật liệu hỗ trợ hàn gắn các mối nối khí quản và
và các tổn thương nhu mô phổi cừuvới kích thước bé .
2.2.2. So sánh phục hồi đứt dây thần kinh bằng phương pháp khâu cổ điển
và dùng keo dán sinh học.
Jin Y, Dehesdin và Hemet J. Labor tạo hình thực nghiệm, U. F.
R. Pháp.Gây tổn thương dây thần kinh hông 70 chuột, 22 chuột được phục
hồi bằng phương pháp khâu vi phẫu, 47 bằng keo dán sinh học. 1 chết. Để
120 ngày. Đánh giá mô học,không thấy hình ảnh viêm thải loại vật lạ trong
nhóm sử dụng keo. [6]
2.2.3. Túm tắt một số nghiên cứu của Cryolife về keo sinh học:
- Phẫu thuật phục hồi đứt động mạch chủ bằng keo Bioglue surrgical
adhesive.[7]
Sử dụng26 cừu chia làm 2 nhóm:13 bằng phương pháp khâu nối, 13
bằng keo Bioglue. Để 90 ngày.
Kết quả:Phẫu thuật dùng Bioglue giảm tỷ lệ phải mổ lại từ 30% đến 0%.
- Nối động mạch vành bằng keo Bioglue.[7]
- In Vitro:
Dùng keo Bioglue nối tĩnh mạch hiển người bảo quản lạnh sâu và động
mạch vành vào 12 điểm của tim bò còn nguyên. Bơm thử áp lực. Tất cả các
ethyl, alkyl đã được thông báo về khả năng độc với tế bào. Ngoài tính độc về
mặt hoá học, các loại keo còn được biết đến với tính độc do sù toả nhiệt của
quá trình polymer hoá. Mét sè công trình nghiên cứu cho thấy nhóm
cyanoacrylate không độc với tế bào trong mét sè nồng độ pha loãng. Kết quả
thử nghiệm đối với Glubran và Glubran 2 của Italia, là 2 loại keo đã được
thương mại hoá, cho thấy tỷ lệ sống sót của tế bào trong nồng độ pha loãng
1/ 10 là > 70% [3]. Đây được coi là không độc với tế bào.
Về tính tương thích với máu:theo L. Montanaro và cộng sự cả hai loại
keo phẫu thuật Glubran và Glubran 2 sau thử nghiệm đều không làm thay
đổi có ý nghĩa các chỉ tiêu về hoạt động của prothrombin, fibrinogen, số
lượng hồng cầu, tiểu cầu cũng như công thức bạch cầu. [3]
Nhiễm khuẩn là một yếu tố rất quan trọng làm cản trở sự liền vết
thương.Theo Nguyễn Trọng Lưu khi số lượng vi khuẩn vượt quá 100000/
1gram mô thì quá trình liền vết thương có thể bị cản trở nghiêm
trọng [1]. Bởi vậy, tất cả các vật liệu sinh học khi đưa vào cơ thể đều phải
đảm bảo vô trùng. Mét số loại keo dùng trong phẫu thuật đã được đánh giá
là ngoài khả năng vô trùng còn có khả năng ức chế mét số loại vi khuẩn.
Theo James V. và cộng sù, keo sinh học N - 2 Butylcyanoacrylatecó khả
năng ức chế sự phát triển của mét sè cầu khuẩn gram dương nhưng không
làm ức chế sự phát triển của các vi khuẩn gram âm. Hai loạikeo hiện đang sử
dụng rộng rãi trên thế giới là Glubran và Glubran 2 cũng được thông báo là
có khả năng ức chế sự phát triển của vi khuẩn.
Tại Việt Nam, chúng tôi chưa tìm thấy một nghiên cứu nào về keo sinh
học.
3. Quá trình liền vết thương và vai trò củanguyên bào sợi. [1]
Quá trình liền vết thương là một quá trình rất phức tạp, trải qua 5 giai
đoạnchính với sù tham gia của nhiều loại tế bào vào những thời điểm khác
nhau.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
3.1. 1. Vật liệu
Keo phẫu thuật LEPAMED do Viện Trang thiết bị và công trình y tế
- Bé Ytếchế tạo.
H. 1 Keo Lepamed
3.1.2.Động vật nghiên cứu và cách phân lô
- Động vật nghiên cứu:
• Thá đực, giống nội địa, mỗi con nặng khoảng 2kgdo Trung tâm nghiên
cứu dê và thỏ Sơn Tây cung cấp. Thỏ được sử dụng trong nghiên cứu
đánh giá các chỉ số về sinh hóa, huyết học, gây sốt và thí nghiệm các
vết thương da vùng lưng.
• Chuột cống trắng thí nghiệm, 180 – 200 g/con, do Học viện quân y
cung cấp. Chuột cống được sử dụng nghiên cứu các vết thương tạng
- Phân lô
• 5 thỏ sử dụng trong kỹ thuật gây sốt thực nghiệm.
• 15 thỏ chia 2 lô: 8 con để 1 tuần sau mổ, 7 con để 4 tuần sau mổ.LÊy
máu định lượng các chỉ số huyết học, sinh hóa, lấy tiêu bản mô học
sau khi tạo vết thương da có sử dụng keo Lepamed.
• Chuột cống trắng 12 con sử dụng trong thí nghiệmcắt và xẻ gan (6
cắt gan, 6 xẻ gan) trong đó 8 con sử dụng keo Lepamed dính vết
thương, 4 con chứng (không sử dụng keo).
3.2.Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu thực nghiệm trên cơ thể động vật(in vivo) và trong ống
nghiệm(in vitro)
3.3.Cách thức tiến hànhnghiên cứu
3.3.1. Gây sốt thực nghiệm
- Thể tích trung bình hồng cầu MCV
Bảng 3. Thể tích trung bình hồng cầu thỏ trước và sau dùng keo Lepamed
6, 12 ngày
Thời gian
MCV(FM
3
)
P( so với
chứng)
Lô chứng
(n=15)
Lô 1
(n=15)
Lô 2
(n=15)
Trước dùng keo 61. 0 ± 2. 4
Sau dùng keo 6 ngày 62. 9 ± 2. 3 P > 0. 05
Sau dùng keo 12 ngày 63. 1± 2. 9 P > 0. 05
P(trước – sau) P > 0. 05
MCV được tính bằng tổng thể tích của hồng cầu chia cho số lượng
hồng cầu. Thể tích trung bình hồng cầu phản ánh đặc điểm của tình trạng
thiếu máu
Kết quả trình bày ở bảng 3 cho thấy: thể tích hồng cầu thỏ ở cả 2 lôsau dùng
keo 6 ngày và 12 ngày, thay đổi không có ý nghĩa so với lô chứng (p>0.05)
- Số lượng huyết sắc tố
Bảng 4. Huyết sắc tố thỏ trước và sau dùng keo Lepamed 6, 12 ngày.
Thời gian
Huyết sắc tố (g/dl)
H.9.Vết cắt gan.
A. Chưa phủ keo Lepamed. B. Phủ keo Lepamed sau 10 giây
4. 4. 3 Vết thương xẻ dọc thùy gan
Tại hai bê mép vết thương, mét lớp keo Lepamed máng được đưa vào,
khép hai bê méo vết thương bằng hai ngón tay, để khoảng 10 giây, hai mép
vết thương dính liền, không còn chảy máu. (H11. A,B)
A B
H.10. Vết thương xẻ dọc thùy gan
A. Chưa phủ keo Lepamed; B Đã phủ keo LepamedH. 14. Hình ảnh vi thể vết thương da thỏ dùng keo Lepamed sau 1 tuần thí nghiệm
4. 4. 4. 2.Vết thương da thỏ vùng lưng sau 4 tuần thí nghiệm
- Ở vết thương không dùng keo Lepamed
Vết thương đã liền hoàn toàn. Chân bì và hạ bì mô liên kết phát triển,
nhú chân bì cao, rất Ýt lông. Biểu mô dày gồm nhiều hàng tế bào sừng, phát
triển mạnh hơn, dày hơn vùng chung quanh vết thương. (H. 15)H. 15. Hình ảnh vết thương da thỏ không dùng keo sau 4 tuần thí nghiệm.(H. E
x50)
- Ở vết thương da có dùng keo Lepamed
Biểu mô mới sinh dày hơn biểu mô vùng xung quanh. Nhú chân bì
phẳng, chân bì chủ yếu là mô liên kết, rất Ýt các côm nang lông (H. 16)
quả này của chúng tôi cũng phù hợp với kết quả của L. Montanaro và cộng
sự đã nghiên cứu trên hai loại keo phẫu thuật là Glubran và Glubran 2 [3].
Vì qui mô của đề tài có hạn nên chúng tôi chưa có điều kiện nghiờn
cứu ảnh hưởng của keo lên thời gian hoạt húa
của prothrombin và fibrinogen.
4.4. Khả năng kháng khuẩn của keo Lepamed
Trên thực tế sử dụng, chúng tôi nhận thấy tất cả các vết thương có sử
dụng keo Lepamed trong ổ bụng cũng như ngoài da đều khô, không chảy
mủ, dịch. Mặc dù trước khi sử dụng keo không được hấp, sấy tiệt trùng.
Các kết quả nghiên cứu vi sinh vật bằng phương pháp khuyếch tán
trên thạch cho thấy keo Lepamed cho hai vùng kháng khuẩn. Vùng 1 do tác
động cơ học của sự polymer húa gây ra làm ức chế sự phát triển đối với tất
cả các vi khuẩn. Vùng này không sử dụng để đánh giá khả năng kháng
khuẩn của keo. Vùng hai cho thấy Lepamed có khả năng ức chế sự phát
triểncủa3 loại cầu khuẩn gram dương:S.aureus; S.epidermidis; S. pneumoniae.
Tuy nhiên kÕt quả còng cho thấyLepamed không có khả năng kháng với các 2
loại vi khuẩn gram âm là E. coli và P. aeruginosa. Nội dung nghiên cứu này
chúng tôi dựa
theo phương pháp của James V. và cộng sự trên keo N - 2
Butylcyanoacrylate.[4]. Kết quả của chúng tôi còng phù hợp với kết quả của
nhóm tác giả này. Tuy nhiên đường kính vùng 2 của chúng tôi lớn hơn.
4. 5. Khả năng cầm máu và kết dínhvết thương
Hình ảnh trên các vết thương da sau khi cắt, thấm máu nhanh và phủ
keo Lepamed sau đó đưa hai mép vết thương áp sát vào nhau, giữ trong
vòng 30 giây cho thấy vết thương gần như hoàn toàn không còn chảy máu
nhờ miệmg vết thương đã bịt kín do sù kết dính của keo, trong khi các vết
thương không dùng keo máu vẫn chảy. (H.9, A,B). Thử nghiệm này
chứng tỏLepamed có khả năng cầm máu rất tốt đối với các mô da, tổ chức
dưới da. Tuy nhiên, đối với các mô chứa nhiều máu như gan, các thao tác
với keo sinh học có thành phần tương tự Lepamed.[5,6] Sở dĩ chúng tôi
không dùng chỉ khâu phẫu thuật làm vật liệu chứng vì có thể ảnh hưởng đến
độ chính xác của các kết quả trong các nội dung nghiên cứu khác, đặc biệt là
các chỉ số sinh hóa, huyết học
KÕt quả của chúng tôi với vết thương sau khi xẻ rời hoàn toàn với
đường xẻ dài 1cm trên gan chuột và dùng keo Lepamed dính hai mặt xẻ, 4
tuần sau hình ảnh đại thể cho thấy đường xẻ biến thành sẹo.Hai vùng gan xẻ
đã liền hoàn toàn lại vớinhau, đường xẻ đã biến thành một màng liên kết
mỏng nối hai vùng gan bị xẻ lại với nhau. Xung quanh màng này cấu trúc
nhu mô gan bình thường. Không thấy sự tập trung các tế bào viêm. Vì thời
gian và kinh phí có hạn nên trong công trình này chúng tôi chưa đi sâu
nghiên cứu về sự số phận của màng liờn kết này theo thời gian, liệu nãcó thể
sẽ mỏng dần và biến mất sau nhiều tháng.
Hình ảnh đại thể và vi thể ở những vếtthương gan chuột bị cắt một
phần và dùng keo phủ bề mặt cũng cho thấy mặt cắt được mô liên kết che
phủ trên bình diện khá phẳng so với mặt cắt không phủ keo. Các tế bào
gan mới
tái tạo, bào tương có phần nhạt màu hơncác tế bào gan ở vùng xung
quanh.Nhu mô gan không có sự biến đổi cấu trúc, không thấy các tế bào
viêm. Trong nhiều trường hợp khi mổ ra chúng tôi đều thấy có mạc nối lớn
bò đến che phủ vùng gan bị cắt. Theo chúng tôi đây phản ứng tự nhiên của
cơ thể trước một tạng nào đó trong ở bụng bị tổn thương, chảy máu. Tất cả
các chuột thực nghiệm khi mổ để lấy mẫu sau 4 tuần chúng tôi không thấy
có máu hay dịch trong ổ bụng.Chúng tôi chỉ gặp một trường hợp dính các
tạng lại với nhau. Nguyên nhân có thể do phẫu thuật. Mặc dù vậy chúng tôi
cũng khuyến cáo nên tuân thủ theo đúng nguyên tắc sử dụng keo.
Như vậy, các kết quả nghiên cứu hình thái học, kể cả đại thể và vi thể
cho thấy các vết thương dùng keo phẫu thuật Lepamed đều liền, không gây
phản ứng viêm thải loại tại chỗ đối với cơ thể sử dụng.
2. Có khả năng ức chế các vi khuẩn gram(+) phát triển
3. Không làm thay đổi (có ý nghĩa) các chỉ số sinh hóa, huyết học ở thỏ
thực nghiệm.
4. Khi dùng keo phẫu thuật Lepamed để gắn vết thương da và tạng đặc:
• Cầm máu tức thời tại mặt cắt
• Kết dính ngay hai bê mép vết thương, bề mặt vết thương
phẳng.
Sau 4 tuần thử nghiệm:
• Vết thương da khô, cấu trúc các tầng mô da gần như trạng thái
bình thường.
• Hai bê mép vết thương gan do xẻ đã liền lại với nhau bởi một
màng mô xơ máng.
• Mét lớp mô xơ mỏng đã phủ lên mặt cắt gan còn lại.
• Không thấy thay đổi cấu trúc mô gan xung quanh vùng gan bị
xẻ và cắt.
6. KIẾN NGHỊ
1. Kết thóc nghiên cứu tiền lâm sàng, đề nghị cho nghiên cứu trên lâm sàng
diện hẹp
2. Tiếp tục nghiên cứuthêm trên một số tạng rỗng và mô cứng(như nối ruột,
bịt lỗthủng dạ dày, gắn kết xương góy, trộn keo với bột xương
F.Filippini, L.A. Barsanti. Cytotoxicity, blood compatibility and
antimicrobial activity of two cyanoacrylate glue for surgical use.
2001. Biomaterials 22(2001). 59 - 66
4. James V. Quinn,MD, Martin H. Osmond, MD, John A.Yurack,
PhD and Peter J Moir, N - 2 Butylcyanoacrylate: Risk of bacterial
contamination with an appriaisal of its antimicrobial effect, The
Journal of Emergency Medicine, Vol: 13, 1995. 581-585.
5. Summury of safety and effectivenss Cryolife, inc.,
Bioglue, From internet network
6. Wieken K. M.D; K. Angio-Dupez, MD. Nerve Anatomosiswith
glue: Comparative histologic study of fibrin and cyanoacrylate
glue. From Internet
7. Summary of safety and effectiveness Cryolife, Bioglue
Surgical Adhesive - Cryolife company 1655 Roberts Bulevard, NW
Kennesaw,Georgia 30144 tin từ internet).