Sv: Trần Thế Hoàng Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
MỤC LỤC
Sv: Trần Thế Hoàng Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay trong bối cảnh hội nhập quốc tế, các tổ chức doanh nghiệp phát triển
với tốc độ mạnh mẽ trong đó có rất nhiều tổ chức có vốn đầu tư nước ngoài. Mục tiêu
của của các doanh nghiệp chính là tối đa hoá lợi nhuận, vấn đề đặt ra là doanh nghiệp
cần làm gì để thực hiện được điều đó? Một trong những biện pháp đó là phải biết
quản lý và sử dụng nguồn nhân lực một cách có hiệu quả. Bởi vì con người là nguồn
lực quan trọng nhất, không thể thiếu được, con người trong quá trình lao động là yếu
tố duy nhất đưa lại lợi ích kinh tế làm tăng của cải cho xã hội, chỉ có con người mới
tạo ra giá trị thặng dư cho doanh nghiệp. Công tác phúc lợi cho người lao động mà tốt
thì người lao động có động lực làm việc, họ hăng say, nhiệt tình, ham mê với công
việc, điều đó sẽ tạo ra năng suất lao động cao góp phần vào việc đạt được mục tiêu
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Sản xuất ngày càng phát triển, đời sống của
người lao động ngày càng được nâng cao, cái mà người lao động quan tâm giờ đây
không chỉ đơn thuần là những nhu cầu vật chất mà còn bao gồm cả những nhu cầu về
tinh thần. Vì vậy doanh nghiệp cần phải nhận biết được nhu cầu đang tồn tại trong
người lao động để đáp ứng nhu cầu đó. Qua thời gian thực tập tại xí nghiệp may
veston 1 thuộc công ty cổ phần may 10, em nhận thấy công tác phúc lợi cho người lao
động tại xí nghiệp còn nhiều vấn đề cần phải hoàn thiện hơn nữa. Bởi vậy em chọn đề
tài “Hoàn thiện việc xây dựng và quản lý chương trình phúc lợi, dịch vụ cho người
lao động tại Xí nghiệp may veston 1 thuộc Công ty cổ phần may 10 ” làm đề tài
nghiên cứu của mình. Qua tìm hiểu, phân tích và đánh giá về công tác phúc lợi tại xí
nghiệp, từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện công tác này của xí nghiệp may veston
1 – công ty cổ phần may 10.
Trong bài em đã sử dụng phương pháp phân tích đánh giá và phương pháp tổng
hợp. Trên cơ sở số liệu thống kê tính toán, phân tích, đánh giá và đưa ra các nhận xét
khái quát về quá trình hoạt động phát triển cũng như thực trạng công tác phúc lợi cho
người lao động tại xí nghiệp may veston 1 – công ty cổ phần may 10.
cho người lao động: trợ cấp ốm đau, tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, thai
sản, hưu trí,tử tuất.
2.2 Phúc lợi tự nguyện.
Là các phúc lợi mà các tổ chức đưa ra, tuỳ thuộc vào khả năng kinh tế của họ và
sự quan tâm của người lãnh đạo ở đó. Bao gồm các loại:
Các phúc lợi bảo hiểm.
Bảo hiểm sức khoẻ: Để trả tiền cho việc ngăn chặn bệnh tật như các
1
ThS. NGUYỄN VĂN ĐIỀM và PGS. TS NGUYỄN NGỌC QUÂN (chủ biên), Giáo trình QUẢN TRỊ
NHÂN LỰC-2007
2
Sv: Trần Thế Hoàng Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
chương trình thể dục thể thao để tránh căng thẳng trong môi trường làm việc hoặc
chăm sóc ốm đau, bệnh tật.
Bảo hiểm nhân thọ: trả tiền cho gia đình người lao động khi người lao
động qua đời. Có thể người sử dụng lao động hỗ trợ đóng một phần bảo hiểm hoặc
toàn bộ khoản tiền bảo hiểm.
Bảo hiểm mất khả năng lao động: dành cho người lao động bị mất khả
năng lao động không liên quan đến công việc họ đảm nhận.
Các phúc lợi bảo đảm.
Bảo đảm thu nhập: Những khoản tiền trả cho người lao động bị mất việc
làm do lý do từ phía tổ chức. Như thu hẹp sản xuất, giảm biên chế, giảm cầu sản xuất
dịch vụ…
Bảo đảm hưu trí: Khoản tiền trả cho người lao động khi họ làm cho công
ty đến một mức tuổi nào đó phải nghỉ hưu với số năm làm tại công ty theo công ty
quy định.
Tiền trả cho những thời gian không làm việc.
Khoản tiền trả cho những thời gian người lao động không làm việc do thoả thuận
ngoài mức quy định của pháp luật. Ngày nay những người chủ doanh nghiệp đã trả
công ty bằng việc được mua một số cổ phiếu với giá ưu đãi. Hiện nay hình thức tham
gia cổ đông được sử dụng tương đối phổ biến, đem lại lợi ích thiết thực cho các bên
trực tiếp liên quan.
Đối với công ty và cổ đông, bán cổ phần cho nhân viên được xem là một
công cụ tài chính nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của công ty. Các lợi ích mà
chương trình bán cổ phần đem lại là một động lực lớn giúp nhân viên thi đua hoàn
thành công việc để được hưởng các lợi tức. Điều này giúp cho công ty trở nên năng
động và không ngừng phát triển.
Đối với nhân viên công ty, chính sách này giúp họ phát huy khả năng của
chính mình và thu lợi ích trực tiếp từ sự phát triển của công ty. Ngoài ra họ còn được
cung cấp thông tin về tình hình hoạt động của công ty và được tham gia quyết định
các vấn đề quan trọng và các vấn đề khác liên quan đến công việc họ đang làm.
Giúp đỡ tài chính của tổ chức: Một số tổ chức cho người lao động vay một
khoản tiền với lãi suất rất thấp nhằm giúp họ mua một số tài sản có giá trị, và khoản
tiền vay trả lại cho tổ chức dưới dạng khấu trừ dần vào tiền lương hàng tháng của họ.
Các cửa hàng cửa hiệu, căng tin bán cho người lao động với giá rẻ. Đây là một
hệ thống mà trong đó, các cửa hàng của tổ chức bán các sản phẩm cho người lao
động.
Kế hoạch phân chia lợi nhuận cho nhân viên: tùy thuộc tình hình họat động
hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty, người lao động sẽ được chia lợi nhuận
theo tỷ lệ % nhất định căn cứ vào các chỉ tiêu: thâm niên, mức độ đóng góp vào thành
quả của công ty v.v… Điều này sẽ kích thích nhân viên làm việc tốt hơn và quan tâm
đến kết quả sản xuất kinh doanh của công ty vì gắn liền với lợi ích của họ, người lao
động sẽ phấn đấu để doanh nghiệp phát triển mạnh hơn. Ngoài ra, nhân viên sẽ không
4
Sv: Trần Thế Hoàng Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
yêu cầu tăng lương khi có lạm phát, giữ trạng thái ổn định đặc biệt khi doanh nghiệp
đang trong tình trạng khó khăn về tài chính.
2
2
TS.Trần Thị Nhung & PGS.TS Nguyễn Duy Dũng, 2004, Phát triển nguồn nhân lực trong các công ty
Nhật Bản hiện nay. Tr .45
5
Sv: Trần Thế Hoàng Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
quan hệ giữa các cá nhân trong tổ chức, các tổ chức thường cung cấp các chuyến
thăm quan, du lịch hàng năm.
Dịch vụ chăm sóc người già và trẻ em: để giúp nhân viên an tâm làm việc một
số tổ chức mở các lớp mẫu giáo để trông trẻ, chăm sóc bố mẹ già để các nhân viên an
tâm công tác.Có một vài phương thức hỗ trợ:
Phương thức thứ nhất là một tài khoản chi linh hoạt cho phép công nhân
viên để dành tiền lương trước thuế cho những chi phí nhất định, bao gồm việc giúp
đỡ bố mẹ già và chăm sóc con cái. Cách làm này tiết kiệm cho công nhân viên những
khoản thuế đánh vào số tiền chuyển vào tài khoản sau này.
Phương thức thứ hai là công ty đứng ra tổ chức việc chăm sóc. Nhiều
công ty đã tổ chức cơ sở này ở gần trụ sở mình, thế nhưng những cách này có thể
phát sinh những vấn đề trách nhiệm pháp lý và khả năng thiên vị trong việc tiếp nhận
trẻ.
Một phương án nữa là giúp đỡ tài chính cho những người chăm sóc của
cộng đồng một cách trực tiếp cũng như gián tiếp thông qua phiếu trả tiền.
3
Dịch vụ nhà ở và giao thông đi lại:
Nhà ở: Một số tổ chức có chi nhánh đóng ở các tỉnh, tổ chức có thể cung
cấp những nơi ở tiện nghi cho nhân viên khi họ đi công tác xa. Có nơi còn làm nhà
phân phối hoặc bán cho người lao động với giá rẻ hoặc trả góp. Nhưng hiện nay một
số công ty đình chỉ xây dựng nhà ở mới cho nhân viên mà tiến đến tiền tệ hóa mạnh
hơn các khoản trợ cấp nhà ở nhằm đảm bảo sự công bằng trong vấn đề đãi ngộ và
linh hoạt hơn trong vấn đề quản lý. Chương trình giúp đỡ nhân viên mua hoặc tự xây
dựng nhà riêng cho mình, chương trình này không chỉ có lợi cho công ty mà còn có
II.2 Nguyên tắc xây dựng chương trình phúc lợi, dịch vụ cho người lao động
Chương trình đó phải vừa có lợi cho người lao động, vừa có lợi cho người
quản lý. Chi phí cho phúc lợi, dịch vụ phải đem lại kết quả là tăng năng suất lao
động, chất lượng phục vụ, sự trung thành của người lao động và tinh thần của họ
được nâng cao, giảm sự mâu thuẫn giữa người lao động và tổ chức.
Chương trình đó phải có tác dụng thúc đẩy hoạt động kinh doanh. Chẳng hạn,
nếu người lao động không hiểu được quyển hưởng phúc lợi trợ cấp ốm đau thì có thể
làm cản trở hoạt động sản xuất kinh doanh vì họ không nỗ lực hết mình trong công
việc.
Chi phí của chương trình phải nằm trong khả năng thanh toán của tổ chức.
Chương trình phải được xây dựng rõ ràng, thực hiện một cách công bằng và
vô tư với tất cả mọi người.
Chương trình phải được mọi người lao động tham gia và ủng hộ. Các phúc lợi,
dịch vụ như vui chơi giải trí, thể thao có thể do người lao động tổ chức trong thời
gian nhàn rỗi của họ.
II.3 Các bước xây dựng chương trình phúc lợi, dịch vụ cho người lao động
Chương trình nhằm cung cấp tối đa lợi ích cho người sử dụng lao động và người
lao động. Khi xác định tổ hợp phúc lợi, dịch vụ biên tối ưu cần lưu ý các bước:
Bước 1: Thu thập các dữ liệu về giá cả chủ yếu của tất cả các mặt hàng và dịch
7
Sv: Trần Thế Hoàng Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
vụ có liên quan.
Bước 2: Đánh giá xem cần có bao nhiêu tiền thì có thể thực hiện được tất cả các
loại phúc lợi, dịch vụ trong kỳ tới.
Bước 3: Đánh giá bằng điểm từng loại phúc lợi và dịch vụ theo các yếu tố như:
yêu cầu của luật pháp, nhu cầu và sự lựa chọn của công nhân viên và sự lựa chọn của
tổ chức.
Bước 4: Đưa ra quyết định về phương án tối ưu kết hợp giữa các loại phúc lợi và
dịch vụ khác nhau
8
Sv: Trần Thế Hoàng Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
động và người sử dụng cung cấp với lợi ích mà các bên thu được từ chương trình;
đánh giá những mặt được và chưa được để điều chỉnh hợp lý và kịp thời. Đồng thời
giải thích những thắc mắc phát sinh từ phía người lao động nhằm giảm những chi phí
xung đột không đáng có.
Khi thực hiện quy trình phúc lợi và dịch vụ, phòng (ban) quản trị nguồn nhân lực
có vai trò tư vấn cho lãnh đạo về việc xây dựng, thực hiện, quản lý các chương trình
phúc lợi và dịch vụ được cung cấp.
II.5 Ý nghĩa việc xây dựng chương trình phúc lợi và dịch vụ cho người lao
động
Nhận thức được tầm quan trọng của con người trong tổ chức, hầu hết các doanh
nghiệp đều xây dựng chiến lược nhằm thu hút, gìn giữ, phát triển nguồn nhân lực có
chất lượng nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra. Chương trình phúc lợi và dịch vụ
được xem là một phương pháp hiệu quả cho mọi doanh nghiệp hiện nay. Không chỉ
mang lại lợi ích cho người lao động, chương trình phúc lợi và dịch vụ còn mang lại
sự tâm huyết của người lao động với doanh nghiệp, làm tăng uy tín của doanh nghiệp
trên thị trường lao động. Người lao động sống trong một tập thể đoàn kết, gắn bó như
gia đình sẽ tạo động lực tốt cho công việc của mình:
Đảm bảo cuộc sống cho người lao động như hỗ trợ tiền mua nhà, xe, tiền
khám chữa bệnh…
Phúc lợi làm tăng uy tín của doanh nghiệp trên thị trường, làm người lao động
phấn chấn, từ đó có thể giúp tuyển mộ và giữ gìn một lực lượng lao động có trình độ
cao.
Góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người lao động sẽ thúc
đẩy và nâng cao năng suất lao động.
Đặc biệt, giúp giảm bớt gánh nặng của xã hội trong việc chăm lo cho người
lao động như BHXH, BHYT, BH thất nghiệp.
II.6 Sự cần thiết hoàn thiện xây dựng và quản lý các chương trình phúc lợi,
dịch vụ cho người lao động
Đến nay xí nghiệp đã đa dạng hóa sản phẩm thêm các sản phẩm jacket,
veston nữ… và mỗi ngày sản xuất được từ 800 – 1000 sản phẩm.
Cơ ngơi nhà xưởng ngày càng hoàn thiện và hiện đại; Công nghệ sản xuất
hiện đại với máy móc thiết bị thuộc phiên bản mới nhất được nhập từ nước ngoài về
và được sử dụng trong sản xuất toàn bộ máy chuyên dùng, nhằm đảm bảo chất lượng
sản phẩm và tăng năng suất lao động. Cơ cấu sản xuất gồm một giai đoạn – 2 trưởng
ca, 10 tổ trưởng sản xuất may; 1 tổ trưởng tổ là, 1 tổ trưởng tổ cắt, tổ trưởng đóng gói
với gần 500 công nhân được phân bổ trong các bộ phận.
Dự án đầu tư lắp đặt dây chuyền sản xuất veston 1 và veston 2 đã được lãnh
đạo Tổng Công ty Dệt - May Việt Nam phê duyệt có tổng mức đầu tư là 50,7 tỷ đồng
trong đó tài sản đang sử dụng chuyển sang và vốn tự bổ sung là 16,7 tỷ đồng.
Sản phẩm của xí nghiệp có uy tín trên thị trường trong nước và quốc tế, Sản
phẩm xí nghiệp được cấp chứng chỉ ISO9000. Hiện nay xí nghiệp được cấp chứng
chỉ hệ thống tích hợp ISO9000-SA8000 và ISO 14000. Bởi vậy sản phẩm chính của
xí nghiệp là hàng cao cấp để xuất khẩu sang thị trường EU. Hiện nay xí nghiệp còn
sản xuất nhiều mặt hàng xuất khẩu sang nhiều nước như: Anh, Mỹ, Nga ….
Sau 6 năm xây dựng và trưởng thành, xí nghiệp may Veston 1 đã từng bước
phát triển, được coi là 1 trong những xí nghiệp dẫn đầu của công ty về kim ngạch
xuất khẩu. Với mức năng suất từ 1.200.000 sản phẩm đến nay đạt 2.645.000 sản
phẩm, doanh thu 7$/người/ngày đến nay đạt 14$/người/ngày, năng suất lao động từ 8
áo/người đến nay đạt mức 24 áo/người.
2. Chức năng nhiệm vụ của xí nghiệp
Chức năng
Xí nghiệp may Veston 1 dưới sự kiểm soát của tổng công ty ban đầu được giao
11
Sv: Trần Thế Hoàng Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
nhiệm vụ sản xuất mặt hàng veston nam. Cho đến nay sau 6 năm hình thành, phát
triển xí nghiệp đã đa dạng hóa sản phẩm sản xuất thêm các loại mặt hàng như: áo
veston nữ và áo jacket...
TRƯỜNG CA 2
(CHẤT
LƯỢNG)
NHÓM
SỬA
MÁY
NHÓM
CÔNG
VỤ
NHÓM
NHÂN
VIÊN
NHÓM
PHỤ
LIỆU
BP KỸ
THUẬT
TỔ KIỂM
HÓA
TRƯỞNG CA
1
Tổ
cắt
Chu
yền1
Chu
yền
2
Chu
yền
Sv: Trần Thế Hoàng Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
kỹ thuật của xí nghiệp.
Dưới quyền giám đốc là các trưởng ca.Trưởng ca thay mặt giám đốc đôn đốc
điều hành chỉ đạo sản xuất công đoạn, đảm bảo kế hoạch năng suất ngày kế hoạch
giao hàng của công ty, đôn đốc các tổ sản xuất (tổ cắt, may, là, thu húa) bộ phận tác
nghiệp (tổ kỹ thuật,bảo toàn phục vụ) hoàn thành nhiệm vụ lao động và giải quyết
các vấn đề phát sinh khi vắng mặt hoặc có ủy quyền.
Nhân viên kế hoach: Tiếp nhận thông tin đầu vào, cân đối chia hàng, theo dõi
tiến độ sản xuất các tổ, lên lịch xuất hàng, hết tháng quyết toán nguyên phụ liệu, xuất
nhập hàng tính toán doanh thu XN.
Nhân viên tính lương: Cập nhật năng suất công nhân, từng mã hàng để tính
lương, tính lương theo thời gian sản xuất các chi tiết sản phẩm, quy ra giây.
Nhân viên hệ thống : Theo dõi chấm công hàng ngày, kiểm tra theo dõi tất cả
các yêu cầu đánh giá của khách hàng.
Tổ kĩ thuật: Nhiệm vụ của tổ là nghiên cứu và quản lý công tác kỹ thuật, công
nghệ trong xí nghiệp để chuẩn bị cho sản xuất các mã hàng.
Tổ IE : Nghiên cứu tổ chức sản xuất.
Tổ sản xuất gồm :
Tổ cắt
Tổ may
Tổ là
Tổ kiểm hóa
Tổ hộp con.
Phân công nhiệm vụ trong ban lãnh đạo xí nghiệp Veston 1
Giám Đốc xí nghiệp:
Chịu trách nhiệm điều hành mọi hoạt động sản xuất chung của Xí nghiệp.
Phụ trách về công tác nhân sự và tài chính
Trưởng ca 1điều hành sản xuất:
Chịu trách nhiệm công tác kế hoach của cả xí nghiệp.
4.1 Về quy mô lao động:
Hiện tại toàn xí nghiệp có tổng số lao động 580 người: bao gồm cả lao động trực
tiếp, lao động gián tiếp, lao động quản lý.
Giám đốc xí nghiệp : 1 người
Trưởng ca sản xuất : 2 người
Công nhân sửa máy : 3 nguời
Công nhân vệ sinh công nghiệp: 4 người
Công nhân phát phụ liệu :2 người
Tổ trưởng tổ cắt : 5 người
Tổ trưởng tổ may :12người
Tổ trưởng tổ là :1 người
Tổ trưởng kiểm hóa :1 người
Công nhân cắt : 75 người
Công nhân may :324người
Công nhân là :84 người
Công nhân kiểm hóa :28 người
Tổ phó may :12 người
15
Sv: Trần Thế Hoàng Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Tổ IE :6 người
Tổ kỹ thuật :6 người
Tổ đóng gói :12 người
Tuy xí nghiệp mới thành lập mới được 6 năm, nhưng đã đi vào hoạt động hiệu
qủa và ổn định, biến động về lao động qua có sự gia tăng tương đối ổn định. Năm
2004 khi mới thành lập xí nghiệp chỉ có 300 lao động. Cho đến năm 2005 là 450 lao
động, năm 2006 số lao động là 500, năm 2007 là 550, năm 2008 là 600 và tính đến
năm 2009 là 580. Sự thay đổi về quy mô lao động có những ảnh hưởng nhất định tới
công tác phúc lợi và dịch vụ trong xí nghiệp. Các chương trình phúc lợi và dịch vụ
của xí nghiệp vừa phải xây dựng sao cho phù hợp với số lượng lao động mới, vừa
Nhận xét : Qua bảng Ta thấy tỉ lệ lao động trực tiếp của xí nghiệp qua các năm
khá cao. Tỉ lệ công nhân may trong tổng số lao động của xí nghiệp giảm dần theo các
năm, nhưng doanh thu của Xí nghiệp vẫn tăng qua các thời kỳ đó. Điều này có thể là
do xí nghiệp đã áp dụng thành công những biện pháp tăng năng suất lao động, do đó số
công nhân trực tiếp may cần ít hơn, nhưng số công nhân khác như công nhân sửa máy
hay công nhân phát phụ liệu lại tăng lên do khối lượng sản phẩm tăng.
Lao động gián tiếp có xu hướng tăng qua các năm. Nguyên nhân có thể do lực
16
Sv: Trần Thế Hoàng Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
lượng lao động của thế hệ trước còn đang tham gia lao động, dẫn tới các tiến bộ kĩ
thuật về máy móc còn chưa được sử dụng tối đa. Xí nghiệp cần có biện pháp khắc
phục vấn đề này như tổ chức các chương trình đào tạo ngắn hạn cho CBCNV nhằm
nâng cao trình độ tăng năng xuất lao động.
Sự chênh lệch giữa số lượng lao động trực tiếp và số lượng lao động gián tiếp có
ảnh hưởng không nhỏ tới tới việc xây dựng các quỹ bảo hiểm cho người lao động.
Lượng lao động gián tiếp thường chịu các rủi do cao hơn về sức khỏe xong mức
hưởng chế độ không được phân biệt rõ ràng.
Cơ cấu lao động theo giới tính và đối tượng lao động
Bảng 2: Cơ cấu lao động theo giới tính và đối tượng lao động
(Nguồn: Phòng tổ chức)
Nhận xét:
Dễ dàng nhận thấy rằng lao động tại xí nghiệp chủ yếu là lao động nữ. Số lao
động nữ qua các năm đều chiếm tỷ lệ trên 80%. Điều này là hoàn toàn hợp lý với đặc
điểm của ngành sản xuất dệt may.
Tỷ lệ lao động trực tiếp qua các năm đều tăng, xong tỷ lệ lao động gián tiếp cũng
tăng nhẹ. Điều này cho thấy việc áp dụng các tiến bộ khoa học của xí nghiệp là chưa
hợp lý, cần có những biện pháp khắc phục.
Lực lượng lao động nữ tại xí nghiệp chiếm phần lớn trong tổng số lao động. Vì
17
Sv: Trần Thế Hoàng Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
vậy các chương trình chăm sóc sức khỏe sinh sản và các chế độ áp dụng cho lao
động nữ của xí nghiệp cần tổ chức, thực hiện chi tiết nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho
quá trình lao động. Cần theo dõi, tính toán số lượng công nhân nữ trong thời kỳ thai
sản ở từng tổ/cụm để có các chương trình hỗ trợ và phân công lao động hợp lý.
Cơ cấu lao động theo trình độ.
Bảng 3: Cơ cấu lao động theo trình độ
(Nguồn: Phòng tổ chức)
Nhận xét: Qua bảng cơ cấu theo trình độ trên ta có thể thấy là lao động của của
xí nghiệp chủ yếu là lao động phổ thông và đã qua đào tạo nghề. Không có lao động
chưa tốt nghiệp phổ thông. Cơ cấu lao động qua các năm thay đổi không nhiều và
tương đối ổn đinh, trong đó lao động qua đào tạo trung cấp nghề có xu hướng tăng.
Điều này cho thấy xí nghiệp đã thực hiện tốt quá trình tuyển dụng, từ đó góp phần
nâng cao năng xuất lao động chung cho toàn xí nghiệp.
Trình độ lao động có sự tác động lớn tới ý thức làm việc của người lao động. Với
cơ cấu lao động có số lao động đạt trình độ tốt nghiệp lớp 12 chiếm đa số thì việc áp
dụng các chế độ phúc lợi nhằm tạo tâm lý tốt cho họ là điều cần được quan tâm.
Nhằm đạt được sự thoải mái và đem lại hứng thú trong công việc, từ đó nâng cao
năng xuất lao động, tránh những bất đồng với các cấp lãnh đạo.
Cơ cấu lao động theo bậc thợ
Bảng 4: Cơ cấu lao động theo bậc thợ
STT Vị trí
Tổng
số
% so với tổng số theo
từng bậc thợ
Bậc thợ
bình
quân
Tổng 548 2.43
(Nguồn: Phòng tổ chức)
Nhận xét: Qua bảng cơ cấu theo bậc thợ trên ta thấy ở mỗi quy trình giai đoạn khác
nhau yêu cầu số lượng công nhân theo từng cấp bậc cũng khác nhau.
Sô lượng công nhân thuộc lĩnh vực khác như công nhân sửa máy hay công nhân
vệ sinh công nghiệp lại có bậc thợ bình quân là 3.02. Đây không phải là lĩnh vực hoạt
động chính của XN, điều này sẽ gây nên lãng phí nếu như XN không tiến hành điều
chỉnh cho phù hợp.
Công nhân may là lực lượng rất quan trọng trong xí nghiệp, nhưng lại có bậc thợ
bình quân 1.99. Điều này có ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng của xản phẩm, đặc biệt
là các sản phẩm xuất khẩu. Xí nghiệp cần thuyên chuyển các công nhân bậc cao hơn
cho tổ may nhằm đáp ứng chất lượng sản phẩm.
Công nhân cắt rất quan trọng , nó quyết định trực tiếp đến năng suất của tổ may và
chất lượng của sản phẩm, nhưng bậc thợ của công nhân cắt chưa cao, chỉ là 3.06, điều
này không hợp lý.
Đối với công nhân đóng gói, mức độ phức tạp của công việc không cao, nhưng XN
sử dụng 100% công nhân bậc 3, điều này cũng không hợp lý. Nên dùng công nhân bậc 1
hoặc 2 cho công việc đóng gói, công nhân bậc 3 cho công việc may hoặc là thì sẽ hợp lý
hơn.
Với bậc thợ bình quân thấp, chỉ ở mức 2.43 sẽ có ảnh hưởng không nhỏ đến khả
năng hoàn thành chỉ tiêu đặt ra của xí nghiệp. Bởi trình độ thấp cho nên các thao tác
động tác sẽ chậm chạp, kém chính xác dẫn đến năng suất lao động không cao, chất
lượng sản phẩm thấp do sản phẩm hỏng và lỗi nhiều.
Việc sử dụng công nhân không đúng trình độ không chỉ gây lãng phí, giảm năng
xuất cho xí nghiệp mà còn ảnh hưởng tới vấn đề phụ cấp cho công nhân với mỗi mức
độ khó trong quá trình sản xuất. Các công nhân có trình độ tay nghề cao không tham
19