Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Phan Thị Hạnh
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI MỞ ĐẦU 1
Chương I: Hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thương mại 2
Chương II: Thực trạng công tác huy động vốn tại chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và phát triển tỉnh Điện Biên . 2
Chương III: Giải pháp tăng cường công tác huy động vốn tại chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và phát triển tỉnh
Điện Biên 2
CHƯƠNG 1 3
HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA 3
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3
CHƯƠNG II 26
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ
PHÁT TRIỂN TỈNH ĐIỆN BIÊN 26
CHƯƠNG 3 46
KẾT LUẬN 59
SV: Nguyễn Thị Thùy Dung Lớp: Ngân hàng A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Phan Thị Hạnh
LỜI MỞ ĐẦU
Đất nước ta đang sau những năm đổi mới, đang từng bước tiến hành
công nghiệp hoá hiện đại hoá nhằm theo kịp các nước trong khu vực và trên
thế giới. Để thực hiện thành công chiến lược đó nhu cầu về vốn đầu tư là rất
lớn và cần thiết. Vốn là nguồn lực vô cùng quan trọng, vốn là chìa khoá, là
yếu tố hàng đầu của mọi quá trình phát triển. Do đó chủ trương “vốn trong
nước là quyết định” luôn được quán triệt trong quản lý kinh tế, quản lý đầu tư
và đặc biệt trong hoạt động tín dụng ngân hàng.
Thực hiện đường lối phát triển của Đảng và Nhà nước, trong những
năm gần đây hệ thống Ngân hàng nói chung và Hệ thống các Ngân hàng
thương mại nói riêng đã huy động được khối lượng vốn lớn cho sản xuất kinh
doanh và đầu tư phát triển kinh tế. Tuy nhiên nền kinh tế chỉ có thể phát triển
với tốc độ cao và ổn định nếu có chính sách tài chính tiền tệ đúng đắn và đồng
SV: Nguyễn Thị Thùy Dung Lớp: Ngân hàng A
2
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Phan Thị Hạnh
CHƯƠNG 1
HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Hoạt động huy động vốn của NHTM
Ngân hàng thương mại kinh doanh tiền tệ chủ yếu dưới hình thức huy
động, cho vay, đầu tư và cung cấp các dịch vụ khác. Huy dộng vốn là hoạt
động tạo nguồn vốn cho ngân hàng thương mại, đóng vai trò quan trọng ảnh
hưởng tới chất lượng hoạt động của ngân hàng.
Nguồn vốn ngân hàng huy động được sử dụng để tiến hành cho vay
phục vụ cho nhu cầu phát triển sản xuất, phục vụ các mục tiêu phát triển kinh
tế của địa phương và của cả nước. Nghiệp vụ huy động vốn của ngân hàng
ngày càng mở rộng và phát triển sẽ càng tạo uy tín và tiền đề cho ngân hàng
trong mở rộng quan hệ tín dụng với các thành phần kinh tế từ đó mang lại lợi
nhuận cho ngân hàng. Do đó, ngân hàng phải căn cứ vào các chiến lược phát
triển của địa phương cũng như của cả nước để đưa ra các chính sách huy động
vốn thích hợp nhất đáp ứng nhu cầu vốn cho sự nghiệp công nghiệp hoá -
hiện đại hoá đất nước.
1.1.1. Khái niệm về vốn huy động
Vốn huy động là nguồn tài nguyên quan trọng nhất đối với một NHTM.
Đó là những giá trị tiền tệ do NHTM huy động được trên thị trường thông qua
nghiệp vụ tiền gửi, tiền vay và một số nguồn khác, là nguồn vốn chủ yếu để
ngân hàng tiến hành các hoạt động đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh
doanh khác
Chính vì vậy, ngân hàng chỉ dung tới nguồn vốn vay nợ trong trường
hợp có những nhu cầu thanh khoản đột xuất với quy mô lớn xuất hiện mà các
SV: Nguyễn Thị Thùy Dung Lớp: Ngân hàng A
3
trưởng vốn trong suốt quá trình hoạt động của mình. Vốn huy động giúp ngân
hàng chủ động đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh nhằm phân tán rủi ro,
thu lợi nhuận lớn nhất nếu sử dụng vốn một cách có hiệu quả.
1.1.2.2. Vốn huy động quyết định đến quy mô, chất lượng tín dụng cũng
như các hoạt động khác của ngân hàng.
Hoạt động tín dụng của ngân hàng phụ thuộc vào vốn của ngân hàng.
Mà vốn huy động lại chiếm khoảng 2/3 tổng nguồn vốn toàn ngân hàng. Vốn
huy động có ảnh hưởng đến việc mở rộng hay thu hẹp khối lượng tín dụng,
khả năng chi trả, thanh toán cũng như các hoạt động khác của ngân hàng. Có
nhiều vốn, ngân hàng sẽ có điều kiện đưa ra các hình thức tín dụng linh hoạt,
có điều kiện để hạ lãi suất, từ đó sẽ làm tăng quy mô tín dụng.
1.1.2.3. Vốn huy động quyết định năng lực thanh toán, khả năng chống
đỡ rủi ro và ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh của ngân hàng.
Điều quan trọng nhất để một ngân hàng tồn tại là khả năng đảm bảo
thanh toán của ngân hàng đó. Điều kiện quyết định năng lực thanh toán của
ngân hàng chính là vốn của ngân hàng. Có nhiều vốn, khả năng thanh toán
của ngân hàng luôn được đảm bảo, các khách hàng luôn cảm thấy yên tâm khi
giao dịch với ngân hàng. Trong nền kinh tế có nhiều biến động như hiện nay,
khả năng thanh toán luôn được các ngân hàng quan tâm hàng đầu và để làm
được điều đó, các ngân hàng luôn tìm cách huy động vốn được nhiều hơn.
Vốn huy động sẽ đảm bảo tính thanh khoản cao, giảm thiểu rủi ro thanh toán
cho ngân hàng, giúp ngân hàng tránh được nguy cơ phá sản. Nếu nguồn vốn
của ngân hàng dồi dào, được bổ sung thường xuyên, liên tục, ngân hàng sẽ có
cơ hội thực hiện các hoạt động kinh doanh đa năng, tham gia vào nhiều lĩnh
vực khác nhau như: đầu tư chứng khoán, liên doanh liên kết, đồng tài trợ các
dự án…giúp ngân hàng phân tán rủi ro, tránh được nguy cơ phá sản. Đồng
SV: Nguyễn Thị Thùy Dung Lớp: Ngân hàng A
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Phan Thị Hạnh
thời, nếu nguồn vốn huy động ổn định, cơ cấu vốn hợp lý, phù hợp với cơ cấu
tương xứng với chi phí vốn và rủi ro mà ngân hàng phải đảm nhận khi sở hữu
các giấy tờ có giá đó. Các giấy tờ thường được ngân hàng chiết khấu là
thương phiếu, các giấy nợ như trái khoán hay hối phiếu chấp nhận thanh toán.
Sau khi chiết khấu, ngân hàng có thể giữ tài sản này tới lúc mãn hạn hoặc tiến
hành tái chiết khấu hay bán lại trên thị trường tiền tệ.
1.1.3.2. Nghiệp vụ đầu tư
Nghiệp vụ trong đó ngân hàng tiến hành mua các chứng khoán với mục
đích thu lợi từ việc sở hữu các chứng khoán này. Lợi tức bao gồm lãi của
chứng khoán do nhà phát hành đưa ra và lợi nhuận mà ngân hàng thu được
khi bán lại chứng khoán với giá cao hơn giá mua vào. Nghiệp vụ đầu tư
thường được chia thành hai nhóm: Đầu tư với mục đích thanh khoản và đầu
tư với mục đích lợi nhuận.
Với mục đích thanh khoản, ngân hàng nắm giữ chứng khoán là nhằm
tối đa hoá khả năng sinh lời của tài sản trong khi vẫn đảm bảo khả năng thanh
khoản cao. Các chứng khoán ngắn hạn thường được ưu tiên sử dụng cho mục
đích này bởi vì chúng có thể được ưu tiên sử dụng cho mục đích này bởi vì
nhu cầu thanh khoản với chi phí thấp. Các chứng khoán này đợc xem như dự
trữ thứ cấp của ngân hàng.
Ngược lại, với nhóm đầu tư với mục đích lợi nhuận, các chứng khoán
trong nhóm chủ yếu là chứng khoán dài hạn của Chính Phủ với mức lãi cao
và ngân hàng thường nắm giữ chúng cho tới ngày mãn hạn. Đây được xem là
một nguồn thu nhập quan trọng của ngân hàng.
SV: Nguyễn Thị Thùy Dung Lớp: Ngân hàng A
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Phan Thị Hạnh
1.1.3.3. Nghiệp vụ cho vay
Cho vay là một chức năng, một nhiệm vụ cơ bản nhất của hệ thống
ngân hàng thương mại. Về bản chất, với nghiệp vụ này ngân hàng chuyển
giao quyền sử dụng đối với một lượng vốn nhất định của mình cho một bên
thứ hai để đổi lấy thu nhập về lãi. Đối với ngân hàng, cho vay là nghiệp vụ
• Chứng khoán hoá tài sản
Là nghiệp vụ trong đó ngân hàng thực hiện phát hành chứng khoán đối
với những nhóm tài sản nhất định – bao gồm phần lớn là các khoản nợ.
Nghiệp vụ này mang lại cho ngân hàng các khoản thu về phí dịch vụ như dịch
vụ quản lý, giám sát, thu nợ, đồng thời nó cũng cho phép ngân hàng có thể
đẩy nhanh tốc độ quay vòng tín dụng.
• Bán nợ
Là nghiệp vụ ngân hàng tiến hành bán quyền sở hữu về thu nhập hoặc
bán quyền sở hữu hoàn toàn đối với các khoản vay của mình. Nghiệp vụ này
là một phương pháp phổ biến của các ngân hàng trong việc giải quyết các
khoản nợ khó đòi, cho phép ngân hàng có thể nhanh chóng thu hồi một phần
trị giá khoản cho vay khó đòi.
• Bảo lãnh
Với nghiệp vụ này, ngân hàng đứng ra bảo lãnh về một khả năng nào
đó - khả năng thanh toán - của bên được bảo lãnh và cam kết tiến hành thực
hiện hoặc bồi thường nếu bên bảo lãnh không thực hiện được khả năng nêu
ra. Nghiệp vụ này tạo điều kiện cho ngân hàng có thể tận dụng một cách triệt
để khả năng đánh giá, phân tích tài chính của mình trong nỗ lực tối đa hoá lợi
nhuận thu về.
SV: Nguyễn Thị Thùy Dung Lớp: Ngân hàng A
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Phan Thị Hạnh
1.2. Các hình thức huy động vốn và chỉ tiêu đánh giá hoạt động
huy động vốn của NHTM
1.2.1. Các hình thức huy động vốn của NHTM
1.2.1.1. Phân loại theo đối tượng khách hàng.
Khách hàng là nhân tố quan trọng trong hoạt động của ngân hàng. Tuy
nhiên lại bao gồm nhiều đối tượng khách nhau, rất đa dạng. Chính vì vậy
trong hoạt động của ngân hàng sẽ được tổ chức theo nhiều hình thức khác
nhau tuỳ theo đối thượng sử dụng. Đối với hoạt động huy động vốn, dựa theo
doanh nghiệp gửi tiền với mục đích thanh toán,bởi với số tiền nhãn rỗi sẽ
được hưởng lãi nếu doanh nghiệp gửi tiền gửi có kỳ hạn.
Tiền gửi của các tổ chức tín dụng khác
Trên thực tế tiền gửi của các tổ chức tín dụng khác là vốn vay của ngân
hàng thương mại đối với các tổ chức đó nhằm tạo khả năng thanh toán cho
ngân hàng. Tuy nhiên trong một số trường hợp, với những ngân hàng có một
lượng vốn huy động lớn có thể đem gửi tại các ngân hàng khác nhằm mục
đích hưởng một phần lãi hoặc được hưởng lãi điều hoà từ hội sở chính của
các ngân hàng đó. Điều này giúp ngân hàng thương mại giảm bớt được một
phần chi phí, đem lại lợi nhuận cao hơn cho ngân hàng.
1.2.1.2. Phân loại theo mục đích huy động
Nếu phân loại theo mục đích huy động thì bao gồm các hình thức sau:
Tiền gửi thanh toán
Đây là tiền của doanh nghiệp hoặc cá nhân gửi vào ngân hàng để nhờ
ngân hàng giữ và thanh toán hộ. Trong phạm vi số dư cho phép, ngân hàng sẽ
SV: Nguyễn Thị Thùy Dung Lớp: Ngân hàng A
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Phan Thị Hạnh
đáp ứng nhu cầu thanh toán cho khách hàng khi họ có yêu cầu. Nhìn chung lãi
suất của loại tiền gửi này rất thấp nhưng thay vào đó chủ tài khoản có thể
được hưởng những dịch vụ ngân hàng với mức chi phí thấp.
Tiền gửi có kỳ hạn
Nguồn vốn này thường có kỳ hạn xác định trước với một lãi suất cao
hơn so với lãi suất của tiền gửi thanh toán. Có thể nói đây là nguồn vốn có chi
phí cao nhất của ngân hàng. Đồng thời do tính ổn định cao trong kỳ hạn bởi
mục đích gửi tiền của doanh nghiệp hay các cá nhân là để hưởng lãi, các
khoản cho vay của ngân hàng chủ yếu được tài trợ bằng nguồn vốn này.
Tiền gửi tiết kiệm
Các tầng lớp dân cư đều có khoản tiền nhàn rỗi, khoản thu nhập chưa
sử dụng đến. Trong điều kiện có thể tiếp cận ngân hàng, họ đều có thể gửi tiết
động vốn khác nhau với các mục đích sử dụng khác nhau. Trong nguồn vốn
ngân hàng huy động được thì nguồn vốn huy động bằng VNĐ chiếm tỷ trọng
cao, đáp ứng các nhu cầu về sử dụng vốn của ngân hàng.
Vốn huy động bằng ngoại tệ
Ngoài huy động vốn bằng VNĐ, ngân hàng cũng tiến hành huy động
vốn bằng ngoại tệ. Số vốn huy động bằng ngoại tệ quy ra VNĐ cũng chiếm tỷ
lệ lớn trong hoạt động của ngân hàng. Mục đích huy động vốn bằng ngoại tệ
của ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán quốc tế cũng như các hoạt
động kinh doanh ngoại tệ của khách hàng cũng như ngân hàng.
Vốn huy động bằng ngoại tệ của ngân hàng chủ yếu là USD hoặc EUR.
SV: Nguyễn Thị Thùy Dung Lớp: Ngân hàng A
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Phan Thị Hạnh
1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá công tác huy động vốn của NHTM
1.2.2.1. Mục tiêu
Vốn luôn là một trong những yếu tố đầu vào cơ bản của quá trình hoạt
động kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Nếu không có vốn một doanh nghiệp
không thể thực hiện được các mục tiêu của mình nói riêng và các mục tiêu
kinh tế xã hội của Nhà nước nói chung. Đối với các NHTM, với tư cách là
một doanh nghiệp chuyên kinh doanh một hàng hoá đặc biệt là tiền tệ. Vốn là
điều kiện tiên quyết trong mọi hoạt động của ngân hàng. Các yếu tố cơ bản
của vốn trong ngân hàng như quy mô, cơ cấu thời hạn và các đặc trưng khác
của vốn quyết định đến hoạt động chủ yếu của ngân hàng, quyết định khả
năng sinh lời và sự an toàn trong hoạt động của mỗi ngân hàng.
NHTM là đơn vị chủ yếu cung cấp vốn cho nền kinh tế. Vốn của một
ngân hàng bao gồm nhiều loại: Vốn chủ sở hữu, vốn huy động, vốn đi vay, và
các nguồn vốn khác. Trong đó, vốn huy động chiếm tỷ lệ lớn nhất và có vai
trò quan trọng nhất, quyết định đến sự tồn tại và phát triển của mỗi ngân hàng.
Bởi vì nếu lượng vốn huy động không đáp ứng được nhu cầu trong hoạt động
kinh doanh, ngân hàng sẽ phải vay từ bên ngoài để tài trợ cho các danh mục
ích kèm theo, Tuy nhiện, lãi suất thực tế của từng nguồn vốn huy động đối
với ngân hàng là cao hơn bởi vì ngoài chi phí trả lãi, ngân hàng còn phải bỏ ra
nhiều loại chi phí khác nữa, chi phí phi trả lãi. Vì vậy chỉ tiêu chi phí huy
động vốn/ tổng vốn huy động được chia nhỏ ra lam hai chỉ tiêu khác. Đó là:
• Chi phí trả lãi/ tổng vốn huy động : cho thấy để huy động được một
đồng vốn thì ngân hàng cần phải trả bao nhiêu tiền dựa trên lãi suất
công bố cho khách hàng.
SV: Nguyễn Thị Thùy Dung Lớp: Ngân hàng A
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Phan Thị Hạnh
• Chi phí phi trả lãi/ tổng vốn huy động cho thấy một đồng vốn huy
động được ngân hàng bỏ ra chi phí là bao nhiêu cho việc quản lý, cất
giữ, bảo quản,
Tóm lại chi phí huy động vốn/ tổng vốn huy động được dùng để đánh
giá xem một đồng vốn ngân hàng huy động được cần phải bỏ ra bao nhiêu
chi phí.
Như vậy, khi xem xét hiệu quả huy động vốn, chi phí cho một đồng
vốn phải hợp lý, đảm bảo các khoản thu nhập có thể bù đắp được chi phí này
và có lợi nhuận cho ngân hàng. Chỉ tiêu này càng thấp thì huy động vốn càng
có hiệu quả. Tuy nhiên cũng phải thấy rằng để giảm chi phí huy động vốn thì
cần phải giảm lãi suất huy động và có các chi phí quản lý, bảo quản, dự trữ
vốn huy động một cách tối ưu nhất. Việc đưa ra một lãi suất huy động hợp lý
là rất quan trọng, lãi suất không quá cao - đảm bảo lợi ích ngân hàng, cũng
không quá thấp – thu hút được khách hàng gửi tiền. Đồng thời giảm các chi
phí phi trả lãi cũng sẽ làm cho hiệu quả của hoạt động huy động vốn của ngân
hàng hiệu quả hơn.
Chênh lệch thu chi lãi / chi phí trả lãi của ngân hàng
Mối liên hệ nguồn vốn và tài sản là mối liên liên hệ giữa huy động vốn
và sử dụng vốn. Đó là hai mặt của quá trình hoạt động của ngân hàng. Tuy
nhên, để đánh giá hiệu quả huy động vốn của ngân hàng, tức là khả năng đáp
dụng nhưng lại không đánh giá được khả năng ổn định của nguồn vốn đó sẽ
làm ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng, tạo cho ngân hàng những rủi ro
khó lường trước được. Ngược lại, nếu ngân hàng chỉ huy động được nguồn
vốn nhỏ nhưng ổn định về thời gian sẽ làm cho việc đầu tư của ngân hàng từ
nguồn vốn đó đem lại lợi nhuận cao cho ngân hàng.
Chỉ tiêu này được đánh giá qua mức độ tăng giảm vốn huy động. Nếu
SV: Nguyễn Thị Thùy Dung Lớp: Ngân hàng A
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Phan Thị Hạnh
vốn huy động tăng đều qua các năm, có tốc độ gia tăng ổn định, đều đặn thì
vốn đó được coi là có hiệu quả trong việc huy động.
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến huy động vốn cuả NHTM
1.3.1. Nhân tố khách quan
1.3.1.1. Chính sách chỉ đạo của ngân hàng Nhà nước.
NHNN ban hành các chính sách chỉ đạo về hoạt động nhằm đảm bảo các
ngân hàng thương mại hoạt động theo đúng định hướng của nó, phù hợp và thúc
đẩy sự phát triển kinh tế của đất nước. Các chính sách của Ngân hàng Nhà nước
thay đổi theo từng thời kì, tùy thuộc vào chính sách kinh tế chung của nhà nước và
sự phát triển của thị trường tài chính. Để kiểm soát việc huy động vốn của các
NHTM, NHNN có các quy định về tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất chiết khấu Tất cả
những quy định, chính sách này được áp dụng cho tất cả các NHTM nên ảnh
hưởng của chúng tới mỗi ngân hàng là rất khác nhau. Cụ thể :
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc
Các NHTM vừa phải đảm bảo tỷ lệ dữ trữ theo yêu cầu của NHNN vừa
phải đáp ứng nhu cầu cho vay nên tỷ lệ dự trữ bắt buộc cao sẽ khiến các ngân
hàng gặp khó khăn trong việc huy động vốn để cho vay. Khi đó chi phí huy
động vốn của các NHTM sẽ phải cao hơn để thu hút càng nhiều vốn càng tốt,
đồng thời vốn huy động để cho vay sẽ nhỏ hơn. Các ngân hàng nhỏ, vốn ít,
khả năng huy động hạn chế thì tỷ lệ dự trữ cao sẽ trở thành một gánh nặng
khó giải quyết.
các ngân hàng phải rất cố gắng trong việc đưa thêm những tiện ích vào sản
phẩm cũng như triển khai những chương trình huy động vốn hấp dẫn nhằm
thu hút được khách hàng. Bên cạnh đó, các ngân hàng còn bị cạnh tranh bởi
SV: Nguyễn Thị Thùy Dung Lớp: Ngân hàng A
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Phan Thị Hạnh
các tổ chức tài chính khác như : Các công ty tài chính, quỹ đầu tư, công ty
bảo hiểm…Các tổ chức này tuy không có chức năng nhận tiề gửi như ngân
hàng song lại có nhiều dịch vụ phong phú thu hút tiền đầu tư của người dân
và các doanh nghiệp. Ngày này, sự phát triển mạnh mẽ của thị trường chứng
khoán lại càng khiến cho thị trường vốn của các ngân hàng thu hẹp lại, tạo
nên sự cạnh tranh gay gắt trong việc thu hút vốn. Do vậy để có thể thu hút
được những nguồn vốn có chất lượng, các ngân hàng phải không ngừng đa
dạng hoá các sản phẩm huy động vốn và nâng cao chất lượng phục vụ để thu
hút và thoả mãn nhu cầu khách hàng.
1.3.1.4. Tâm lý, thói quên của người tiêu dùng
Tập quán tiêu dùng cũng ảnh hưởng tới nghiệp vụ tạo vốn của ngân
hàng. Nếu những vùng dân cư người ta quen sử dụng số tiền nhàn rỗi dưới
hình thức cất trữ là chính thì việc huy động vốn sẽ gặp khó khăn. Chẳng hạn
vào thời kì vàng còn có giá trị thì người ta dùng tiền nhàn rỗi đi mua vàng về
cất trữ…Còn khi người dân có nhu cầu hưởng lãi hoặc bảo quản tài sản thì họ
sẽ gửi tiền vào ngân hàng nhiều hơn. Khi đó cơ hội huy động vốn của ngân
hàng tăng lên.
Ở những nước phát triển, nhu cầu giao dịch thanh toán qua ngân hàng rất
phát triển. Hầu hết những người dân có thu nhập đều mở tài khoản để thanh toán
qua ngân hàng. Tuy nhiên ở những nước kém phát triển, thu nhập của người dân
thấp, nhu cầu giao dịch qua ngân hàng còn hạn chế nên ít người mở tài khoản tại
ngân hàng. Điều này sẽ hạn chế khả năng tạo tiền của ngân hàng thương mại,
không phát huy được tính hiệu quả của tài khoản giao dịch.
Mức thu nhập và chu kì chi tiêu của người dân cũng là những yếu tố
Điều họ quan tâm nhất là việc sử dụng các dịch vụ từ ngân hàng và loại tiền
SV: Nguyễn Thị Thùy Dung Lớp: Ngân hàng A
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Phan Thị Hạnh
gửi này gọi là tiền gửi không kì hạn. Tuy nhiên, bên cạnh bộ phận tiền gửi
không kì hạn thì vốn huy động của ngân hàng còn bao gồm cả tiền gửi có kì
hạn của doanh nghiệp và tiền gửi tiết kiệm của dân cư. Bộ phận tiền gửi này
họ gửi vào ngân hàng nhằm mục đích hưởng lãi, vì vậy lãi suất là điều họ
quan tâm và bộ phận này rất nhạy cảm với lãi suất. Ngoài ra khi chưa đủ vốn
để sử dụng thì ngân hàng còn đi vay từ các tổ chức tín dụng khác, từ Ngân
hàng Trung ương…Để tạo được nhiều vốn thì ngân hàng phải có chính sách
lãi suất hợp lí vừa đảm bảo kích thích người gửi tiền lại vừa phù hợp với lãi
suất cho vay của ngân hàng để tránh thua lỗ. Hiện nay một số ngân hàng để
thu hút khách gửi tiền đã sử dụng lãi suất rất linh hoạt như chia nhỏ lãi suất
theo các thời hạn tiền gửi khác nhau,trả lãi cho tài khoản tiền gửi không kì
hạn đồng thòi để không bị ứ đọng vốn thì họ giảm cả lãi suất cho vay. Tuy
nhiên sự tăng giảm lãi suất này chỉ giới hạn trong một biên độ nhất định để
đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng có lãi.
Hoạt động Marketing ngân hàng
Chính sách marketing có hai nhiệm vụ chính: Nắm bắt kịp thời sự thay
đổi môi trường, thị trường cũng như nhu cầu của khách hàng đối với dịch vụ
sản phẩm mà ngân hàng cung cấp; Xây dựng chính sách, giải pháp thích hợp
để thắng đối thủ cạnh tranh đạt được mục tiêu lợi nhuận. Việc nắm bắt kịp
thời sự thay đổi của môi trường, nhu cầu sẽ giúp ngân hàng đưa ra được
những sản phẩm phù hợp, linh hoạt góp phần dáp ứng được nhu cầu của
khách hàng đồng thời thu hút được lượng vốn lớn. Cũng từ việc nghiên cứu
thị trường, ngân hàng sẽ đưa ra những sản phẩm mới. Mặt khác chính sách
khuếch trương sẽ giúp người dân hiểu rõ ràng, đầy đủ về ngân hàng thông qua
phương tiện thông tin đại chúng xây dựng một hình ảnh nhân viên ngân hàng
tận tình, chu đáo, có trình độ chuyên môn, sẽ tạo lòng tin với khách hàng.
Về trình độ nghiệp vụ
Trình độ nghiệp vụ của cán bộ ngân hàng cao thì trong quá trình hoạt
động kinh doanh, mọi thao tác nghiệp vụ đều được thực hiện nhanh chóng
chính xác và có hiệu quả, từ đó ngân hàng có điều kiện mở rộng kinh doanh,
giảm thấp chi phí hoạt động và thu hút được nhiều khách hàng.
Thái độ phục vụ khách hàng
Đây là yếu tố tác động trực tiếp đến tâm lý cũng như tình cảm của
người gửi tiền. Nếu các nhân viên ngân hàng luôn cởI mở nhiệt tình trong
giao dịch với khách hàng, luôn tạo điều kiện tốt cho khách hàng thì sẽ gây
được thiện cảm và uy tín đối với họ, sẽ ngày càng có nhiều khách hàng đến
giao dịch, gửi tiền tại ngân hàng hơn.
1.3.2.3. Công nghệ thông tin
Công nghệ thông tin giữ một vai trò không thể thiếu trong hoạt động
kinh doanh của ngân hàng. Hoạt động ngân hàng luôn gắn liền với công nghệ
thông tin ở hầu hết các nghiệp vụ từ việc nhận, nhập tiền gửi, hay thanh toán
qua tài khoản khách hàng đến việc cho vay, đầu tư trên thị trường tài chính.
Hệ thống công nghệ và thông tin càng hiện đại thì càng phục vụ hữu ích cho
các hoạt động kinh doanh của ngân hàng, giúp ngân hàng tiết kiệm thời gian,
chi phí trong việc tìm kiếm, quản lý thông tin về khách hàng, thị trường cũng
như toàn bộ ngân hàng. Đồng thời một hệ thống công nghệ và thông tin tốt cũng
giúp cho việc triển khai các kế hoạch chiến lược huy động vốn của ngân hàng có
hiệu quả tốt nhất, đồng thời sẽ gây được ấn tượng tốt đẹp với khách hàng.
1.3.2.4. Mạng lưới hoạt động của ngân hàng
Với những ngân hàng sát địa bàn dân cư hoặc gần với những trung tâm
thương mại thì sẽ có thuận lợi khi thu hút vốn. Lẽ tự nhiên, khi dân chúng có
SV: Nguyễn Thị Thùy Dung Lớp: Ngân hàng A
24