Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Cuối năm 2006, Việt Nam đã chính thức trở thành một thành viên của
WTO, đánh dấu một bước tiến và một sự chuyển biến quan trọng về mọi mặt
của đất nước.Trong tiến trình gia nhập WTO, nước ta đã có những cải tổ hết
sức quan trọng, nhất là trong lĩnh vực kinh tế, đặc biệt là về thị trường tài
chính, ngân hàng. Có thể nói thị trường tài chính và hệ thống ngân hàng Việt
Nam chưa bao giờ có sự phát triển với tốc độ nhanh chóng như thời gian vừa
qua. Điều đó phù hợp với sự phát triển chung của thế giới cũng như để Việt
Nam có đủ điều kiện gia nhập WTO. Tuy nhiên, khi đã trở thành thành viên
chính thức WTO, khó khăn đối với thị trường tài chính và hệ thống ngân hàng
Việt Nam không những không giảm bớt mà còn tăng lên vì WTO không chỉ
đem đến cho nước ta cơ hội để phát triển mà còn đem đến rất nhiều những
thách thức phải đối đầu. Vận hội mới, thách thức mới đã đến đòi hỏi nền kinh
tế nói chung và thị trường tài chính, hệ thống ngân hàng nước ta nói riêng
phải liên tục đổi mới, phát triển.
Ra đời và phát triển trong giai đoạn đất nước đang có những biến chuyển
mạnh mẽ, hệ thống ngân hàng đang có nhiều cơ hội để phát triển cũng như
thách thức cần phải vượt qua như vậy, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn Thanh Xuân Nam – một chi nhánh mới được thành lập không lâu
của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Hà Tây – cũng luôn
ý thức được nhiệm vụ của mình. Công tác huy động vốn luôn được Ngân
hàng đặt lên hàng đầu. Trong hơn 7 năm hoạt động, công tác huy động vốn
của ngân hàng đã đạt được những kết quả hết sức khả quan, tuy nhiên cũng
còn một số hạn chế cần được tiếp tục cải thiện.
- 1 -
Chuyên đề tốt nghiệp
Sau một thời gian được thực tập tại NHNo&PTNT Thanh Xuân Nam -Hà
Tây, nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề huy động vốn tại ngân hàng,
em đã lựa chọn đề tài: “Một số giải pháp nhằm tăng cường công tác huy
động vốn tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
mại thường chiếm tỷ trọng lớn nhất về quy mô tài sản, thị phần và số lượng
các ngân hàng.
Theo các nhà kinh tế học thì sự ra đời của Ngân hàng thương mại trong
lịch sử là một tất yếu khách quan. Ngay từ thời kỳ xã hội chiếm hữu nô lệ đã
xuất hiện mầm mống sơ khai cho sự ra đời của Ngân hàng thương mại. Đó là
hoạt động cho vay nặng lãi. Sau đó nền sản xuất hàng hóa ra đời và khi phát
triển đến một mức độ nhất định vào đầu thế kỷ XV thì các NHTM chính thức
ra đời. Trong thời kỳ này, các NHTM hoạt động kinh doanh đa năng và đều
có các hoạt động như nhau, bao gồm: phát hành giấy bạc ngân hàng; kinh
doanh, nhận tiền gửi của khách hàng; chiết khấu và cho vay; thực hiện các
dịch vụ thanh toán khác…với mục tiêu vì lợi nhuận.Để tìm kiếm lợi nhuận,
các ngân hàng bắt đầu cạnh tranh nhau và trong quá trình cạnh tranh đó, nhều
ngân hàng bị phá sản, bị thôn tính cũng như có nhiều ngân hàng lớn dần lên.
Cùng với thời gian, sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa ngày càng phức
tạp hơn đòi hỏi các NHTM cũng phải có nhiều thay đổi phù hợp hơn để tồn
tại. Sự chuyên môn hóa trong lĩnh vực ngân hàng cũng như hậu quả của
những cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã dẫn đến sự ra đời của Ngân hàng
- 3 -
Chuyên đề tốt nghiệp
trung ương – chuyên quản lý việc phát hành tiền và thực hiện điều tiết nền
kinh tế. Điều này đã tách các NHTM ra khỏi chức năng phát hành tiền và thực
hiện chuyên sâu vào việc kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ khác. Từ lúc này,
nói đến ngân hàng, người ta hiểu có nghĩa là nói đến các NHTM.
Nền kinh tế ngày càng phát triển đòi hỏi các NHTM phải cung cấp các
dịch vụ ngày càng đa dạng và phong phú hơn. Do vậy, các nghiệp vụ ngân
hàng cũng không ngừng được cải tiến và hoàn thiện hơn.
Tóm lại, Ngân hàng hay Ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức
quan trọng đối với nền kinh tế. Có nhiều cách định nghĩa ngân hàng. Tiếp cận
theo các loại hình dịch vụ mà ngân hàng cung cấp thì ngân hàng được hiểu
như sau: Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch
gian, thông tin…nên khó có thể gặp nhau trực tiếp. Vì vậy, NHTM đứng ra
đóng vai trò là một trung gian để giúp cung cầu về vốn gặp nhau. Các NHTM
không chỉ khắc phục những khó khăn về không gian, thời gian, thông tin mà
còn có khả năng thẩm định thông tin và chia sẻ rủi ro với khách hàng. Đây là
một đặc điểm nổi bật của NHTM.
• Tạo phương tiện thanh toán:
Một trong những chức năng quan trọng của tiền là tạo phương tiện thanh
toán. Kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ nên các NHTM có chức năng tạo
phương tiện thanh toán.
Trước đây, khi chưa có Ngân hàng trung ương, các NHTM lớn, có uy tín,
có khả năng phát hành tiền của riêng mình và đưa vào lưu thông tạo ra
phương tiện thanh toán cho nền kinh tế. Khi Ngân hàng trung ương ra đời, các
NHTM không còn phát hành tiền nhưng vẫn có khả năng tạo ra phương tiện
thanh toán thông qua việc triển khai dịch vụ thanh toán qua số dư tài khoản
của khách hàng. Theo quan điểm hiện đại, khi ngân hàng cho vay, số dư trên
- 5 -
Chuyên đề tốt nghiệp
tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tăng lên, khách hàng có thể dùng
để mua hàng hóa dịch vụ. Do đó, bằng việc cho vay, các NHTM đã tạo ra
phương tiện thanh toán. Hơn nữa, toàn bộ hệ thống ngân hàng có thể tạo ra
phương tiện thanh toán lớn gấp bội thông qua các khoản tiền gửi được mở
rộng từ ngân hàng này sang ngân hàng khác theo công thức số nhân tiền tệ.
• Trung gian thanh toán:
Sự phát triển của nền kinh tế toàn cầu dẫn đến nhu cầu thanh toán liên
quốc gia, liên châu lục. Để tiến hành thanh toán được nhanh chóng, phù hợp,
chính xác, các cá nhân và tổ chức ở các nước thường thông qua ngân hàng.
Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết các
quốc gia. Thay mặt khách hàng, ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng
hóa và dịch vụ. Ngân hàng còn cung cấp đa dạng các hình thức thanh toán
cho khách hàng như thanh toán bằng: Séc, ủy nhiệm chi, L/C, các loại
ngày càng đa dạng. NHTM là tổ chức có thể đáp ứng được điều đó. NHTM
giúp con người thỏa mãn nhu cầu về tài chính, thông qua đó nâng cao mức
sống cho người dân. Ngược lại, nhu cầu ngày càng cao của con người cũng
giúp NHTM ngày càng hoàn thiện hơn trong việc cung ứng dịch vụ và thu lợi
từ phí dịch vụ.
• Vai trò thực hiện các chính sách xã hội:
Thông qua hệ thống ngân hàng, Nhà nước có thể thực hiện điều tiết vĩ
mô nền kinh tế. Các chính sách tiền tệ và tài khóa như chính sách chiết khấu,
tái chiết khấu, chính sách dự trữ bắt buộc, chính sách lãi suất, nghiệp vụ thị
trường mở... được Ngân hàng trung ương thực hiện tác động trực tiếp vào hệ
thống NHTM làm thay đổi các chính sách của các NHTM, làm thay đổi lượng
vốn cung ứng ra nền kinh tế, từ đó tác động đến toàn bộ hoạt động tiết kiệm,
chi tiêu và đầu tư của nền kinh tế. Và như vậy thúc đẩy sự tăng trưởng hoặc
- 7 -
Chuyên đề tốt nghiệp
kìm hãm sự phát triển quá nóng của nền kinh tế và thực hiện các mục tiêu xã
hội khác.
1.1.2. Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại
a) Hoạt động huy động vốn:
• Huy động vốn từ việc nhận tiền gửi
Nguồn vốn huy động thường xuyên chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng
nguồn vốn của NHTM và nó đóng một vai trò vô cùng quan trọng, không thể
thay thế để duy trì hoạt động kinh doanh của NHTM. Các NHTM thường
thực hiện huy động vốn thông qua việc nhận tiền gửi của khách hàng. Các
loại hình huy động vốn bằng tiền gửi bao gồm:
- Tiền gửi không kỳ hạn: Đây là nguồn vốn có chi phí thấp nhưng lại
không ổn định do khách hàng có thể rút tiền ra bất cứ lúc nào. Nguồn tiền này
chủ yếu được gửi vào nhằm sử dụng các dịch vụ thanh toán của ngân hàng,
tạo điều kiện cho ngân hàng phát triển các dịch vụ thanh toán và đem lại
nguồn thu từ phí dịch vụ cho ngân hàng.
là tấm đệm bảo vệ cho các hoạt động đó và tạo điều kiện cho ngân hàng mở
rộng, phát triển các hoạt động của mình đồng thời góp phần nâng cao vị thế
của ngân hàng trên thương trường. Ngân hàng thường tạo vốn tự có thông qua
các nguồn sau: thông qua nguồn vốn nội bộ; thông qua phát hành cổ phiếu,
trái phiếu.
• Các nghiệp vụ nguồn vốn khác
Ngoài các nguồn vốn trên, NHTM còn có các nguồn vốn khác, đó là:
Vốn ủy thác đầu tư, vốn tài trợ, vốn trong thanh toán...
b) Hoạt động sử dụng vốn:
• Tín dụng:
- 9 -
Chuyên đề tốt nghiệp
Đây là nghiệp vụ chiếm tỷ trọng lớn nhất trong các nghiệp vụ của
NHTM về mặt giá trị, đồng thời nó là nghiệp vụ đem lại nguồn thu, lợi nhuận
chủ yếu cho ngân hàng (chiếm từ 70 - 90% thu nhập của ngân hàng). Tuy
nhiên, các NHTM đang có xu hướng làm giảm tỷ trọng về lợi nhuận của hoạt
động tín dụng mà phát triển các loại hình dịch vụ khác, nhất là các dịch vụ
hiện đại để tăng doanh thu.
- Mặt khác, đây cũng là nghiệp vụ chứa đựng nhiều rủi ro nhất
đối với ngân hàng. Vì vậy, ngân hàng cần phải thực hiện tốt
công tác thẩm định trước, trong và sau khi cho vay để hạn chế
rủi ro xuống mức tối thiểu, đảm bảo sự an toàn của các khoản
tín dụng, tránh gây mất vốn, thất thoát vốn của ngân hàng.
• Quản lý ngân quỹ
Nghiệp vụ quản lý ngân quỹ của một NHTM thường bao gồm quản lý dự
trữ bắt buộc và quản lý đảm bảo khả năng thanh toán.
+ Quản lý dự trữ bắt buộc: Mục đích là để đáp ứng yêu cầu về mặt pháp lý
do Ngân hàng Trung ương đề ra. Ngân hàng Trung ương quy định tỷ lệ dự trữ
bắt buộc trên tổng tiền gửi đối với các NHTM, tỷ lệ này thay đổi theo chính
sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương. Mặt khác, mục đích mà Ngân hàng
bán ngoại tệ thường được ngân hàng thực hiện với các loại ngoại tệ mạnh và
thực hiện ở thị trường liên ngân hàng trong nước và thế giới. Nghiệp vụ này
đòi hỏi ngân hàng phải có chuyên môn cao cũng như sự nhanh nhạy với thị
trường.
• Tài trợ cho các hoạt động của Chính phủ
- 11 -
Chuyên đề tốt nghiệp
Trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình, các NHTM cũng thường
tài trợ cho các hoạt động của Chính phủ theo sự yêu cầu của Chính phủ hoặc
có sự tự nguyện từ phía ngân hàng.
c) Các hoạt động khác:
• Bảo quản vật có giá.
• Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán.
• Cho thuê thiết bị trung và dài hạn.
• Cung cấp các dịch vụ ủy thác và tư vấn đầu tư.
• Cung cấp dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán.
• Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm.
• Cung cấp các dịch vụ đại lý.
1.2. Nguồn vốn của Ngân hàng thương mại
Để có thể tiến hành hoạt động kinh doanh, bất kỳ doanh nghiệp nào cũng
phải có vốn. NHTM cũng vậy, NHTM thực hiện kinh doanh trong lĩnh vực
tiền tệ nên đòi hỏi phải có một lượng vốn lớn, đa dạng hơn các doanh nghiệp
khác. Vốn đối với NHTM rất quan trọng. Nó quyết định quy mô, khả năng
sinh lời, xu hướng hoạt động và phát triển của ngân hàng. Một NHTM thường
có các loại vốn sau:
1.2.1. Vốn chủ sở hữu
a) Khái niệm
Để bắt đầu hoạt động ngân hàng, chủ ngân hàng phải có một lượng vốn
nhất định. Đây là loại vốn mà ngân hàng có thể sử dụng lâu dài, hình thành
nên trang thiết bị, nhà cửa của ngân hàng.
ổn định và bền vững. VCSH của ngân hàng cần phải được phát triển tương
xứng với sự tăng trưởng của danh mục cho vay và những tài sản rủi ro khác
cũng như quy mô của ngân hàng. Do đó, VCSH - tấm đệm dùng để chống đỡ
- 13 -
Chuyên đề tốt nghiệp
những thua lỗ - cần phải được củng cố, bổ sung tương xứng với quy mô và rủi
ro của ngân hàng.
c) Nguồn hình thành vốn chủ sở hữu
Nguồn hình thành và nghiệp vụ hình thành loại vốn này đa dạng tùy theo
tính chất sở hữu, năng lực tài chính của chủ ngân hàng, yêu cầu và sự phát
triển của thị trường, nhìn chung bao gồm:
• Vốn điều lệ (nguồn vốn hình thành ban đầu):
Cũng như hầu hết các doanh nghiệp khác, để thành lập và đi vào hoạt
động, chủ sở hữu NHTM phải bỏ ra vốn đầu tư ban đầu và được ghi vào điều
lệ doanh nghiệp, được gọi là vốn điều lệ. Vốn điều lệ của NHTM phải lớn
hơn hoặc bằng vốn pháp định, mức vốn tối thiểu mà luật pháp quy định để
thành lập ngân hàng. Tùy theo tính chất của ngân hàng mà nguồn gốc hình
thành vốn ban đầu khác nhau. Nếu là ngân hàng thuộc sở hữu Nhà nước, vốn
do ngân sách Nhà nước cấp (vốn của Nhà nước). Nếu là ngân hàng cổ phần,
vốn do các cổ đông đóng góp thông qua mua cổ phần hoặc cổ phiếu. Nếu là
ngân hàng liên doanh, vốn do các bên liên doanh góp. Nếu là ngân hàng tư
nhân, vốn do tư nhân bỏ ra.
Vốn điều lệ của mỗi ngân hàng không được nhỏ hơn vốn pháp định. Ở
Việt Nam, mức vốn pháp định do Ngân hàng Nhà nước quy định. Còn số vốn
điều lệ sẽ khác nhau tùy thuộc vào chủ sở hữu của ngân hàng đó. Vốn điều lệ
của ngân hàng thuộc sở hữu và ngân hàng có toàn quyền sử dụng và định đoạt
theo quy định của pháp luật.
• Nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động:
Trong quá trình hoạt động, ngân hàng gia tăng vốn của chủ theo nhiều
phương thức khác nhau tùy thuộc vào điều kiện cụ thể.
hạn.
- 15 -
Chuyên đề tốt nghiệp
1.2.2. Vốn huy động
a) Khái niệm:
Hoạt động huy động vốn là hoạt động cơ bản nhất của ngân hàng, không
một ngân hàng nào có thể tồn tại và phát triển nếu không có hoạt động huy
động vốn. Bởi NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ nên nguồn vốn của
ngân hàng là một yếu tố quyết định tới quy mô hoạt động. Uy tín và khả năng
cạnh tranh trên thị trường của ngân hàng. Hoạt động huy động vốn được ví
như nguồn nguyên liệu đầu vào cho quá trình tạo ra các sản phẩm của ngân
hàng.
Thực chất, hoạt động huy động vốn là hoạt động thu hút nguồn vốn nhàn
rỗi của các cá nhân, các tổ chức kinh tế - xã hội dưới dạng tiền gửi tiết kiệm,
tiền gửi thanh toán hoặc phát hành các chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và các
giấy tờ có giá khác. Trong đó, hoạt động nhận tiền gửi chiếm tỷ trọng lớn nhất
và đóng vai trò quan trọng nhất trong tổng nguồn vốn huy động của ngân
hàng.
b) Vai trò của huy động vốn
• Đối với nền kinh tế
Vai trò to lớn nhất của hoạt động huy động vốn của NHTM đối với nền
kinh tế là nâng cao được hiệu quả sử dụng các nguồn vốn thông qua động tác
tập hợp các nguồn vốn nhỏ lẻ, nhà rỗi hoặc tạm thời nhàn rỗi, hoạt động chưa
hiệu quả thành các nguồn vốn có quy mô lớn, đáp ứng các yêu cầu về sử dụng
vốn của các chủ thể có dự án hoặc kế hoạch sử dụng vốn với hiệu quả kinh tế
cao hơn. Thực hiện nghiệp vụ huy động vốn kết hợp với sự phân bổ lại các
nguồn vốn vào nền kinh tế, NHTM đã đảm bảo hiệu quả hoạt động của nền
- 16 -
Chuyên đề tốt nghiệp
kinh tế, đồng thời giảm thiểu chi phí vốn cho nền kinh tế. Mức độ giảm thiểu
nhiên là nguồn vốn chủ yếu quan trọng nhất, giúp ngân hàng thực hiện các
hoạt động kinh doanh của mình. Quy mô, cơ cấu vốn huy động sẽ trực tiếp
quyết định khả năng cho vay của một ngân hàng. Các ngân hàng không thể
cho vay lớn, kỳ hạn dài trong điều kiện vốn huy động nhỏ, ngắn hạn, không
ổn định.
Hoạt động huy động vốn của NHTM góp phần tạo nên uy tín, sức mạnh
của ngân hàng. Một trong những chỉ tiêu để đánh giá khả năng cạnh tranh của
ngân hàng là tổng nguồn vốn, trong đó có vốn huy động. Nguồn vốn càng lớn,
ngân hàng càng có điều kiện để tăng khả năng cạnh tranh, có sức để duy trì
các chiến lược cạnh tranh của mình. Dưới con mắt của hầu hết khách hàng ,
tổng nguồn vốn của ngân hàng lớn có nghĩa là ngân hàng đó lớn và đáng tin
cậy. Do vậy, ngân hàng có vốn lớn thường rất thuận lợi trong các hoạt động
của mình vì chiếm được lòng tin của công chúng.
Hoạt động huy động vốn giúp tăng cường và mở rộng mối quan hệ giữa
khách hàng với ngân hàng. Qua mối quan hệ này, ngân hàng có cơ hội tìm
hiểu về khách hàng của mình và cũng có cơ hội tuyên truyền, quảng bá về
ngân hàng của mình cho khách hàng. Điều này sẽ tạo cơ hội cung cấp các
dịch vụ ngân hàng cho nhiều khách hàng hơn với độ thỏa dụng ngày càng
cao.
Tóm lại, hoạt động huy động vốn của NHTM có quan hệ chặt chẽ và
mang tính hai chiều với tất cả các hoạt động khác của ngân hàng. Hoạt động
huy động vốn được làm tốt sẽ tác động tích cực tới các hoạt động khác của
ngân hàng và ngược lại. Do vậy cần đảm bảo tất cả các hoạt động của ngân
hàng phải được thực hiện tốt và kết hợp được với nhau một cách tối ưu nếu
muốn NHTM hoạt động hiệu quả.
- 18 -
Chuyên đề tốt nghiệp
c) Các hình thức huy động vốn của Ngân hàng thương mại
Huy động vốn là một hoạt động vô cùng quan trọng đối với bất kỳ một
NHTM nào. Để huy động được vốn, các ngân hàng thương mại áp dụng rất
Các tổ chức kinh tế thường gửi tiền vào ngân hàng dưới hai hình thức:
+ Tiền gửi không kỳ hạn:
Đây là loại tiền gửi mà khi gửi tiền vào, người gửi tiền có thể rút tiền ra
bất cứ lúc nào để sử dụng và ngân hàng luôn có trách nhiệm phải thỏa mãn
nhu cầu rút tiền đó một cách nhanh chóng, chính xác và đầy đủ. Nếu không
thực hiện được, ngân hàng sẽ bị coi là vi phạm hợp đồng và phải bồi thường
thiệt hại theo quy định của pháp luật.
Đối với tổ chức gửi tiền thì mục đích chính là để thông qua đó sử dụng
các dịch vụ thanh toán của ngân hàng. Ngoài ra loại tiền gửi này vẫn được
hưởng một mức lãi nhất định nên cũng góp phần tăng thu nhập cho người gửi
tiền. Mặt khác, người gửi tiền được chủ động trong việc rút tiền nên vẫn đáp
ứng được nhu cầu về vốn kinh doanh khi cần thiết.
Đối với NHTM, tiền gửi không kỳ hạn có chi phí trả lãi thấp nhưng chi
phí phi trả lãi cao (chi phí quản lý...) nên ngân hàng thường thu phí cho các
dịch vụ thanh toán qua tiền gửi không kỳ hạn này. Tỷ trọng của nguồn tiền
gửi trong các NHTM thường cao nên ngân hàng nào thu hút được nhiều tiền
gửi không kỳ hạn thì sẽ có được chênh lệch lãi suất lớn. Vì vậy, trên thực tế,
các NHTM thường lôi kéo các khách hàng lớn như bảo hiểm, dầu khí, kho
bạc... mở tài khoản thanh toán tại ngân hàng mình để thu hút được một lượng
tiền khổng lồ với lãi suất thấp và khi thực hiện thanh toán sẽ thu được nhiều
phí dịch vụ. Mặc dù tiền gửi không kỳ hạn là nguồn có thời hạn rất ngắn
nhưng giữa việc gửi vào và rút ra vấn có sự chênh lệch về thời gian và thực tế
- 20 -
Chuyên đề tốt nghiệp
ở các NHTM tài khoản này luôn có số dư nên ngân hàng vẫn có thể sử dụng
nguồn này, tiến hành chuyển hoán kỳ hạn nguồn để kinh doanh.
Loại tiền gửi không kỳ hạn này được huy động dưới hai hình thức:
Huy động vốn qua các tài khoản tiền gửi phi giao dịch:
Đây là các khoản tiền tạm thời nhàn rỗi của khách hàng được gửi vào
ngân hàng nhưng không nhằm mục tiêu giao dịch mà chủ yếu là để bảo toàn
một cách chủ động để kinh doanh. Tuy nhiên đây là một nguồn tương đối đắt
do lãi suất phải chi trả cho nguồn này thường cao. Để thu hút thêm nguồn
này, các NHTM thừong đưa ra rất nhiều các loại kỳ hạn khác nhau như: 3
tháng, 6 tháng, 12 tháng, 18 tháng, 24 tháng, 3 năm, 5 năm với mức lãi suất
hấp dẫn tăng theo kỳ hạn gửi.
- Tiền gửi của dân cư:
Đây là khoản tiền nhàn rỗi của các tầng lớp dân cư gửi tại ngân hàng.
Loại tiền gửi này chủ yếu bao gồm các loại sau:
+ Tiền gửi tiết kiệm:
Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền nhàn rỗi của dân cư gửi vào ngân hàng
với mục đích bảo toàn và sinh lời. Loại tài khoản này không được sử dụng các
dịch vụ thanh toán của ngân hàng. Đây là hình thức huy động truyền thống
của ngân hàng và chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng nguồn huy động của
ngân hàng. Trong hình thức này, người gửi tiền được trao một quyển sổ tiết
kiệm, sổ này được coi là giấy chứng nhận có tiền gửi vào quỹ tiết kiệm của
ngân hàng, đồng thời cũng là chứng từ xác nhận khoản nợ của ngân hàng đối
với người gửi tiền. Sổ tiết kiệm này không dùng để thanh toán tiền hàng hóa
dịch vụ nhưng có thể sử dụng để vay vốn nếu được ngân hàng cho phép.
- 22 -
Chuyên đề tốt nghiệp
Đối với người gửi tiền thì đây là một cơ hội để bảo toàn vốn và sinh lời
mà không cần phải thực hiện đầu tư và mức độ rủi ro không cao. Người gửi
tiền mong muốn đến một khoảng thời gian nhất định sẽ tích góp, dành dụm
được một số tiền để đảm bảo cho những vấn đề của cuộc sống.
Đối với ngân hàng, đây là một nguồn huy động lớn, độ ổn định thường
cao bởi vì kỳ hạn thường dài và khi hết kỳ hạn khách hàng thường có xu
hướng mở tiếp một kỳ hạn mới. Nó tạo điều kiện thuận lợi cho kỹ thuật
chuyển hoán kỳ hạn nguồn, cho phép ngân hàng chủ động kinh doanh và đầu
tư vào những dự án có thời hạn dài. Tuy nhiên đây là một nguồn đắt và lãi
suất của nó cao, cao hơn mức lãi suất trả cho tiền gửi của các tổ chức.
• Vốn huy động từ tiền vay:
Tiền gửi là nguồn quan trọng nhất của NHTM. Tuy nhiên, khi cần ngân
hàng thường vay mượn thêm. Tại nhiều nước, Ngân hàng Trung ương thường
quy định tỷ lệ giữa nguồn huy động và vốn của chủ. Do vậy, nhiều ngân hàng
vào những giai đoạn cụ thể phải vay mượn thêm để đáp ứng nhu cầu chi trả
khi khả năng huy động bị hạn chế.
Tỷ trọng của loại nguồn vốn này trong tổng nguồn thường thấp hơn nguồn
tiền gửi. Các khoản đi vay thường với thời hạn và quy mô xác định trước, do
vậy tạo thành nguồn ổn định cho ngân hàng. Khác với nhận tiền gửi, ngân
hàng không nhất thiết phải đi vay thường xuyên mà ngân hàng chỉ vay lúc cần
thiết. Ngân hàng hoàn toàn chủ động quyết định khối lượng vay phù hợp với
nhu cầu sử dụng. Nguồn vay có thể không phải chịu dự trữ bắt buộc và bảo
hiểm tiền gửi. Tuy nhiên, do rủi ro lớn hơn nên lãi suất phải trả cho tiền vay
thường lớn hơn lãi suất trả cho tiền gửi cùng kỳ hạn.
Các nguồn vay mà NHTM có thể huy động là:
- 24 -
Chuyên đề tốt nghiệp
- Vay từ Ngân hàng Nhà nước (Ngân hàng Trung ương):
Đây là khoản vay nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách trong chi trả của
NHTM. Trong trường hợp thiếu hụt dự trữ (dự trữ bắt buộc hoặc dự trữ thanh
toán), NHTM thường vay Ngân hàng Nhà nước. Hình thức cho vay chủ yếu
của Ngân hàng Nhà nước là tái chiết khấu (hoặc tái cấp vốn). Các thương
phiếu đã được các NHTM chiết khấu (hoặc tái chiết khấu) trở thành tài sản
của họ. Khi cần tiền, ngân hàng mang các thương phiếu này lên tái chiết khấu
tại Ngân hàng Nhà nước. Nghiệp vụ này làm thương phiếu của NHTM giảm
đi và dự trữ (tiền mặt hoặc tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước) tăng lên. Ngân
hàng nhà nước điều hành việc vay mượn này một cách chặt chẽ, NHTM phải
thực hiện các điều kiện đảm bảo và kiểm soát nhất định. Thông thường Ngân
hàng Nhà nước chỉ tái chiết khấu cho những thương phiếu có chất lượng (thời
gian đóa hạn ngắn, khả năng trả nợ cao) và phù hợp với mục tiêu của Ngân