1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài.
Thời gian qua, một trong những tranh chấp, khiếu kiện đất đai phức tạp, nóng bóng và phổ
biến nhất là tranh chấp liên quan đến việc bồi thường thiệt hại (BTTH) khi Nhà nước thu hồi
đất (NNTHĐ) để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công
cộng, phát triển kinh tế (sau đây gọi chung là BTTH khi NNTHĐ). Đây là loại tranh chấp
xoay quanh việc giải quyết mối quan hệ về lợi ích kinh tế giữa Nhà nước (NN), người bị thu
hồi đất (NBTHĐ) và người đầu tư. Cùng với việc chuyển đổi nền kinh tế sang cơ chế thị
trường và sự đổi mới cơ chế, chính sách quản lý đất đai của NN, đất đai đã được trả lại giá
trị vốn có và trở thành tài sản vô cùng quý giá của xã hội. Bên cạnh đó, tốc độ phát triển
mạnh mẽ của nền kinh tế nhằm thực hiện thành công sự nghiệp CNH – HĐH đất nước, đặt
ra nhu cầu phải cung cấp một quỹ đất lớn cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng, các khu công
nghiệp, khu kinh tế và khu công nghệ cao…Để giải quyết "bài toán » này, một trong những
biện pháp mà NN thực hiện là thu hồi đất (THĐ) của người đang sử dụng. Tuy nhiên, khó
khăn, vướng mắc nổi lên khi NNTHĐ là việc xử lý, giải quyết mối quan hệ lợi ích của NN,
của NBTHĐ và người đầu tư. Không phải ở đâu, bất kể lúc nào, lợi ích của NN,
củaNBTHĐ và của nhà đầu tư cũng gặp nhau, thống nhất với nhau. Trong rất nhiều trường
hợp THĐ, các lợi ích này không thống nhất với nhau, thậm chí đối lapạ nhau dẫn đến phát
sinh các tranh chấp, khiếu kiện kéo dài và rất phức tạp.
Ở một mức độ nhất định, có thể nói tranh chấp, khiếu kiện về BTTH khi NNTHĐ đã gây
nên sự mất ổn định trật tự xã hội, ảnh hưởng lớn đến tiến độ thực hiện của nhiều dự aná.
Việc đi tìm ra nguyên nhân và đề ra các giảipháp nhằm giải quyết những khó khăn, bất cập
trong BTTH khi NNTHĐ có ý nghĩa quan trọng trên các phương diện chính trị, kinh tế và xã
hội, góp phần vào việc duy trì sự ổn định trật tự an tòan xã hội, tạo điều kiện thúc đẩy sự
tăng trưởng kinh tế.
Ở một góc độ khác, NN ngày càng quan tâm đến việc rà soát, sửa đổi, bổ sung và hòan thiện
hệ thống pháp luật đất đai nói chung và các quy định về BTTH khi NNTHĐ nói riêng cho
phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn. Minh chứng sinh động nhấtlà việc Quốc hội khóa XI, tại
kì họp thứ 4, ngày 26/11/2003, đã thông qua Luật đất đai mới – LĐĐ năm 2003. Một trong
những nội dung quan trọng của LĐĐ năm 2003 là sửa đổi, bổ sung các quy định về BTTH
khi NNTHĐ. mặc dù LĐ Đ năm 2003 đã triển khai thi hành khá lâu nhưng các quy định về
BTTH khi NNTHĐ lại chậm đi vào cuộc sống. Các khiếu kiện, tranh chấp về BTTH khi
được NN giải quyết các vấn đề mang tính xã hội như giải quyết chỗ ở, đào tạo chuyển
đổi nghề nghiệp, bố trí sắp xếp công ăn việc làm… để ổn định đời sống và sản xuất.
- Trong nền kinh tế thị trường dưới tác động của các quy luật khách quan, việc BTTH khi
NNTHĐ không thể giải quyết dựa trên biện pháp hành chính thuần túy mà phải sựdụng
các biện pháp kinh tế. Hơn nữa, đất đai là một vấn đề phức tạp, nhạy cảm có ý nghĩa
trên các khía cạnh chính trị, kinh tế, xã hội. Vì vậy cần giải quyết hài hòa mối quan hệ
về lợi ích kinh tế giữa NN, người bị THĐ và người được hưởng lợi từ việc THĐ thông
qua việc sử dụng tổng hợp các biện pháp từ vận động, giáo dục, thuyết phục đến các
biện pháp hành chính,kinh tế, cưỡng chế…
2. Mục đích và ý nghĩa của việc BTTH khi NNTHĐ
2.1. Mục đích
2.2. Ý nghĩa.
- Việc BTTH khi NNTHĐ nhằm bồi hoàn cho người SDĐ những thành quả lao động,
kết quả đầu tư mà họ bị thiệt hại do việc THĐ gây ra. Điều này góp phần thực hiện các
quyền của người SDĐ được pháp luật ghi nhận và bảo hộ, qua đó tăng cường tính pháp
chế trong hoạt động của NN ;
- Việc BTTH khi NNTHĐ không chỉ bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người SDĐ
mà còn góp phần vào việc duy trì ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hôi. Bởi lẽ, giải
quyết tốt việc BTTH khi NNTHĐ sẽ không làm phát sinh các tranh chấp, khiếu kiện đất
đai kéo dài, duy trì sự ổn định của các quan hệ xã hội đã được xác lập ;
- Thông qua việc BTTH khi NNTHĐ, giúp cho đội ngũ cán bộ, công chức NN có thẩm
quyền giải quyết việc BT nâng cao được ý thức phục vụ nhân dân, tôn trọng và lắng
nghe ý kiến, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân. Trên cơ sở đó giải quyết tốt mọi quyền
lợi cho người dân. Mặt khác, thông qua việc BTTH khi NNTHĐ góp phần tăng thêm
niềm tin của người dân vào Đảng, vào chế độ ;
- Giải quyết tố việc BTTH khi NNTHĐ góp phần vào việc thực hiện các chính sách lớn
của đảng và NN : chính sách phát triển kinh tế, chính sách xã hội… thông qua việc giải
quyết hài hòa các lợi ích của NN, của người sử dụng đất, các doanh nghiệp và nhà đầu
tư ;
- Giải quyết tốt việc BTTH khi NNTHĐ sẽ tạo ra sự nhất trí cao của người dân, sự đồng
không phải trả tiền BT, hỗ trợ, tái định cư, trường hợp đã chi trả thì được trừ số tiền đã
trả vào tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất phải nộp. (Quy định này nhằm tăng cường
tính hấp dẫn của môi trường đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình đầu tư sản xuất
– kinh doanh của các chủ thể này)
- Chi phí BT, hỗ trợ, tái định cư được xác định thành một mục riêng trong tổng vốn đầu tư
của dự án
2. Nguyên tắc bồi thường
Pháp luật hiện hành quy định việc BT đất dựa trên các nguyên tắc sau:
- NHTHĐ đất có đủ điều kiện quy định tại Điều 8 của NĐ số 197/2004/NĐ – CP được
BT thì UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là NBND cấp tỉnh)
xem xét để hỗ trợ ;
Quy định việc xem xét hỗ trợ trong trường hơp NBTHĐ không có đủ điều kiện để
được BT xuất phát từ tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa. Việc NN nước hỗ trợ cho
NBTHĐ nhămg giúp đỡ một phần những rủi ro mà họ phải gánh chịu ; đồng thời, giúp họ
nhanh chóng ổn định cuộc sống và sản xuất;
- NBTHĐ đang sử dụng đất vào mục đích nào thì được BT bằng việc giao đất mới có
cùng mục đích sử dụng ; nếu không có đất để BT thì được BT bằng giá trị quyền SDĐ
tại thời điểm có quyết định TH ; trường hợp BT bằng việc giao đất mới hoặc bằng nhà
ở, nếu có chênh lệch về giá trị thì phần chênh lệch đó được thực hiện thanh toán bằng
tiền;
Trên thực tế, việc thực hiện nguyên tắc này còn gặp nhiều khó khăn, bởi pháp luật chưa xác
lập một cơ chế rõ ràng để bảo vệ quyền lợi cho người có đất bị TH. Việc BT bằng đất còn
bộc lộ nhiều bất cập như thửa đất mới được BT có giá trị tương xứng với diện tích đất bị
TH; hoặc xác định giá của thửa đất bị TH thấp trong khi đó lại áp giá đối với đất được BT
quá cao. Chẳng hạn như ở Nam Trường, Nam Định, những NBTHĐ không được ưu tiên trả
bằng đất, trong khi đó quỹ đất vẫn còn. Ngược lại, đất này lại đựoc bán cho những người
không bị THĐ.
Theo LĐĐ NĂM 1998 và NĐ số 22/1998/NĐ-CP, thì NNTHĐ khi dự án đầu tư đã được cơ
quan NN có thẩm quyền xét duyệt. Trên thực tế, trong rất nhiều trường hợp, NBTHĐ không
chấp nhận giá BT theo mục đích SDĐ hiện tại mà đòi được BT với giá của khu đất sau khi
đất đai ;
- HGĐ, cá nhân đang SD Đ ổn định, được NBND xã, phường, thị trấn xác nhận không có
tranh chấp mà có một trong các loại giấy tờ sau đây:
• Những giấu tờ về quyền được SD Đ đai trước ngày 15/10/1992 do cơ quan có
thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của NN Việt Nam
dân chủ công hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt
Nam và NN cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
• GCNQSDĐ tạm thời được cơ quan NN có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ
đăng ký ruộng đất, sổ địa chính;
• Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng, cho quyền SD Đ hoặc tài sản gắn liền với
đất ; giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất ;
• Giấy tờ chuyển nhượng quyền SD Đ, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước
ngày 15/10/1993, nay được UBND cấp xã xác nhận là đất sử dụng trước ngày
15/10/1993 ;
• Giấy tờ về thanh lý, hóa giá nhà ở, mua nhà ở gắn liền với đất theo quy định của
pháp luật ;
• Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người SD Đ.
- HGĐ, cá nhân đang SD Đ có một trong các loại giấy tờ quy định tại điểm 3 trên đâu mà
trên giấy tờ ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển nhượng quyền SD Đ có
chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến thời điểm có quyết định THĐ chưa thực
hiện thủ tục chuyển quyền SD Đ theo quy định của pháp luật, nay được UBND cấp xã
xác nhận là đất không có tranh chấp.
- HGĐ, cá nhân đang SD Đ có hộ khẩu thường trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất
nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế -
xã hội khó khăn ở miền núi, hải đảo, nay được NBND cấp xã nơi có đất xác nhận là
người đã SD Đ ổn định, không có tranh chấp.
- HGĐ, cá nhân đang SD Đ không có các loại giấy tờ quy định tại điểm 1,2,3 trên đây,
nhưng đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 15/10/1993, nay được UBND cấp xã xác
nhận là đất đó không có tranh chấp.
- HGĐ, cá nhân đang SD Đ theo bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định