Đấy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ - Pdf 26

GVHD : PGS.TS Nguyễn Văn Tuấn Khoa Thương mại và Kinh tế quốc tế
SV: KHổng Thị Kim Nghĩa Lớp : TMQT50
GVHD : PGS.TS Nguyễn Văn Tuấn Khoa Thương mại và Kinh tế quốc tế
DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1. Kim ngạch xuất khẩu nông sản giai đoạn 1996 - 2000 14
Bảng 1.2. Kim ngạch xuất khẩu nông sản trong giai đoạn 2001 - 2008 16
Bảng 2.1. Kim ngạch xuất khẩu nông sản sang Hoa Kỳ giai đoạn 1996-2000
Error: Reference source not found
Bảng 2.2. Kim ngạch xuất khẩu nông sản sang Hoa Kỳ giai đoạn 2000-2009 26
SV: KHổng Thị Kim Nghĩa Lớp : TMQT50
GVHD : PGS.TS Nguyễn Văn Tuấn Khoa Thương mại và Kinh tế quốc tế
LỜI MỞ ĐẦU
Tính tất yếu của đề tài
Chúng ta đã biết Việt Nam là một quốc gia đi lên từ nền kinh tế nông
nghiệp lạc hậu và đang phát triển theo xu hướng công nghiệp hóa hướng vào
xuất khẩu. Hiện nay Việt Nam đang thực hiện chính sách đa dạng các mặt hàng
xuất khẩu đặc biệt những sản phẩm đã qua chế biến trong đó nông nghiệp vẫn
là một trong những ngành nghề quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát
triển nền kinh tế Việt Nam. Và việc kết hợp phát triển sản xuất nông nghiệp và
xuất khẩu nông sản đóng góp một phần không nhỏ trong sự phát triển chung
của nền kinh tế đất nước. Thời gian qua, hoạt động xuất khẩu nông sản của
Việt Nam đã có những bước tiến lớn như mở rộng thị trường ra khoảng 50
nước và vùng lãnh thổ trên thế giới như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc,
Đông Âu, các nước ASEAN Trong đó, Hoa Kỳ là một thị trường đầy tiềm
năng nhưng cũng đầy thách thức đối với nước ta. Hoạt động xuất khẩu nông
sản sang Hoa Kỳ trong những năm gần đây đã có những thành tựu nhất định
như sự tăng trưởng về kim ngạch xuất khẩu cũng như về chủng loại sản phẩm.
Và Hoa Kỳ ngày càng trở thành một đối tác quan trọng trong lĩnh vực thương
mại của Việt Nam đặc biệt là hoạt động xuất khẩu nông sản sang thị trường
này. Do đó, em đã chọn đề tài nghiên cứu :“ Đấy mạnh hoạt động xuất khẩu

được diễn ra trên phậm vi một quốc gia hay nhiều quốc gia khác nhau.
Hoạt động xuất khẩu mang lại nhiều lợi ích cho quốc gia. Nó không chỉ
đem lại lợi ích cho các doanh nghiệp mà còn góp phần thúc đẩy mạnh sản xuất
trong nước nhờ tích luỹ từ khoản thu ngoại tệ cho đất nước, phát huy tính sáng
tạo của các đơn vị kinh tế thông qua cạnh tranh quốc tế. Kinh doanh xuất nhập
khẩu còn là phương tiện để khai thác các lợi thế về tự nhiên, vị trí địa lý, nhân
lực và các nguồn lực khác. Ngoài ra hoạt động xuất khẩu còn thúc đẩy quan hệ
hợp tác quốc tế giữa các nước và đẩy mạnh tiến trình hội nhập nên kinh tế toàn
cầu
2.2 Vai trò của hoạt động xuất khẩu
SV: KHổng Thị Kim Nghĩa Lớp : TMQT50
GVHD : PGS.TS Nguyễn Văn Tuấn Khoa Thương mại và Kinh tế quốc tế
Từ xa xưa con người đã ý thức được lợi ích lợi ích của hoạt động trao đổi
mua bán giữa các quốc gia và đó là khởi nguồn cho các lý thuyết về xuất khẩu
Các lý thuyết về xuất khẩu
Lý thuyết của Adam Smith về lợi thế tuyệt đối.
Lý thuyết này ra đời vào thế kỷ thứ 18. Theo quan điểm về lợi thế tuyệt
đối của nhà kinh tế học Adam Smith, một quốc gia chỉ sản xuất các loại hàng
hoá, mà việc sản xuất này sử dụng tốt nhất, hiệu quả nhất các tài nguyên sẵn có
của quốc gia đó. Đây là một trong những giải thích đơn giản về lợi ích của
thương mại quốc tế nói chung và xuất khẩu nói riêng. Nhưng trên thực tế việc
tiến hành trao đổi phải dưa trên nguyên tắc đôi bên cùng có lợi. Nếu trong
trường hợp một quốc gia có lợi và một quốc gia khác bị thiết thì họ sẽ từ chối
tham gia vào hợp đồng trao đổi này.
Tuy nhiên, lợi thế tuyết đối của Adam Smith cũng giải thích được một
phần nào đó của việc đem lại lợi ích của xuất khẩu giữa các nước đang phát
triển. Với sự phát triển mạmh mẽ của nền kinh tế toàn cầu mầy thập kỷ vừa qua
cho thấy hoạt động xuất khẩu chủ yếu diễn ra giữa các quốc gia đang phát triển
với nhau, điều này không thể giải thích bằng lý thuyết lợi thế tuyệt đối. Trong
những cố gắng để giải thích các cơ sở của thương mại quốc tế nói chung và

lao động sẽ sản xuất hàng hoá sử dụng nhiều lao động và nhập khẩu những
hàng hoá sử dụng nhiều vốn.
Về bản chất học thuyết Hecksher- Ohlin căn cứ về sự khác biệt về tình
phong phú và giá cả tương đối của các yếu tố sản xuất, là nguyên nhân dẫn đến
sự khác biệt về giá cả tương đối của hàng hoá giữa các quốc gia trước khi có
các hoạt động xuất khẩu để chỉ rõ lợi ích của các hoạt động xuất khẩu. sự khác
biệt về giá cả tương đối của các yếu tố sản xuất và giá cả tương đối của các
hàng hoá sau đó sẽ được chuyển thành sự khác biệt về giá cả tuyệt đối của
hàng hoá. Sự khác biệt về gíá cả tuyệt đối của hàng hoá là nguồn lợi của hoạt
động xuất khẩu.
Nói một cách khác, một quốc gia dù ở trong tình huống bất lợi vẫn có thể
tìm ra điểm có lợi để khai thác. Bằng việc khai thác các lợi thế này các quốc
gia tập trung vào việc sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng có lợi thế tương
đối và nhập khẩu những mặt hàng không có lợi thế tương đối. Sự chuyên môn
hoá trong sản xuất này làm cho mỗi quốc gia khai thác được lợi thế của mình
một cách tốt nhất, giúp tiết kiệm được những nguồn lực như vốn, lao động, tài
nguyên thiên nhiên…trong quá trình sản xuất hàng hoá. Chính vì vậy trên quy
mô toàn thế giới thì tổng sản phẩm cũng sẽ tăng.
Từ những lý thuyết về xuất khẩu trên ta thấy rằng vai trò của hoạt động
xuất khẩu đã được tìm hiểu và nhận biết rất sớm bởi các nhà kinh tế học. Qua
quá trính phát triển của nền sản xuất hàng hoá những quan điểm về vai trò xuất
khẩu ngày càng hoàn thiện. Ngày nay hoạt động xuất khẩu có vai trò quan
trọng đối với sự phát triển kinh tế
Vai trò của hoạt động xuất khẩu đối với nền kinh tế toàn cầu
- Xuất khẩu là một trong những tố tạo đà, thúc đẩy sự tăng trưởng và phát
triển kinh tế của mỗi quốc gia.
SV: KHổng Thị Kim Nghĩa Lớp : TMQT50
GVHD : PGS.TS Nguyễn Văn Tuấn Khoa Thương mại và Kinh tế quốc tế
Theo như hầu hết các lý thuyết về tăng trưởng và phát triển kinh tế đều
khẳng định và chỉ rõ để tăng trưởng và phát triển kinh tế mỗi quốc gia cần có

Vai trò của hoạt động xuất khẩu đối với nền kinh tế mỗi quốc gia
SV: KHổng Thị Kim Nghĩa Lớp : TMQT50
GVHD : PGS.TS Nguyễn Văn Tuấn Khoa Thương mại và Kinh tế quốc tế
- Xuất khẩu là một trong những tố tạo đà, thúc đẩy sự tăng trưởng và phát
triển kinh tế của mỗi quốc gia.
Theo như hầu hết các lý thuyết về tăng trưởng và phát triển kinh tế đều
khẳng định và chỉ rõ để tăng trưởng và phát triển kinh tế mỗi quốc gia cần có
bốn điều kiện là nguồn nhân lực, tài nguyên, vốn, kỹ thuật công nghệ. Nhưng
hầu hết các quốc gia đang phát triển (như Việt Nam ) đều thiếu vốn, kỹ thuật
công nghệ. Do vậy câu hỏi đặt ra làm thế nào để có vốn và công nghệ
- Xuất khẩu tạo nguồn vốn cho nhập khẩu, phục vụ công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước.
Đối với mọi quốc gia đang phát triển thì bước đi thích hợp nhất là phải
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước để khắc phục tình trạng nghèo làn lạc
hậu chận phát triển. Tuy nhiên quá trình công nghiệp hoá phải có một lượng
vốn lớn để nhập khẩu công nghệ thiết bị tiên tiến.
Thực tế cho thấy, để có nguồn vốn nhập khẩu một nước có thể sử dụng
nguồn vốn huy động chính như sau:
+ Đầu tư nước ngoài, vay nợ các nguồn viện trợ
+ Thu từ các hoạt động du lịch dịch vụ thu ngoại tệ trong nước
+ Thu từ hoạt động xuất khẩu
Tầm quan trọng của vốn đầu tư nước ngoài thì không ai có thể phủ nhận
được, song việc huy động chúng không phải rễ dàng. Sử dụng nguồn vốn này,
các nước đi vay phải chịu thiệt thòi, phải chịu một số điều kiện bất lợi và sẽ
phải trả sau này.
Bởi vì vậy xuất khẩu là một hoạt động tạo một nguồn vốn rất quan trọng
nhất. Xuất khẩu tạo tiền đề cho nhập khẩu, nó quyết định đến qui mô tốc độ
tăng trưởng của hoạt động nhập khẩu. ở một số nước một trong những nguyên
nhân chủ yếu của tình trạng kém phát triển là do thiếu tiềm năng về vốn do đó
họ cho nguồn vốn ở bên ngoài là chủ yếu, song mọi cơ hội đầu tư vay nợ và

và thị trường, xác định phạm vi kinh doanh nhưng trong khuôn khổ chính sách
quản lý xuất khẩu của nhà nước.
Áp dụng cho doanh nghiệp có đủ tiềm năng về tài chính, có quy mô lớn,
phát triển đủ mạnh để thành lập riêng tổ chức bán hàng của mình.
- Xuất khẩu gián tiếp
Xuất khẩu gián tiếp là hình thức giao dịch mua bán thông thường mà quan
hệ mua bán được thiết lập thông qua dịch vụ của các tổ chức độc lập( trung
gian) để tiến hành xuất khẩu sản phẩm của mình ra nước ngoài.
Áp dụng cho các doanh nghiệp mới tham gia vào thị trường quốc tế, và
những doanh nghiệp có khả năng tài chính hạn hẹp.
- Buôn bán đối lưu
SV: KHổng Thị Kim Nghĩa Lớp : TMQT50
GVHD : PGS.TS Nguyễn Văn Tuấn Khoa Thương mại và Kinh tế quốc tế
Buôn bán đối lưu là phương thức giao dịch của ngoại thương trong đó xuất
khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, một bên vừa đóng vai trò người bán, vừa
đóng vai trò người mua.
Áp dụng cho các bên đều thiếu ngoại tệ để thanh toán và có nhu cầu cao về
hàng hóa
- Giao dịch tái xuất
Giao dịch tái xuất là hình thức xuất khẩu những hàng hóa trước đây đã
nhập khẩu chưa qua chế biến ở nước tái xuất
Giao dịch tái xuất bao gồm cả nhập khẩu và xuất khẩu vì vậy nó thu hút ba
nước: nước xuất khẩu, nước tái xuất, nước nhập khẩu
Áp dụng với các quốc gia có hệ thống thông tin chính xác về thị trường, giá
cả hàng hóa
- Hình thức gia công quốc tế
Gia công quốc tế là hình thức giao dịch kinh doanh trong đó một bên( bên
nhận gia công) nhập khẩu nguyên liệu đầu vào hoặc bán thành phẩm của một
bên( bên đặt gia công) để chế biến ra thành phẩm, khi đó bên đặt gia công sẽ
trả cho bên nhận gia công một khoản tiền( phí gia công)

của hàng hoá đó trên thị trường thế giới bị giảm dẫn đến hoạt động xuất khẩu
bị thu hẹp.Ngược lại, khi tỷ giá hối đoái giảm , tức đồng nội tệ giảm so với
đồng ngoại tệ thì sẽ tăng hoạt động xuất khẩu.
- Hạn ngạch và những tiêu chuẩn kĩ thuật
Hạn ngạch là qui định của nhà nước về lượng hàng hóa tối đa được phép
xuất khẩu hoặc nhập khẩu đối với một thị trường cụ thể trong một thời gian
nhất định thường là 1 năm. Hạn ngạch thường dùng để tránh tình trạng cung
vượt quá cầu gây thiệt hại cho nhà sản xuất và kinh doanh xuất khẩu. Được áp
dụng với các hàng hóa xuất khẩu có nguồn gốc tài nguyên thiên nhiên có nguy
cơ bị cạn kiệt hoặc gây ô nhiễm môi trường.
Xuất phát từ các nhu cầu thực tế của đời sống, nhu cầu về vệ sinh an toàn,
chất lượng…Một loạt các hệ thống tiêu chuẩn được đưa ra bao gồm các qui
định về bao bì, đóng gói vệ sinh an toàn thực phẩm,vệ sinh phòng dịch bệnh…
Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động xuất khẩu vì hàng hóa muốn
SV: KHổng Thị Kim Nghĩa Lớp : TMQT50
GVHD : PGS.TS Nguyễn Văn Tuấn Khoa Thương mại và Kinh tế quốc tế
xâm nhập vào thị trường phải đáp ứng đầy đủ những tiêu chuẩn của nước nhập
khẩu và các mức tiêu chuẩn của mỗi quốc gia là khác nhau.
- Các yếu tố về thế chế chính trị-kinh tế- xã hội
Chính trị có ổn định thì mới tạo đà cho kinh tế phát triển. Yếu tố này là
nhân tố khuyến khích hoặc thúc đẩy quá trình xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ.
Môi trường chính trị ổn định tạo tâm lý yên tâm, tin tưởng sản xuất kinh doanh
từ đó thúc đẩy xuất khẩu phát triển. Mỗi quốc gia có hệ thống luật pháp riêng
để điều chỉnh hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của nước mình, do vậy
phải có sự hiểu biết nhất định về những yếu tố này để tạo hành lang pháp lý an
toàn cho hoạt động xuất khẩu
Quốc gia xuất khẩu chỉ có thể thành công trên thị trường quốc tế khi có sự
hiểu biết nhất định về phong tục, tập quán, thị hiếu, thói quen mà điều này lại
có sự khác biệt ở mỗi quốc gia. Do vậy hiểu biết về môi trường văn hoá sẽ giúp
ích trong việc quốc gia thích ứng được với thị trường để từ đó có chiến lược

GVHD : PGS.TS Nguyễn Văn Tuấn Khoa Thương mại và Kinh tế quốc tế
Bảng 1.1. Kim ngạch xuất khẩu nông sản giai đoạn 1996 - 2000
Đơn vị: Nghìn Tấn
Triệu USD
1996 1997 1998 1999 2000
Gạo
Sản lượng 3.234,5 3.575 3.748,8 4.508,2 3.476,7
Giá trị 854,63 875,56 1024 1025,1 667,35
Cà phê
Sản lượng 283,7 391,6 381,8 482,46 733,94
Giá trị 400,26 493,71 593,8 585,3 501,45
Chè
Sản lượng 20,8 32,9 33,21 36,44 55,66
Giá trị 29 48,81 50,5 45,15 69,61
Hạt tiêu
Sản lượng 25,33 24,7 15,1 34,78 37
Giá trị 46,75 67,23 64,5 137,26 145,93
Hạt điều
Sản lượng 16,6 33,3 25,2 18,39 34,2
Giá trị 75,6 133,33 116,95 109,75 167,32
Lạc nhân
Sản lượng 127,14 86,4 86,8 55,54 76,25
Giá trị 69,96 46,3 42,1 32,75 41,04
Rau quả Giá trị 90,2 71,2 53,4 104,9 204,56
Cao su
Sản lượng 194,5 194,2 191 265,33 273,4
Giá trị 262,23 90,85 127,5 146,84 166,02
(Nguồn: Vụ Kế hoạch và Quy hoạch - Bộ Phát triển Nông nghiệp và Nông
thôn)
Trong giai đoạn này, giá cả của thị trường thế giới luôn luôn biến động,

máy đã trang bị các dây chuyền công nghệ hiện đại giúp tăng sức cạnh tranh
của hàng nông sản Việt Nam trên thị trường thế giới.
SV: KHổng Thị Kim Nghĩa Lớp : TMQT50
GVHD : PGS.TS Nguyễn Văn Tuấn Khoa Thương mại và Kinh tế quốc tế
Bảng 1.2. Kim ngạch xuất khẩu nông sản trong giai đoạn 2001 - 2008
Đơn vị: Nghìn Tấn /Triệu USD
2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008
Gạo
Sản
lượng
3.729 3.240 3.813 4.087 5.251 4.643 4.558 4.742
Giá trị 624,7 725,5 720,5 950,4 1.407 1.275 1.911 2.894

phê
Sản
lượng
931,2 718,6 749,2 974,7 892,4 980,9 1.229 1.059
Giá trị 391,3 322,3 504,8 641 735,5 1.217 1.911 2.111
Chè
Sản
lượng
68,22 74,81 59,8 99,35 87,92 105,6 114,4 104,5
Giá trị 78,40 82,52 59,85 95,55 96,93 110,4 130,8 146,9
Hạt
tiêu
Sản
lượng
57,02 76,61 74,12 111,7 108,9 116,7 - -
Giá trị 91,24 107,2 104,9 154,4 150,5 190,4 271 311,2
Hạt

thành các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Trong đó có các mặt hàng
đã đạt được kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD như gạo với kim ngạch năm
2005 là 1,4 tỷ USD, năm 2008 đã là 2,8 tỷ USD; cà phê với kim ngạch năm
2006 là 1,2 tỷ USD, sang năm 2008 là 2,1 tỷ USD và cao su có kim ngạch năm
2008 là 1,6 tỷ USD.
Tuy nhiên, trong điều kiện hội nhập kinh tế như hiện nay thì nền công
nghiệp chế biến nông sản của Việt Nam vẫn còn có nhiều hạn chế như các cơ
sở chế biến thường mang tính tự phát với quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu, lao
động có trình độ thấp, đã khiến cho tỷ lệ sản phẩm làm ra đạt tiêu chuẩn quốc
tế chỉ chiếm khoảng 1% đến 5% tổng sản lượng. Điều đó cũng gây ảnh hưởng
lớn tới khả năng cạnh tranh cũng như tiềm năng phát triển của hoạt động xuất
khẩu nông sản, ví dụ như gạo của Việt Nam, tuy đứng thứ hai thế giới về sản
lượng xuất khẩu, chỉ sau Thái Lan nhưng theo nghiên cứu của Viện cơ điện
Nông nghiệp thì phải 15 đến 20 năm nữa chúng ta mới có thể theo đạt được
trình độ công nghệ của Thái Lan hiện nay. Cũng do thiếu công nghệ nên hàng
nông sản xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu dưới dạng thô hoặc sơ chế vì vậy sẽ
làm cho giá bán của sản phẩm thấp, không đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng cao
của thị trường thế giới.
Không chỉ bị ảnh hưởng bởi công nghệ sản xuất, bảo quản mà hàng nông
sản của Việt Nam còn chịu tác động của giá cả nông sản thế giới. Năm 2008,
2009 thế giới rơi vào khủng hoảng kinh tế, nhu cầu tiêu dùng cũng như nhu cầu
nhập khẩu của các quốc gia giảm xuống làm ảnh hưởng tới khả năng xuất khẩu
hàng hóa của Việt Nam nói chung, hàng nông sản nói riêng. Bị tác động bởi
khủng hoảng, năm 2008, sản lượng chè, cà phê, cao su xuất khẩu của Việt Nam
đều giảm xuống so với năm 2007 và tới năm 2009 thì do khủng hoảng và việc
các quốc gia đều được mùa nên đã làm giá nông sản của Việt Nam giảm
SV: KHổng Thị Kim Nghĩa Lớp : TMQT50
GVHD : PGS.TS Nguyễn Văn Tuấn Khoa Thương mại và Kinh tế quốc tế
xuống, khiến cho kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nông sản giảm mạnh. Đối
với mặt hàng cà phê, là một trong các mặt hàng chủ lực của xuất khẩu nông sản

Hoa Kỳ và Đức là 2 thị trường chiếm kim ngạch cao với kim ngạch xuất khẩu
hạt tiêu sang Hoa Kỳ tháng 1 năm 2010 đạt gần 3,8 triệu USD, chiếm 16,1%
tổng kim ngạch và Đức nhập khẩu 3,51 triệu USD, chiếm 14,97% tổng kim
ngạch, tiếp theo là 2 thị trường Ấn Độ và Hà Lan cũng đạt kim ngạch cao trên
1 triệu USD. Xếp sau hạt điều và hạt tiêu là mặt hàng gạo và cà phê hiện đang
đứng thứ hai thế giới. Xuất khẩu cà phê của Việt Nam chỉ sau Brazil với sản
lượng của niên vụ 2008 - 2009 chiếm tới 14,4% tổng sản lượng cà phê toàn
cầu. Theo Hiệp hội Cà phê ca cao Việt Nam thì năng suất cà phê hàng năm của
Việt Nam ổn định ở mức 1 triệu tấn/500 nghìn ha và nước ta hiện có khoảng
1,24 triệu ha cà phê. Xuất khẩu gạo của Việt Nam cũng đứng thứ 2 thế giới, chỉ
sau Thái Lan và sản lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam chiếm khoảng 15% tới
16% thị phần gạo thế giới. Hiện nay thì giá gạo xuất khẩu của Việt Nam thấp
hơn nhiều so với giá gạo của Thái Lan nên gạo của Việt Nam có khả năng cạnh
tranh cao đối với gạo Thái Lan. Theo Tổ chức Nông - Lương Liên hiệp quốc
(Food and Agriculture Organization, viết tắt là FAO), xuất khẩu gạo của Việt
Nam đang rất thuận lợi nhờ trúng mùa, giá cả giảm và kho dự trữ dồi dào. Với
mặt hàng cao su thì hiện nay Việt Nam là nước xuất khẩu cao su lớn thứ 4 thế
giới, đứng sau Thái Lan, Indonesia và Malaysia. 70% lượng cao su xuất khẩu
của nước ta là sang Trung Quốc, các thị trường xuất khẩu quan trọng khác bao
gồm Malaysia, Singapore, Hàn Quốc, Nga, Đài Loan, Mỹ, Nhật và EU. Chè
cũng là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam và hiện xuất khẩu chè của
Việt Nam đang đứng thứ 5 thế giới, trong đó chủ yếu là chè đen, chiếm tới
80% lượng chè xuất khẩu. Các quốc gia nhập khẩu chè của Việt Nam đó là Đài
Loan, đứng đầu với 17% sản lượng xuất khẩu của Việt Nam, tiếp đến là
Nga, Irắc, Pakistan, Đức và Singapore.
Bên cạnh đó các mặt hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam ngày càng
đa dạng với sản lượng và giá trị xuất khẩu thường tăng lên năm sau cao hơn
năm trước như rau quả, lạc nhân, sắn và các sản phẩm từ sắn, quế, Trong đó
phải kể đến rau quả với những lợi thế về điều kiện tự nhiên và con người, hoạt
SV: KHổng Thị Kim Nghĩa Lớp : TMQT50

trao cho Việt Nam bản yếu tố bình thường hóa quan hệ kinh tế - thương
mại với Việt Nam thì mối quan hệ kinh tế nói chung và quan hệ xuất nhập
khẩu nói riêng giữa hai quốc gia mới bắt đầu phát triển.Giai đoạn đầu của
quan hệ thương mại, hàng hóa của Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ chủ
yếu là nông sản và nguyên liệu thô do Việt Nam có nhiều tài nguyên thiên
nhiên lại có thể huy động được các nguồn lực có sẵn như nhân công, đất
đai, Trong đó, nông sản là một trong năm nhóm hàng có kim ngạch xuất
khẩu lớn nhất vào thị trường Hoa Kỳ, bên cạnh dệt may, đồ gỗ, thủy sản và
giày dép.Chúng ta có thể thấy rõ điều đó thông qua bảng số liệu dưới đây về
kim ngạch xuất khẩu nông sản sang Hoa Kỳ giai đoạn 1996 - 2000.
Bảng 2.1 Kim ngạch xuất khẩu nông sản sang Hoa Kỳ giai đoạn 1996 - 2000
Đơn vị: Tấn
Triệu
USD
1996 1997 1998 1999 2000
Gạo
Sản lượng 356.940 304.760 153.930 22.340 61.040
Giá trị 100,24 63,5 39,03 4,95 10,66
Cà phê
Sản lượng 24.106 55.699 56.265 51.810 52.176
Giá trị 32,51 75,23 86,31 59,21 69,93
Chè
Sản lượng 91 63 11 658 452
Giá trị 0,05 0,09 0,01 0,57 0,37
Hạt tiêu
Sản lượng - - - 2102 1063
Giá trị - - - 9,02 7,08
Hạt điều
Sản lượng 2.776 3.422 3.738 3.635 9.389
Giá trị 12,49 14,65 16,74 21,18 44,70

năm 1996 tới năm 2000, sản lượng điều xuất khẩu đã tăng từ 2.776 tấn lên
9.389 tấn với giá trị xuất khẩu tăng từ 12,49 triệu USD lên đến 44,7 triệu USD,
như vậy là tăng lên gấp 3,5 lần chỉ trong vòng 4 năm
Gạo cũng là mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch lớn trong giai đoạn này.
Hoa Kỳ là một trong những nước nhập khẩu gạo lớn nhất thế giới do gạo Hoa
Kỳ nhập về không chỉ phục vụ tiêu dùng mà còn phục vụ nhu cầu tái xuất, đảm
bảo nguồn hàng để thực hiện các hợp đồng xuất khẩu của Hoa Kỳ. Ngoài ra
nhiều khách hàng Hoa Kỳ cũng mua gạo Việt Nam để xuất khẩu sang châu Phi
theo các chương trình viện trợ của chính phủ Hoa Kỳ. Mức thuế đối với gạo
nhập khẩu của Việt Nam thấp và thị trường Hoa Kỳ rộng mở đối với Việt Nam.
SV: KHổng Thị Kim Nghĩa Lớp : TMQT50
GVHD : PGS.TS Nguyễn Văn Tuấn Khoa Thương mại và Kinh tế quốc tế
Nhưng do gạo Việt Nam có chất lượng chưa cao, không đảm bảo được các yêu
cầu của thị trường Hoa Kỳ nên sản lượng và giá trị xuất khẩu của gạo bị giảm
đi, đặc biệt là vào năm 1999, Việt Nam chỉ xuất khẩu được 22.340 tấn gạo với
giá trị xuất khẩu là 4,95 triệu USD, thấp hơn hẳn so với năm 1998, chúng ta
xuất khẩu được 153.930 tấn với giá trị là 39,03 triệu USD.
Ngoài ra còn có những mặt hàng nông sản khác cũng được xuất khẩu
nhiều sang Hoa Kỳ. Có thể kể đến đó là chè, hạt tiêu và một số mặt hàng gia vị
khác. Đối với hạt tiêu hàng năm Hoa Kỳ nhập khẩu một số lượng lớn hạt tiêu
chưa xay và đã xay. Tuy hạt tiêu thâm nhập vào Hoa Kỳ chậm hơn cà phê
nhưng tốc độ tăng về kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng này lại rất cao và
trong tương lai còn tăng nhanh hơn nữa vì các quốc gia đứng trên Việt Nam
về xuất khẩu hạt tiêu như Trung Quốc hay Tây Ban Nha lại không có nguồn
hạt tiêu nhiều như Việt Nam. Mặt hàng chè và gia vị khác cũng đang dần dần
thâm nhập thị trường Hoa Kỳ với lợi thế là có nhiều người gốc châu Á sinh
sống tại thị trường Hoa Kỳ nên có nhu cầu lớn về sử dụng chè, gia vị vốn là
những sản phẩm truyền thống được sử dụng trong cuộc sống của người châu
Á.
Bên cạnh các mặt hàng có sự kim ngạch xuất khẩu lớn thì cũng có những


phê
Lượng 147,1 90,1 109,4 135,4 117,7 130,9 134,9 106,4 128,1
Giá trị
60,0
1
39,5 73,1 88,8 97,5 166,4 212,7
210,
8
196,7
Chè
Lượng 1,03 2,25 1,33 2,49 1,26 2,09 3,63 3,76 5,35
Giá trị 0.79 1,74 1,04 1,61 1,03 1,58 2,43 3,02 5,73
Hạt
tiêu
Lượng 3,18 11,2 10,6 18,8 19,8 17,7 6,74 13,57 14,8
Giá trị 5,41 16,8 15,9 27,3 29,03
30,0
5
20,74 46,6 43,6
Lạc
nhân
Lượng - - -
0,01
4
- - - - -
Giá trị - - -
0,01
7
- - - - -

với năm 2000, từ 52,176 nghìn tấn tăng lên 147,1 nghìn tấn và mặc dù bị giảm
xuống 90,1 nghìn tấn vào năm 2002 do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng thừa
trên thế giới nhưng đến năm 2003 lại tăng lên 109,4 nghìn tấn. Tuy nhiên kim
ngạch cà phê xuất khẩu của Việt Nam vào Hoa Kỳ 2 năm gần đây lại đang có
dấu hiệu khó khăn khi năm 2009 đã có sự sụt giảm so với kim ngạch năm 2008
là 210,8 triệu USD, một phần là do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn
cầu làm giảm nhu cầu tiêu dùng của người dân cũng như rắc rối của hệ thống
ngân hàng làm hạn chế khả năng thanh khoản của các doanh nghiệp nhập khẩu
hàng hóa từ Việt Nam, nhiều đối tác ở Hoa Kỳ đã không mở được LC, và một
phần là do giá cà phê năm 2009 giảm 32% so với năm 2008. Và tới những
tháng đầu năm 2010 thì kim ngạch cà phê vẫn đang có xu hướng giảm xuống.
Đứng ngay sau hạt tiêu về kim ngạch xuất khẩu là hạt điều. Năm 2009,
Hoa Kỳ là nước đứng thứ hai về nhập khẩu hạt điều Việt Nam, chỉ sau Trung
Quốc. Kim ngạch của hạt điều xuất khẩu sang Hoa Kỳ tăng mạnh khi năm
SV: KHổng Thị Kim Nghĩa Lớp : TMQT50


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status