Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thị trường chứng khoán Việt Nam đã ra đời và đi vào hoạt động từ năm
2000. Trải qua hơn 11 năm đi vào hoạt động, thị trường chứng khoán Việt
Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng. Số
lượng công ty chứng khoán trên thị trường có những sự thay đổi đáng kể qua
từng giai đoạn, nếu như cuối năm 2005 chỉ có 14 công ty thì hiện nay có hơn
100 công ty chứng khoán đã và đang hoạt động ở Việt Nam. Trong đó, Top
10 công ty chứng khoán lớn nhất có doanh thu chiếm 80% doanh thu toàn
ngành. Chất lượng các dịch vụ của công ty chứng khoán đã có những sự thay
đổi đáng kể. Các công ty chứng khoán hiện nay đang cạnh tranh với nhau vô
cùng gay gắt để thu được lợi nhuận và khẳng định vị thế của mình. Vì vậy,
nâng cao năng lực hoạt động là vấn đề vô cùng cấp thiết được đặt ra cho mỗi
công ty chứng khoán để tồn tại và phát triển trong điều kiện hiện nay.
Sau quá trình thực tập tại CTCP chứng khoán Việt Nam, tìm hiểu hoạt
động của công ty từ khi thành lập đến nay, em nhận thấy công ty cần phải có
biện pháp nâng cao năng lực hoạt động, năng lực cạnh tranh để có thể đứng
vững trong điều kiện cạnh tranh ngày càng lớn hiện nay. Với mong muốn
đóng góp một số ý kiến nhằm nâng cao năng lực hoạt động của công ty nên
em đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Giải pháp nâng cao năng lực hoạt động
của Công ty cổ phần chứng khoán Việt Nam”.
2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích bài chuyên đề trước hết là làm rõ những lý luận cơ bản về công
ty chứng khoán và tổng quan về năng lực hoạt động của công ty chứng khoán.
Trên cơ sở đó, phân tích thực trạng năng lực hoạt động của công ty cổ phần
Nguyễn Thị Hà 1 Lớp CKB -
K11
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
chứng khoán Việt Nam. Từ đó, đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao năng
lực hoạt động của công ty cổ phần chứng khoán Việt Nam.
số 27/2007/QĐ-BTC ngày 24/4/2007 của Bộ trưởng Bộ Tài chính):
“Công ty chứng khoán là tổ chức có tư cách pháp nhân hoạt động kinh
doanh chứng khoán, bao gồm một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động: môi
giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán,
tư vấn và đầu tư chứng khoán”.
1.1.2. Nguyên tắc hoạt động của công ty chứng khoán
Công ty chứng khoán hoạt động theo hai nhóm nguyên tắc cơ bản sau:
Nhóm nguyên tắc tài chính
- Có năng lực tài chính (đủ vốn theo quy định của pháp luật, cơ cấu vốn hợp
lý), đảm bảo nguồn tài chính trong cam kết với khách hàng, đủ năng lực tài
chính để giải quyết rủi ro có thể phát sinh trong quá trình kinh doanh.
- Cơ cấu tài sản hợp lý, có khả năng thanh khoản và có chất lượng tốt để
thực hiện kinh doanh với hiệu quả cao.
- Thực hiện chế độ tài chính theo quy định của nhà nước.
- Tách bạch tài sản của công ty với tài sản của khách hàng.
Nhóm nguyên tắc đạo đức
- CTCK phải hoạt động theo đúng theo quy định của pháp luật, chấp hành
nghiêm các quy chế, tiêu chuẩn hành nghề liên quan.
- Kinh doanh có kỹ năng, tận tụy, có tinh thần trách nhiệm cao.
Nguyễn Thị Hà 3 Lớp CKB -
K11
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
- Giao dịch trung thực công bằng, vì lợi ích khách hàng, đặt lợi ích khách
hàng lên trên lợi ích công ty.
- Cung cấp đầy đủ, chính xác các thông tin cần thiết cho khách hàng, bảo vệ
tài sản của khách hàng, bí mật các thông tin về tài khoản của khách hàng.
- Không được sử dụng các lợi thế của mình làm tổn hại đến khách hàng và
ảnh hưởng xấu đến hoạt động chung của thị trường, không được thực hiện các
hoạt động có thể làm khách hàng và công chúng đầu tư hiểu nhầm về giá cả,
giá trị và bản chất của chứng khoán.
- NHTM tham gia kinh doanh chứng khoán sẽ tận dụng được thế mạnh
của ngân hàng, tạo động lực cho sự phát triển của TTCK.
Hạn chế của mô hình:
- NHTM tham gia kinh doanh chứng khoán có thể gây lũng đoạn thị
trường, trong trường hợp quản lý nhà nước về lĩnh vực chứng khoán và quản
trị điều hành thị trường còn yếu.
- Giảm tính chuyên môn hóa, khả năng thích ứng và linh hoạt kém.
- Trong trường hợp TTCK có nhiều rủi ro, ngân hàng có xu hướng bảo thủ
rút khỏi thị trường này, tập trung kinh doanh tiền tệ.
1.1.3.2. Mô hình công ty chứng khoán chuyên doanh.
Theo mô hình này, hoạt động chuyên doanh chứng khoán sẽ do các công
ty độc lập, chuyên môn hoá trong lĩnh vực chứng khoán đảm nhận. Các ngân
hàng, tổ chức tài chính, công ty bảo hiểm không được tham gia kinh doanh
chứng khoán. Được áp dụng ở nhiều nước như Mỹ, Nhật, Hàn Quốc…
- Ưu điểm: khắc phục được hạn chế của mô hình đa năng, giảm rủi ro cho
hệ thống ngân hàng, tạo điều kiện cho các CTCK kinh doanh chuyên môn
hóa, thúc đẩy sự phát triển thị trường chứng khoán.
Ngày nay với sự phát triển của TTCK, để tận dụng thế mạnh của lĩnh
vực tiền tệ và lĩnh vực chứng khoán, các quốc gia có xu hướng nới lỏng ngăn
cách giữa hoạt động tiền tệ và chứng khoán, bằng cách cho phép hình thành
công ty đa năng một phần – các NHTM thành lập công ty con để chuyên kinh
doanh chứng khoán.
1.1.4. Vai trò của công ty chứng khoán
- Vai trò huy động vốn
Nguyễn Thị Hà 5 Lớp CKB -
K11
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
Các CTCK là các trung gian tài chính có vai trò huy động vốn, tức là họ
là các kênh chuyển vốn từ nơi dư thừa sang nơi có nhu cầu sử dụng vốn. Các
CTCK thường đảm nhiệm vai trò này qua các hoạt động về nghiệp vụ ngân
1.1.5. Các nghiệp vụ chính của công ty chứng khoán
1.1.5.1. Nghiệp vụ môi giới chứng khoán
Môi giới chứng khoán: môi giới chứng khoán là việc các CTCK làm
trung gian thực hiện mua, bán chứng khoán cho khách hàng.
1.1.5.2. Nghiệp vụ tư vấn đầu tư chứng khoán
Tư vấn là dịch vụ mà CTCK cung cấp cho khách hàng trong lĩnh vực đầu
tư chứng khoán, tái cơ cấu tài chính, chia tách, sáp nhập, hợp nhất doanh
nghiệp trong việc phát hành và niêm yết chứng khoán.
Điều kiện đối với hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán:
- Điều kiện về vốn: Vì hoạt động tư vấn là hoạt động kinh doanh hiểu
biết nên các yêu cầu về vốn tối thiểu đối với hoạt động này không lớn,
lượng vốn với nghiệp vụ này chỉ cần đủ để duy trì các hoạt động bình
thường của công ty như là thuê văn phòng, trả lương nhân viên, chi phí
hành chính khác…
- Điều kiện về nhân sự: Yêu cầu về nhân sự đối với hoạt động này tương
đối chặt chẽ. Người làm công tác tư vấn phải có kiến thức chuyên môn rất sâu
trong lĩnh vực của mình. Riêng đối với ngành chứng khoán, họ phải có giấy
phép hành nghề tư vấn chứng khoán với các yêu cầu cao hơn những người chỉ
làm môi giới thông thường.
1.1.5.3. Nghiệp vụ tự doanh
Nguyễn Thị Hà 7 Lớp CKB -
K11
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
Tự doanh chứng khoán là việc CTCK tự tiến hành các giao dịch mua
hoặc bán chứng khoán cho chính mình. Ở nghiệp vụ này, CTCK đóng vai trò
là nhà đầu tư trên thị trường. Mục đích của hoạt động tự doanh nhằm thu lợi
cho chính CTCK và họ tự gánh chịu mọi rủi ro từ việc đầu tư đó. Do đó, đòi
hỏi CTCK phải có nguồn vốn, đội ngũ nhân viên có trình độ chuyên môn cao,
có khả năng phân tích và nhận định thị trường, có khả năng quyết đoán cao.
Hoạt động tự doanh của CTCK có thể được thực hiện trên các thị trường
thuận lợi, hỗ trợ cho các hoạt động của các phòng chuyên môn trong khối
Front Office, giúp các nhà đầu tư không bị bỏ lỡ cơ hội đầu tư và nâng cao
năng lực sử dụng vốn.
- Nghiệp vụ lưu ký chứng khoán
Lưu ký chứng khoán là việc nhận ký gửi, bảo quản, chuyển giao chứng
khoán của khách hàng, giúp khách hàng thực hiện các quyền liên quan đến sở
hữu chứng khoán.
- Cho vay cầm cố chứng khoán
Khi khách hàng có nhu cầu vay tiền dựa trên tài sản đảm bảo là chứng
khoán trên tài khoản. Họ sẽ đề nghị vay vốn cầm cố chứng khoán niêm yết
đang lưu ký tại CTCK. CTCK sẽ phong tỏa chứng khoán được cầm cố, làm
thủ tục cho vay cầm cố. Sau khi hồ sơ vay được duyệt, CTCK sẽ thông báo
cho Trung tâm lưu ký chứng khoán về trường hợp cầm cố chứng khoán để
vay tiền để Trung tâm làm thủ tục chuyển chứng khoán sang tài khoản cầm
cố. Nếu có nhu cầu, khách hàng có thể yêu cầu bán số chứng khoán cầm cố,
khoản tiền thu được từ việc bán chứng khoán cầm cố sẽ được dùng để trả nợ
và lãi vay, phần còn lại sẽ được trả về tài khoản của khách hàng. Tỷ lệ vay
tính trên thị giá chứng khoán cầm cố do CTCK quy định.
Nguyễn Thị Hà 9 Lớp CKB -
K11
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
- Cho vay ứng trước tiền bán chứng khoán
Khách hàng có thể vay ứng trước số tiền bán chứng khoán ngay sau khi có
thông báo khớp lệnh thay cho việc chờ tới ngày T+3. Mức phí nhỏ, thủ tục
đơn giản, nhanh chóng. CTCK sẽ đại diện cho khách hàng làm các thủ tục cần
thiết với ngân hàng.
- Cho vay ứng trước tiền cổ tức
Khách hàng có thể vay ứng trước số tiền cổ tức ngay sau khi có thông báo
từ tổ chức phát hành về việc chi trả cổ tức thay cho việc chờ tới ngày được
thanh toán chính thức.
cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là tỷ suất tự tài trợ tài
sản dài hạn và chỉ tiêu vốn lưu động thường xuyên.
- Hiệu quả sử dụng vốn
Hiệu quả sử dụng vốn được xem xét trên mặt hiệu quả sử dụng các tài
sản của công ty với tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn. Hiệu suất sử dụng vốn
lưu động cho ta biết năng lực hoạt động của tài sản ngắn hạn của công ty,
được đo lường bằng các chỉ tiêu sau:
Vòng quay vốn lưu động
Hiệu suất sử dụng tài sản cố định
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản
- Khả năng sinh lời
Khả năng sinh lời có thể được đánh giá ở nhiều góc độ khác nhau nhưng
có mối liên hệ chặt chẽ với nhau như: khả năng sinh lời hoạt động, khả năng
sinh lời kinh tế, khả năng sinh lời vốn chủ sở hữu với các chỉ tiêu được sử
dụng như sau:
Tỷ suất lợi nhuận doanh thu (ROS)
Tỷ suất sinh lời tổng tài sản (ROA)
Tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu (ROE)
1.2.2.2. Năng lực thích ứng với biến động của nền kinh tế
Khái niệm
Nguyễn Thị Hà 11 Lớp CKB -
K11
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
Năng lực thích ứng với biến động kinh tế là khả năng doanh nghiệp
chuyển mình, có những hướng phát triển, thay đổi cho phù hợp với các biến
động thị trường nhằm đưa doanh nghiệp hoạt động sản xuất ổn định và phát
triển hơn khi hấp thụ những biến động kinh tế.
Khi tình trạng cá lớn nuốt cá bé trong nền kinh tế thị trường như hiện nay
thì các doanh nghiệp cần nâng cao năng lực thích ứng với biến động kinh tế là
điều tất yếu. Thích ứng với biến đổi nền kinh tế hiện nay là một yếu tố quan
yếu tố được coi trọng. Tiêu chí đánh giá chất lượng nhân sự của các doanh
nghiệp là dựa vào bằng cấp, trình độ học vấn của nhân viên. Đây là một yếu
tố thể hiện năng lực cơ bản, nền tảng nguồn nhân lực của mọi doanh nghiệp.
• Đánh giá năng lực nhân sự
Để nghiên cứu chất lượng của nguồn nhân sự phải xem xét đến năng lực
tạo ra giá trị lợi nhuận cho doanh nghiệp, khả năng đóng góp vào hoạt động
tạo doanh thu để duy trì, phát triển doanh nghiệp của mỗi nhân viên. Phân tích
về năng lực nhân sự thông qua khía cạnh này ta dùng hai tiêu chí cơ bản là:
Năng suất lao động
Lợi nhuận bình quân của mỗi nhân viên.
1.2.2.4. Năng lực tổ chức và quản lý bộ máy hoạt động
Các nhà lãnh đạo là người quyết định hướng đi, chiến lược hoạt động của
doanh nghiệp. Do đó, năng lực quản lý của các nhà lãnh đạo đóng vai trò to
lớn trong sự phát triển của các doanh nghiệp. Trong những điều kiện hiện
nay, vai trò của nhà lãnh đạo càng được khẳng định để xử lý và ứng phó với
những thay đổi, những rủi ro và kịp thời nắm được cơ hội từ biến động thị
trường. Bên cạnh đó, nhiệm vụ xây dựng một bộ máy hoạt động hiệu quả là
nhiệm vụ không hề đơn giản đối với đội ngũ cán bộ cấp cao của doanh
nghiệp. Khi xây dựng được bộ máy hoạt động tốt thì công việc tiếp theo của
nhà lãnh đạo là quản lý, duy trì và không ngừng cải tiến hệ thống đó cho phù
hợp với điều kiện thị trường.
1.2.2.5. Năng lực về sức mạnh công nghệ thông tin
Nguyễn Thị Hà 13 Lớp CKB -
K11
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
Vai trò của công nghệ thông tin trong nền kinh tế hiện nay
Khoa học công nghệ là một trong 4 nguồn lực quyết định sự phát triển
kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Trong lĩnh vực đầu tư kinh doanh hiện nay,
việc có thông tin nhanh là một lợi thế đôi khi đem lại cho nhà đầu tư những
khoản lợi nhuận lớn, đặc biệt là các thông tin trên TTCK. Việc áp dụng công
thiểu thời gian, chi phí giao dịch, những khó khăn, bất cập về vị trí địa lý, và
giúp cho các hoạt động trở lên nhanh chóng và tiện lợi. Để đánh giá trình độ
công nghệ thông tin của một CTCK có thể thông qua hạ tầng công nghệ của
công ty đó, các phần mềm ứng dụng và khả năng tích hợp với hệ thống của
SGDCK Tp Hồ Chí Minh, Hà Nội và các ngân hàng…
c) Sản phẩm dịch vụ
Trong CTCK có nhiều những yếu tố có thể đánh giá một công ty, nhưng
phần lớn nhà đầu tư nhìn nhận một CTCK thông qua giá cả dịch vụ, phí dịch
vụ và chất lượng dịch vụ mà công ty đem lại cho họ. Đối với cùng một loại
sản phẩm dịch vụ có chất lượng tương đương thì CTCK nào càng có mức giá
cả, mức phí càng ưu đãi thì càng thu hút đông khách hàng. Đặc biệt là những
khách hàng VIP có khối lượng giao dịch lớn, tần suất giao dịch nhiều thì vấn
đề giá cả, mức phí là nhân tố chi phối rất lớn tới sự lựa chọn địa chỉ giao dịch.
d) Chất lượng sản phẩm dịch vụ
Để tạo được uy tín và lòng tin đối với nhà đầu tư thì chất lượng sản phẩm
dịch vụ là một yếu tố vô cùng quan trọng. Các CTCK hiện nay không ngừng
gia tăng chất lượng nguồn nhân lực, hệ thống cơ sở vật chất, ứng dụng công
nghệ thông tin và cơ cấu tổ chức quản lý nhân sự tạo nên một tác phong
chuyên nghiệp, độ an toàn chính xác trong quá trình cung ứng dịch vụ khẳng
định chất lượng sản phẩm dịch vụ với nhà đầu tư.
e) Trình độ tổ chức quản lý
CTCK cần căn cứ vào nhu cầu của từng vị trí để tuyển dụng những cán
bộ, nhân viên có năng lực phù hợp, tránh lãng phí và tuyển dụng sai mục đích
Nguyễn Thị Hà 15 Lớp CKB -
K11
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
công việc. Các CTCK cần có những khóa đào tạo để cán bộ, nhân viên và tạo
mọi điều kiện cho người lao động làm việc; rèn luyện ý thức kỉ luật; đội ngũ
cán bộ vừa đủ tránh sự chồng chéo. Trình độ quản lý phụ thuộc nhiều vào
năng lực người quản lý. Vì vậy, ngay từ khâu tuyển dụng các cán bộ tuyển
với nhà đầu tư. Công ty đó có cơ hội phát triển mạnh, tăng năng lực cạnh
tranh với các CTCK khác trên thị trường và ngược lại.
1.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng tới năng lực hoạt động của CTCK
1.2.4.1. Các nhân tố nội tại
a) Tiềm lực tài chính
Tiềm lực tài chính của CTCK là khả năng về vốn và tài sản để tài trợ cho
những hoạt động của công ty. Theo Luật chứng khoán 2006 quy định vốn
điều lệ để tham gia hoạt động của CTCK là:
- Môi giới chứng khoán: 25 tỷ đồng
- Tự doanh: 100 tỷ đồng
- Bảo lãnh phát hánh: 165 tỷ đồng
- Tư vấn đầu tư: 10 tỷ đồng
Một CTCK có thể tham gia vào một hay nhiều nghiệp vụ. Quy mô càng
lớn thì càng có thể tham gia vào nhiều nghiệp vụ, qua đó cũng khẳng định
được tiềm lực tài chính của công ty, giúp công ty chủ động trong việc tham
gia, phát triển các nghiệp vụ phụ trợ, tăng khả năng cạnh tranh. Giúp công ty
có thể mở rộng mạng lưới, chi nhánh, đa dạng hóa đầu tư, nâng cao chất
lượng sản phẩm dịch vụ và cạnh tranh giá cả với các CTCK khác.
b) Vấn đề tổ chức và quản lý của công ty chứng khoán
Một CTCK có nhiều những phòng ban phụ trách những nghiệp vụ khác
nhau như phòng môi giới, tự doanh, phân tích, bảo lãnh phát hành, kế toán,
Nguyễn Thị Hà 17 Lớp CKB -
K11
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
các phòng giao dịch Vì thế, các phòng ban cần có sự chuyên môn hóa. Mỗi
bộ phận, phòng ban cần chuyên trách thực hiện một hoạt động cụ thể, thực
hiện dịch vụ trọn gói cho khách hàng. Đồng thời đảm bảo các yêu cầu thị
trường, tách bách những hoạt động kinh doanh của công ty với hoạt động cho
khách hàng Bên cạnh đó cần đảm bảo, các nghiệp vụ hoạt động của các
phòng ban không bị chồng chéo, mạng lưới nhân sự gọn nhẹ tránh lãng phí.
mỗi CTCK nếu muốn tồn tại và phát triển trong giai đoạn hiện nay.
f) Trình độ chuyên môn
Kinh doanh chứng khoán là một lĩnh vực đặc thù với những sản phẩm
mang hàm lượng chất xám cao. Vì vậy, trình độ chuyên môn, kinh nghiệm và
sự phản ứng nhạy bén của các cán bộ, nhân viên trong CTCK là yếu tố quan
trọng, quyết định tới tình hình, kết quả hoạt động của một công ty. Không
ngừng nâng cao năng lực nghiệp vụ, tiếp xúc thực tế, tăng khả năng nhạy bén
xử lý các tình huống phát sinh là vấn đề cấp thiết đối với mỗi cán bộ, nhân
viên trong công ty để thực hiện tốt nhất những nhiệm vụ được giao.
1.2.4.2. Các nhân tố bên ngoài
a) Môi trường kinh tế
TTCK là một bộ phận của thị trường vốn, của nền tài chính quốc qia.
Chính vì vậy, sự phát triển của nền kinh tế có ảnh hưởng rất lớn tới sự tồn tại
và phát triển của các CTCK. Các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô như tỷ lệ lạm phát, tốc
độ tăng trưởng của nền kinh tế, cán cân thanh toán quốc tế, dự trữ ngoại tệ và
cân đối thu chi ngân sách nhà nước đều có ảnh hưởng tới tình hình hoạt
động kinh doanh của các CTCK. Nền kinh tế có tốc độ phát triển cao, lãi suất
giảm, chính sách tiền tệ nới lỏng sẽ tác động lớn tới tâm lý nhà đầu tư, nhu
cầu đầu tư tăng lên, dẫn tới sự phát triển của TTCK.
Nguyễn Thị Hà 19 Lớp CKB -
K11
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
b) Môi trường pháp lý
Các quy định pháp luật có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động của CTCK.
Các quy định này thường hướng vào việc bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư,
bảo đảm sự ổn định của thị trường. TTCK rất nhạy cảm đối với những sự thay
đổi về quy định pháp luật, chính trị. Vì thế, sự ổn định về kinh tế, chính trị
của một quốc qia sẽ thu hút nhà đầu tư nước ngoài, mở rộng hợp tác quốc tế,
tạo cơ hội rất lớn cho hoạt động kinh doanh của các CTCK và ngược lại.
c) Môi trường chính trị- xã hội
hoạt động của CTCK ở Chương 3 dưới đây.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG
TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM (VSEC)
2.1. Giới thiệu khái quát về CTCP chứng khoán Việt Nam
2.1.1. Thông tin chung
CTCP chứng khoán Việt Nam thuộc hình thức CTCP, hoạt động theo
Luật Doanh nghiệp và các quy định hiện hành khác của Nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tên công ty: CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM.
Tên tiếng Anh: VIETNAM SECURITIES CORPORATION.
Tên viết tắt: VSEC.
Trụ sở: Tầng 8, 59 Quang Trung, Phường Nguyễn Du, Quận Hai Bà
Trưng, TP. Hà Nội.
Nguyễn Thị Hà 21 Lớp CKB -
K11
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
Điện thoại: 04 944 6066 Fax: 04 944 6070
Website: www.vnsec.vn Email:
Người đại diện theo pháp luật của Công ty:
Bà Chu Thị Phương Dung – Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty.
2.1.2. Lịch sử hình thành và phát triển của CTCP chứng khoán Việt Nam
CTCP chứng khoán Việt Nam đăng ký kinh doanh ngày 27/11/2006.
Vốn điều lệ ban đầu là 9 tỷ đồng.
Công ty được UBCK nhà nước cấp giấy phép ngày 08/12/2006, trở thành
thành viên giao dịch của Trung tâm giao dịch Hà Nội từ ngày 12/02/2007, và
thành viên của Sở giao dịch Hồ Chí Minh từ ngày 01/10/2007.
Tháng 03/2009, Công ty tăng vốn lên 135 tỷ đồng, và hợp tác với ngân
hàng RHB của Malaysia, VSEC là công ty chứng khoán đầu tiên của Việt
Nam chuyển thành công 49% vốn cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài.
Hiện nay, VSEC thực hiện bốn nghiệp vụ chính sau:
Số CMTND: 023968268 Quốc tịch: Việt Nam
Nơi cấp: CA. Tp Hồ Chí Minh Ngày cấp: 09/04/2002
Địa chỉ liên lạc: 106/18A Điện Biên Phủ, phường 17, quận Bình Thạnh,
TP Hồ Chí Minh.
Nguyễn Thị Hà 23 Lớp CKB -
K11
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
b) Cổ đông chiến lược
Ngân hàng RHB INVESTMENT BANK BERHAD
Thành lập tại Malaysia theo giấy phép đăng ký kinh doanh số 19663P
ngày 05/08/1974 và Giấy phép số C/A0019/2006 do ủy ban Chứng khoán
Malaysia cấp ngày 19/12/2006.
Địa chỉ: tầng 10, Tòa tháp Một, Trung tâp RHB, Janlan Tun Pak 50400
Kuala Lumpur, Malaysia.
Điện thoại: 603 0287 3888 Fax: 603 214 7568.
c) Tỷ lệ góp vốn của các cổ đông
Bảng 2.1.1. Tỷ lệ vốn góp của các cổ đông.
Cổ đông
Tỷ lệ %
cổ phần
Hình thức cổ phần
Giá trị
(triệu VNĐ)
RHB Investment Bank
Berhad
49% Cổ phần phổ thông 66.150
CTCP Môi giới Bảo
hiểm Việt Quốc
3% Cổ phần phổ thông 4.050,5
Total 100% 135.000