Dạy văn bản
những câu hát về tình yêu quê hơng, đất nớc, con
ngời theo hớng tích hợp và tích cực.
(Ngữ văn 7 tập 1)
I. Nhận thức về ca dao nói chung và bài dạy nói riêng.
* Tìm bài ca dao dân ca ở ở sách ngữ văn lớp 7 tập 1 là phần nối tiếp truyện
dân gian ở sách ngữ văn lớp 6. Số bài học và đọc thêm tơng đối nhiều. Chủ đề
của các bài ca dao cũng phong phú: tình cảm gia đình, tình yêu quê hơng, đất
nớc, con ngời, tiếng hát than thân, tiếng hát châm biếm. Ca dao có khả năng
giáo dục t tởng và thẩm mỹ, bồi dỡng tình cảm trong sáng lành mạnh.
Dạy ca dao thuận tiện việc vận dụng tính tính tích hợp và tích cực. Tích
cực với việc làm văn biểu cảm, tích hợp với tiếng việt ở ngôi kể, đại từ, danh
từ, từ láy, từ phức Tích hợp với các môn học khác nh Địa lý, Lịchsử, Mỹ
thuật Dạy ca dao thuận lợi cho nội dung các bài dạy văn học địa phơng.
Dạy ca dao phát huy đợc tính tích cực, óc sáng tạo, tìm tòi trong học tập
của học sinh. Ca dao giúp cho học sinh cảm nhận đợc vẻ đẹp tâm hồn của ngời
dân bình thờng Việt Nam đợc phản ánh trong ca dao xa. Nghệ thuật đặc trng
tiêu biểu của ca dao là lặp hình ảnh truyền thống, lối ví von so sánh ẩn dụ đợc
lấy từ cuộc sống đời thờng.
Dạy ca dao tuân theo hớng dạy văn học dân gian, vận dụng linh hoạt sáng
tạo trong từng bài cụ thể nhng vẫn theo tinh thần chung là từ nghệ thuật toát
lên nội dung.
Các hoạt động trong tiến trình bài dạy:đọc - chú thích, tìm hiểu văn nghệ
phải tìm ra yếu tố nghệ thuật, phân tích các yếu tố nghệ thuật để làm nổi bật ra
đợc t tởng tình cảm của ngời lao động.
* ) Bài ca dao: Những câu hát về tình yêu quê hơng đất nớc, con ngời là bài
thứ hai trong thứ tự cụm bài ca dao, cũng nằm trong cái chung của ca dao song
nó cũng có nét riêng. Đó là lời thơ là lời đối đáp, lời mời, lời rủ nhau, lời nhắn
nhủ bày tỏ tình cảm một cách tinh tế về tình yêu quê hơng, đất nớc, con ngời.
Trong bài viết này tôi không nói về lý thuyết tích hợp và tích cực mà xin đ-
ợc về thực hành vận dụng tích hợp, tích cực khi dạy một văn bản ca dao cụ thể
sinh của lớp chất lợng đại trà tiếp thu chậm; tôi không thể dạy kĩ đợc cả bốn
bài. Tôi chỉ hớng dẫn và giải kĩ đợc ba bài, còn một bài tôi hớng dẫn qua,tự
học sinh trên cơ sở bài đã học tự tìm hiểu.
Bài ca dao 1: Tôi cho học sinh trả lời câu hỏi trắc nghiệm trong sách giáo
khoa
a) Bài ca dao là lời của một ngời và một phần.
b) Bài ca dao gồm hai phần, phần đầu là lời hỏi của chàng trai, phần sau là lời
đáp của cô gái.
c) Hình thức đối đáp này phổ biến trong ca dao.
d) Hình thức đối đáp này không phổ biến trong ca dao .
Phần đáp án đúng là b,c.
Để phát huy trí lực của học sinh và mở rộng hiểu biết về ca dao tôi hỏi
tiếp:" Tại sao em lại khẳng định là đúng ? Em hãy cho ví dụ một số câu ca
dao sử dụng lời đối đáp ?". Học sinh phải chỉ ra đợc dấu hiệu để nhận dạng bài
ca dao 2 là có hai phần: Phần đầu là lời hỏi của chàng trai, phần sau là lời đáp
của cô gái. Học sinh đọc ví dụ minh hoạ trờng hợp phổ biếm trong ca dao. Tôi
cũng chuẩn bị một số câu ca dao dùng lời đối đáp.
Đố anh chi sắc hơn hơn dao
Chi sâu hơn bể, chi cao hơn trời
Em ơi, mắt sắc hơn dao
Bụng sâu hơn bể, trán cao hơn trời.
Hoặc chỉ cho học sinh thấy ở phần đọc thêm trong sách giáo khoa trang
41, sách Ngữ văn 7 tập 1.
Sau đó cho hai học sinh đọc lời của chàng trai đọc diễn cảm giọng thơ câu
hỏi nghi vấn và của cô gái giọng tự tin, dí dỏm. Tiếp theo tôi hỏi học sinh: "Vì
sao chàng trai cô gái lại dùng những địa danh với đặc điểm của từng điạ
danh để hỏi? Câu hỏi này có một trong phần chuẩn bị bài ở nhà của học sinh.
Tôi lắng nghe và nhân xét ý kiến của học sinh và giảng sâu thêm. "Ca dao
dùng lời hát đối đáp thể hiện một cách tế nhị về kiến thức Địa lý, Lịch sử. Lời
ngời hỏi chọn những địa danh ở vùng Bắc Bộ với những nét tiêu biểu về địa lý
Bài ca dao tả cảnh bằng cách nhắc tên các địa danh gợi ra ngời đọc thấy đợc
không gian thiên tạo và nhân tạo thơ mộng đẹp đẽ ở Hà Nội. Qua đó bộc lộ đ-
ợc tình yêu thiên nhiên đất nớc". Sau đó tôi ghi ngắn gọn dới dòng bài ca dao
2:
"Lời rủ nhau tả cảnh gợi tên địa danh, bộc lộ tình yêu quý tự hào tình yêu
quê hơng, đất nớc"
Tôi hỏi tiếp:" ở lớp 6 các em đã đớc học văn bản nào nói đến Hồ Gơm?
Các địa danh nói đến trong bài ca dao này nơi nào em đã đến hoặc nhìn
qua tranh ảnh, tivi, em hãy tả lai cho các bạn cùng nghe?( Câu hỏi này
nhằm tích hợp với văn bản truyền thuyết sự tích hồ Gơm đã học ở lớp 6 và tích
hợp miêu tả) .
Sau đó tôi cho học sinh quan sát một số tranh ảnh đợc nói trong bài: Cảnh
Hồ Gơm, cầu Thê Húc, đền Ngọc Sơn, cố đô Huế mà tôi su tầm để dạy (Việc
làm này giúp cho học sinh có đợc ấn tợng đẹp về cảnh đẹp thu hút sự chú ý
của học sinh, đồng thời cũng là tích hợp môn Ngữ văn với môn Mỹ thuật).
Tôi hỏi tiếp: Trình bày suy nghĩ của em về câu thơ cuối bài " Hỏi ai gây
dựng nên non nớc này"
Học sinh suy nghĩ độc lập, trả lời tôi lắng nghe nhận xét t duy của học sinh
sau đó giảng sâu " Câu hỏi tự nhiên giầu âm điệu, nhắn nhủ tình cảm. Đây là
câu thơ xúc đậm sâu lắng trong bài tác động tình cẩm ngời đọc ngời nghe. Câu
hỏi nhằm khẳng định nhắc nhở về công lao xây dựng của ông cha của nhiều
thế hệ cảnh Kiếm Hồ hay những cảnh khác đều là tợng trng cho đất nớc. Câu
hỏi này cũng nhằm nhắc nhở thế hệ con cháu mai sau phải tiếp nối giữ gìn non
nớc cho xứng đáng với truyền thống lịch sử văn hoá dân tộc".
Bài ca dao số 3: Tôi giảng qua để học sinh nắm đợc đây cũng là lời mời
của ngời dân thăm xứ Huế cảnh đẹp đất nớc. Lời thơ giàu hình ảnh so sánh gợi
màu sắc tơi đẹp. Đặc biệt dùng từ phiếm chỉ" ai" là đại từ chỉ một ngời hay
nhiều ngời. Bài thơ cũng bộc lộ tình yêu quê hơng, đất nớc.
Bài ca dao số 4: Tôi yêu cầ học sinh đọc thầm và "nhận xét về số chữ hai
dòng đầu so với hai dòng sau ? Từ ngữ có gì đặc biệt, nét đặc biệt có tác
nắm đợc. Sau đó tôi cho đọc phần ghi nhớ trong sách giáo khoa.
Hoạt động 4: Hớng dẫn học sinh luyện tập.
Tôi yêu cầu học sinh làm bài tập 1, 2 sách giáo khoa, trang 40. hai bài tập
này nhằm củng cố kiến thức trong bài học để học sinh nắm đợc thẻ thơ của ca
dao thờng là lục bát và biến thể lục bát. Tôi thêm bài tâp bổ sung: Phát biểu
cảm nghĩa của em sau khi học bốn bài ca dao này? Viết thành đoạn văn
trong hoặc trả lời miệng tuỳ theo thời gian cho phép. Bài tập này học sinh làm
độc lập, tôi bớc đầu tích hợp ca dao với văn biểu cảm ở tập làm văn mà tiết sau
sẽ học.
IV. Kết luận:
Từ dạy văn bản: Những câu hát về tình yêu quê hơng, đất nớc, con ngời tôi
đã nhận ra khi dạy các văn bản ca dao nói chung: Ca dao là đời sống tâm hồn
tình cảm của quần chúng khi đạy phải khai thác tình cảm cảm xúc của ngời
dân lao động qua lời thơ dân gian. Ca dao là tiếng nói cộng đồng kết tinh ngôn
ngữ quần chúng, các nhà thơ đã học tập rất nhiều ở ca dao, học sinh cũng cần
phải vận dụng trong cuộc sống của mình.
Dạy ngữ văn theo hớng tích cực, tích hợp đã thực hiện hai năm. Tôi thấy
mình có đôi chỗ lúc còn lúng túng, có lúc cảm thấy rất tâm đắc. Bài viết này là
cách soạn cách dạy theo hớng tích hợp và tích cực mà toi cảm thấy tâm đắc
sau những suy nghĩa nghiền ngẫm vận dụng tích hợp, tích cực một cách nhuần
nhuyễn có hiệu quả. Giờ học văn tôi nhận thấy học sinh tham gia xây dựng bài
hăng hái, tích cực. Các phân môn tập làm văn, Tiếng việt và Văn cùng đợc học
trên một trục kiến thức văn bản. Kiếm thức xuất hiện nhiều lần giúp học sinh
dễ nhớ dễ hiểu. Giờ học văn học sinh thực sự là chủ thể hoạt động học tập.
Hơn nữa tôi nhận thấy học Ngữ văn học sinh hiểu sâu thêm về các môn Lịch
sử, Địa lý, Mỹ thuật hoặc ngợc lại học các môn khác học sinh cũng thấy có
kiến thức văn học.
Trên đây là những việc làm của tôi trong vận dụng dạy Ngữ văn 7 theo h-
ớng tích hợp và tích cực. Tuy mới chỉ là những ý kiến việc làm của cá nhân có
thể cha hoàn thiện. Xong vẫn muốn mạnh dạn trao đổi với đồng nghiệp để