PHẦN MỞ ĐẦU
Thu hút đầu tư nước ngoài (FDI) và phát triển công nghiệp phụ trợ
không còn là vấn đề mới mẻ đối với nước ta nữa. nhưng vấn đề ở đây là thu
hút FDI như thế nào, phát triển công nghiệp phụ trợ ra sao?
Những năm gần đây số vốn FDI đầu tư vào Việt Nam tăng đáng kể
nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của nước nhà.
Như vậy thì trong thời gian tới chúng ta cần đẩy nhanh hơn nữa quá trình này.
Một vấn đề đặt ra là vốn đầu tư vào Việt Nam còn nhiều bất cập: các nhà đầu
tư chỉ chú trọng vào các ngành có lợi nhuận cao, rào cản gia nhập thấp chủ
yếu là lĩnh vực bất động sản chứ chưa chú trọng vào các ngành công nghệ cao
hay các ngành thiết yếu mà chúng ta chưa phát triển được dẫn tới mất cân
bằng trong phát triển kinh tế, không nâng cao được năng lực công nghệ. Do
vậy trong thời gian tới chúng ta cần chú trọng thu hút đầu tư nước ngoài FDI
cả về chất và lượng.
Ngành công nghiệp phụ trợ ở nước ta xuất hiện khá sớm, nhưng cho tới
thời điểm hiện tại thì nó chưa khẳng định được vai trò và vĩ thế của mình
trong nghành công nghiệp nói riêng và ngành kinh tế nói chung: tốc độ phát
triển chậm chạp, khả năng cạnh tranh rất yếu so với các nước trong khu vực
và trên thế giới. trong khi đó phát triển công nghiệp phụ trợ là nền tảng để
phát triển công nghiệp công nghệ cao, đặc biệt là trong lĩnh vực chế tạo máy
móc. Sự non yếu của ngành này đã trở thành những lực cản rất rõ ràng đối
với việc phát triển các ngành công nghiệp nói chung cũng như các ngành
công nghiệp mũi nhọn nói riêng.
Chúng ta đang đề cập đến 2 vấn đề hoàn toàn khác nhau một bên là phát
triển công nghiệp phụ trợ một bên là thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài(FDI).
Tác động của hai quá trình lên nền kinh tế theo những chiều hướng khác
nhau.Nhưng thực ra hai quá trình này có quan hệ mật thiết với nhau, cụ thể là
quan hệ bổ sung cho nhau. Nghiên cứu vấn đề này giúp ta hiểu rõ mối quan
hệ đó để có thể đưa ra một số chính sách, đường lối, biện pháp khai thác hiệu
quả mối quan hệ bổ sung này nhằm thúc đẩy cả hai quá trình trên phát triển.
1
hiện bởi các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Do đó, trong ngành xe hơi chẳng hạn,
các bộ phận như đầu máy xe, thân xe, bánh xe thường không được kể là
công nghiệp phụ trợ vì chủ yếu do các công ty lớn sản xuất với quy mô lớn.
Trong ngành này, công nghiệp phụ trợ là những linh kiện, những phụ liệu ở
cấp thấp hơn được cung cấp để sản xuất ra đầu máy xe, thân xe
Theo định nghĩa trên thì công nghiệp phụ trợ có đầu ra cũng là các sản
phẩm công nghiệp. Nhưng các sản phẩm này không trực tiếp bán ra thị trường
tiêu dùng mà chúng được bán cho các nhà sản xuất các sản phẩm chính. Các
nhà sản xuất ra những sản phẩm chính do hạn chế về một số nguồn lực có thể
gặp khó khăn trong việc sản xuất ra một số bộ phận ,linh kiện hoặc không có
khả năng sản xuất ra chúng nên họ cần một nhà sản xuất khác đảm nhiệm việc
này. Nói cách khác là cần một nhà sản xuất và cung ứng những bộ phận và
linh kiện mà họ chưa sản xuất được. Đây cũng chính là lí do ra đời của ngành
công nghiệp phụ trợ.
1. 2 Đặc điểm và vai trò của công nghiệp phụ trợ
Công nghiệp phụ trợ có 3 đặc điểm cơ bản:
Thứ nhất, công nghiệp phụ trợ chỉ sản xuất ra những sản phẩm công
nghiệp có vai trò hỗ trợ cho quá trình sản phảm chính chứ không trực tiếp sản
3
xuất ra các sản phẩm chính. Do vậy những sản phẩm này không có giá trị tiêu
dùng, nó chỉ có tác dụng hoàn thiện sản phẩm cho các nhà sản xuất chính.
Thứ hai, việc sản xuất công nghiệp phụ trợ phụ thuộc vào việc sản xuất
của các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm chính. Quá trình sản xuất của các
doanh nghiệp phụ trợ chỉ tồn tại khi tồn tại ngành sản xuất sản phẩm chính
cần đến những sản phẩm hỗ trợ từ nó.
Thứ 3, sản phẩm công nghiệp phụ trợ thường được sản xuất với quuy
mô nhỏ, thực hiện bởi các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đây là một quy ước cho
khái niệm công nghiệp phụ trợ, những sản phẩm hỗ trợ mà được sản xuất bởi
các nhà sản xuất lớn và quy mô lớn không được coi là công nghiệp hỗ trợ.
Chẳng hạn như trong nghành xe hơi sản xuất đầu máy, bánh xe, thân xe …
khác, tỷ lệ của chi phí về CNPT cao hơn nhiều so với chi phí lao động nên
một nước dù có ưu thế về lao động nhưng CNPT không phát triển sẽ làm cho
môi trường đầu tư kém hấp dẫn. Chừng nào các ngành phụ trợ sẵn có chưa
được cải thiện đồng loạt, nhiều DN của nước ngoài chưa đến đầu tư ồ ạt thì
FDI của các công ty lớn không thể tăng hơn.
Thứ ba, CNPT còn góp phần thúc đẩy việc chuyển giao công nghệ, áp
dụng các kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất. Bởi lẽ, dưới áp lực cạnh tranh, các
công ty CNPT phải tỏ ra có tiềm năng cung cấp linh kiện, phụ liệu với chất
lượng và giá thành cạnh tranh được với hàng nhập. Tiềm năng đó sẽ thành
hiện thực nhờ chuyển giao công nghệ từ doanh nghiệp FDI.
Thứ tư, CNPT còn góp phần tạo công ăn việc làm, thu hút lao động dư
thừa trên các địa bàn sản xuất của doanh nghiệp và khu vực lân cận.
1. FDI
5
1.1 FDI là gì?
Có rất nhều định nghĩa khác nhau về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
(FDI) . sau đây bài làm chỉ nêu ra một định nghĩa phổ biến nhất.
Định nghĩa về FDI của tổ chức thương mại quốc tế WTO:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một
nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút
đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để
phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả
nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh
doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay đựoc gọi là
"công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công
ty".
1.2. Thu hút FDI
Thu hút FDI là những biện pháp, nỗ lực nhằm giới thiệu đến các nhà đầu
tư trực tiếp nước ngoài thấy được những thế mạnh của nước thu hút đầu tư và
những lợi ích có được khi nhà đầu tư đầu tư FDI vào nước đó. Thu hút FDI là
và hình thức đầu tư, thị trường đầu tư, quy mô đầu tư cũng như công nghệ cho
mình. Do đó sẽ tự lựa chon những quyết định có lợi nhất cho họ.
- FDI thường đi kèm chuyển giao công nghệ cho các nước nhận đầu tư.
Thông qua hoạt động FDI nước chủ nhà có thể tiếp nhận được công nghệ kỹ
thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý.
Vai trò:
- Tăng cường vốn đầu tư cho tăng trưởng. Để đáp ứng cũng như kích
thích tốc độ tăng trưởng nền kinh tế cần một lượng vốn đầu tư lớn. Trong khi
7
nguồn vốn trong nước còn khá hạn chế và rất khó huy động thì vốn đầu tư
nước ngoài là một biện pháp hữu hiệu giả quyết vấn đề này.Ở Việt nam hiện
nay FDI chiếm trên 10% tổng vốn đầu tư xã hội con số này thương trung bình
khoảng 15%.
- Chuyển giao công nghệ qua các dự án FDI là một trong những kênh
chủ yếu, có tính đột phá để nâng cao năng lực công nghệ của nước nhận đầu
tư. Chuyển giao công nghệ qua các dự án FDI luôn đi kèm với đào tạo nhân
lực vận hành, quản lý và nhờ học qua làm (learning by doing), nhờ đó đã hình
thành được đội ngũ cán bộ, công nhân kỹ thuật có trình độ, tay nghề khá cao.
Khảo sát cho thấy, có 44% doanh nghiệp FDI thực hiện đào tạo lại lao động
với các mức độ khác nhau (cho khoảng 30% số lao động tuyển dụng). Đối với
một số khâu chủ yếu của dây chuyền công nghệ tiên tiến hoặc đặc thù, lao
động sau khi tuyển dụng được
đưa đi bồi dưỡng ở các doanh nghiệp mẹ ở nước ngoài
2
. Đến nay, hầu
hết các công nghệ có trình độ tiên tiến và đội ngũ cán bộ, công nhân kỹ
thuật cao ở các nước phát triểnđược tập trung trong khu vực có vốn FDI.
- Đẩy mạnh xuất khẩu cũng là đóng góp nổi bật, thể hiện rõ nét vai trò
của FDI. Ở Việt Nam, trong suốt 20 cải cách kinh tế vừa qua. Thời kỳ 1996-
2000, xuất khẩu của khu vực FDI đạt10,6 tỷ USD (không kể dầu thô), tăng
(deepening). Công nghiệp phụ trợ không phát triển sẽ làm cho các công ty lắp
ráp và những công ty sản xuất thành phẩm cuối cùng khác sẽ phải phụ thuộc
nhiều vào nhập khẩu. Dù những sản phẩm này có thể được cung cấp với giá rẻ
ở nước ngoài nhưng vì chủng loại quá nhiều, phí tổn chuyên chở, bảo hiểm sẽ
làm tăng phí tổn đầu vào. Đó là chưa nói đến sự rủi ro về tiến độ, thời gian
nhận hàng nhập khẩu. Công ty đa quốc gia sẽ gặp khó khăn trong việc quản lý
dây chuyền cung cấp (supply chain management) nếu phải nhập khẩu phần
lớn linh kiện, bộ phận, và các sản phẩm công nghiệp phụ trợ khác. Vì lý do
này, công nghiệp phụ trợ không phát triển thì các ngành công nghiệp chính sẽ
9
thiếu sức cạnh tranh và phạm vi cũng giới hạn trong một số ít các ngành.
Từ phân tích ở trên ta thấy ngay là CNPT phải phát triển mới thu hút
FDI, nhất là FDI trong các ngành sản xuất các loại máy móc, là những ngành
đang phát triển mạnh tại Đông Á và là những lĩnh vực Việt Nam có lợi thế so
sánh động. Tỷ lệ của chí phí về CNPT cao hơn nhiều so với chi phí lao động
nên một nước dù có ưu thế về lao động nhưng CNPT không phát triển sẽ làm
cho môi trường đầu tư kém hấp dẫn.
Ví dụ về ngành sản xuất và lắp ráp ô tô Việt Nam:
Ngày nay nhu cầu sử dụng ô tô ngày càng lớn. Do vậy quy mô thị trường
ô tô ngày càng mở rộng nhưng năng lực sản xuất và lắp ráp của các doanh
nghiệp nội địa lại rất hạn chế. Theo thống kê năng lực sản xuất và lắp ráp của
các doanh nghiệp trong nước có công suất thiết kế khoảng 500 000 xe/năm,
nhu cầu sử dụng xe khoảng 120000 xe/năm nhưng tình trạng khan hàng vẫn
xảy ra liên tục. chứng tỏ các doanh nghiệp sản xuất và lắp ráp ô tô trong nước
hoạt động kém hiệu quả. Mà nguyên nhân chính ở đây là do công nghiệp phụ
trợ ngành công nghiệp ô tô còn kém phát triển. Hiện tại trong nước mới chỉ có
200 doanh nghiệp sản xuất phụ tùng linh kiện đơn giản như: kính ghế ngồi,
dây diện khung gầm. Các loại vật liệu như thép tấm, thép hình , thép đặc biệt
đẻ làm phụ tùng nội địa hóa vẫn chưa làm được. Với năng lực hạn chế như
vậy các doanh nghiệp chính trong nước còn phụ thuộc vào nguồn phụ tùng
(2) Đồng thời với sự gia tăng của FDI, nhiều doanh nghiệp bản xứ ra đời
trong các ngành công nghiệp phụ trợ chủ yếu để phục vụ cho hoạt động của
các doanh nghiệp FDI. Những doanh nghiệp sớm hình thành sự liên kết với
doanh nghiệp FDI sẽ được chuyển giao công nghệ và sẽ phát triển nhanh.
(3) Sau một thời gian hoạt động của doanh nghiệp FDI với lượng sản
xuất ngày càng mở rộng, tạo ra thị trường ngày càng lớn cho công nghiệp phụ
trợ, nhiều công ty nhỏ và vừa ở nước ngoài sẽ đến đầu tư. Ở đây có trường
11
hợp các công ty con hoặc các công ty có quan hệ giao dịch lâu dài của các
doanh nghiệp FDI đến đầu tư do sự khuyến khích của các doanh nghiệp FDI;
cũng có trường hợp các công ty nhỏ và vừa ở nước ngoài độc lập với các
doanh nghiệp FDI nhưng thấy thị trường của công nghiệp phụ trợ đã lớn
mạnh nên đến đầu tư.
Như vậy FDI tác động đến cả 3 quá trình phát triển của công nghiệp phụ
trợ.
Ở giai đoạn mới hình thành thì công nghiệp phụ trợ còn non yếu cả về
năng lực công nghệ và quản lý. Khi FDI vào sẽ cải thiện năng lực công nghệ
và quản lý của các doanh nghiệp trong nước bằng cách cho các doanh nghiệp
trong nước tham gia vào mạng lưới chuyển giao công nghệ. Điều này thể hiện
rất rõ ở các hợp đồng liên doanh sản xuất linh kiện. Hiện nay trong ngành sản
xuất lắp ráp các phương tiện giao thông vận tải xu hướng này diễn ra phổ
biến. Trong ngành công nghiệp ô tô có hàng loạt các liên doanh lớn như:
Vietsan, Vinastar, HonDa VN, Ford VN, Toyota Vn, Hino Motors Việt Nam ,
GM Dewoo VN, ô tô Trường Hải, ô tô Hòa Bình… các doanh nghiệp , tổ
chức kinh doanh trong nước khi tham gia và liên doanh sẽ được chuyển giao
công nghệ sản xuất một số linh kiện như: lốp vành xe, ghế , ống xả, cabin…
Giai đoạn 2, giai đoạn này là giai đoạn lớn mạnh và chuyên mô hóa của
các doanh nghiệp công nghiệp phụ trợ trong nước. Khi đó xuất hiện các công
ty chuyên phục vụ cho các doanh nghiệp FDI. Một ví dụ điển hình là Trường
Hải ô tô chuyên sản xuất khung gầm và thùng xe và lắp ráp các dòng xe cho
10% - một con số quá thấp so với các nước có ngành CNPT phát triển khác.
Theo Báo cáo tháng 6/2006 của VDF, tỷ lệ nội địa hoá của các nhà sản xuất
Nhật Bản tại Việt Nam mới chỉ đạt 22,6% vào năm 2003, trong khi ở
Malaixia và Thái Lan tỷ lệ này là trên 45%. Còn theo nghiên cứu của Viện
Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM), 32/80 doanh nghiệp FDI
13
khi được hỏi đều cho rằng việc cung ứng nguyên vật liệu và các hoạt động
kinh tế phụ trợ của Việt Nam rất kém. Các doanh nghiệp FDI rất muốn phối
hợp với các nhà cung cấp trong nước để giảm chi phí sản xuất, nâng cao sức
cạnh tranh của sản phẩm, nhưng rất khó có thể tìm được nhà cung cấp thích
hợp.
Tỷ lệ nội địa hóa trong một số ngành công nghiệp chế tác Việt Nam
Ngành công
nghiệp
Quy mô sản xuất
(nghìn chiếc)
Tỷ lệ nội địa hoá
(%)
Xe máy (2003) 1.290 (Thái Lan: 1.740) 75
Tivi (2002) 1.600 (Thái Lan: 6.500) 20-40
Ôtô (2005) 35 (Thái Lan: 1.000) 5-10
Nguồn: Diễn đàn Phát triển Việt Nam (VDF)
Thực trạng phát triển CNPT có thể được đánh giá thông qua khả năng cung
cấp linh phụ kiện và tỷ lệ nội địa hóa trong một số ngành công nghiệp chế tác
của Việt Nam như sau:
- Ngành ô tô theo lộ trình, các nhà sản xuất ôtô trong nước cần phải tăng
dần tỷ lệ nội địa hóa nhằm từng bước phát triển công nghiệp ôtô Việt Nam.
Tuy nhiên, cho đến nay, phần lớn các nhà sản xuất trong nước chưa chú trọng
đến việc này mà thường chỉ nhập linh kiện rồi tiến hành lắp ráp, khiến chi phí
sản xuất tăng cao. Sự yếu kém của CNPT trong ngành sản xuất ô tô đang là
tùng linh kiện, nhưng phần lớn lại là các doanh nghiệp FDI và sản phẩm chủ
yếu lại để xuất khẩu. Thêm vào đó, tỷ lệ nội địa hoá sản phẩm trong ngành rất
thấp, mới chỉ đạt được khoảng 20%, chủ yếu là bao bì, linh kiện nhựa. Trong
khi đó, chất lượng sản phẩm của ngành này còn yếu và không ổn định. Công
ty Daihatsu đã từng sang Việt Nam tìm kiếm nhà cung cấp ốc vít, nhưng khảo
15
sát tới 64 doanh nghiệp mà không lựa chọn được nhà cung cấp nào đạt tiêu
chuẩn quốc tế. Canon cũng phải mất một thời gian dài mới tìm được nhà cung
cấp tại Việt Nam, song 90% trong số đó lại là doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài.
Sau 30 năm phát triển, ngành điện tử Việt Nam vẫn trong tình trạng lắp
ráp cho các thương hiệu nước ngoài. Các doanh nghiệp điện tử trong nước
vẫn gần như chỉ khai thác sản phẩm cũ, lợi nhuận rất thấp và giá trị gia tăng
chỉ ước tăng 5-10%/năm. Theo kết quả khảo sát của Hiệp hội Doanh nghiệp
điện tử Việt Nam, các doanh nghiệp FDI có "tên tuổi" đều phải nhập khẩu
trên 90% linh kiện của nước ngoài, thậm chí có doanh nghiệp nhập khẩu cả
100% như Công ty Fujitsu Việt Nam. Điều này vừa gây thiệt thòi cho ngành
công nghiệp Việt Nam, khiến chúng ta khó thoát khỏi tình trạng gia công, lắp
ráp, vừa giảm sức cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp hàng
điện tử trong nước. Việc thiếu vắng các nhà cung cấp linh phụ kiện cũng
khiến nhiều nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực này có xu hướng ngại đầu
tư vào Việt Nam và đây là điểm yếu căn bản trong thu hút FDI vào lĩnh vực
điện - điện tử.
Nói tóm lại, có thể thấy rằng, quá trình phát triển CNPT ở Việt Nam
chưa diễn ra một cách có hiệu quả. Doanh nghiệp trong nước đã có nhưng
chưa đáp ứng yêu cầu của thị trường. Do vậy, chưa có sự liên kết chặt chẽ
giữa doanh nghiệp FDI và các công ty trong nước. Mặc dù, các doanh nghiệp
ngoài nhà nước ra đời khá nhiều sau Luật Doanh nghiệp 2000, trong đó có lẽ
có khá nhiều doanh nghiệp thuộc các ngành CNPT, nhưng có nhiều báo cáo
cho thấy, các doanh nghiệp này đang gặp khó khăn trong việc tiếp cận vốn và
Việt Nam không hiểu được thực trạng trên mà nguyên nhân sâu xa bắt nguồn
từ đặc điểm của ngành CNPT, yêu cầu vốn đầu tư lớn, sản lượng phải nhiều
để có thể giảm giá thành và đảm bảo chất lượng. Đây có lẽ là khó khăn lớn
nhất của nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trong ngành CNPT. Khó
khăn này càng tăng lên khi không có những hỗ trợ cần thiết về kỹ thuật, công
nghệ cho các công ty linh kiện phụ tùng Việt Nam từ phía các cơ quan chức
năng. Bản thân hệ thống các trung tâm kiểm soát và kiểm định chất lượng linh
kiện phụ tùng cũng gần như không có ở nhiều địa phương hoặc nếu có thì
cũng hoạt động cực kỳ kém hiệu quả.
Các khó khăn về quy mô cầu
Thị trường Việt Nam cho các nhà lắp ráp đặc biệt là các nhà sản xuất ô
tô còn khá nhỏ. Hơn nữa, mức độ tăng trưởng của thị trường nội địa thấp. Với
quy mô thị trường quá nhỏ, nhiều doanh nghiệp lớn trong nước đã tỏ ra e ngại
khi được đề nghị trở thành vệ tinh của các tập đoàn lớn. Nguyên do là họ phải
bỏ vốn lớn ra đầu tư nâng cấp thiết bị dây chuyền cho phù hợp với yêu cầu
chất lượng, trong khi chưa thấy hiệu quả trước mắt. Thêm vào đó, với quy mô
thị trường trong nước nhỏ bé, các nhà đầu tư nước ngoài cũng ít quan tâm đầu
tư vào CNPT.
Thiếu thông tin
Một nguyên nhân nữa bắt nguồn từ tình trạng thiếu các kênh thông tin
giữa các doanh nghiệp FDI/nhà lắp ráp và các công ty nội địa có khả năng và
các tập đoàn lớn bên ngoài đặc biệt là các tập đoàn của Nhật Bản. Bên cạnh
đó là việc thiếu cơ sở dữ liệu phù hợp và đầy đủ về các công ty nội địa, các
công ty FDI, các nhà lắp ráp và thiếu thông tin về các liên kết khác nhau giữa
các nhà lắp ráp và các công ty cung cấp linh kiện trong nước. Chính vì vậy
các nhà sản xuất phải rất khó khăn trong việc tìm kiếm đơn vị cung cấp linh
kiện và dịch vụ hỗ trợ cho mình cũng như doanh nghiệp phải vất vả trong việc
tìm kiếm đầu ra cho sản phẩm.
18
3.Thu hút FDI ở Việt Nam
Việt Nam cho hay, kết quả kinh doanh của hệ thống Parkson tại Việt Nam
trong năm 2009 là tốt nhất trong số những nước mà tập đoàn này đầu tư, với
tăng trưởng doanh thu đạt 30%/năm, so với con số đó chỉ từ 10 – 15% mà
công ty này thu được ở Malaysia, Trung Quốc… “Kết quả đó khiến chúng tôi
tự tin hơn khi quyết định đầu tư thêm những dự án mới. Trung tâm Thương
mại (TTTM) Parkson thứ tư mới khai trương tại TP.HCM hồi cuối tháng
12/2009 và là TTTM thứ 6 ở Việt Nam chỉ trong vòng 5 năm. Năm 2010,
Parkson sẽ tiếp tục đầu tư hai TTTM tại Hà Nội và một ở Đà Nẵng, để đến
năm 2015 sẽ có khoảng 15 – 16 TTTM Parkson tại thị trường Việt Nam. Trên
thực tế, nếu thuận lợi hơn trong việc tìm kiếm mặt bằng, con số sẽ không
dừng lại ở đó”… Trong 4 tháng, cả nước có 31/ 63 tỉnh, thành thu hút được
vốn FDI, trong đó dẫn đầu là Quảng Ninh với hơn 2,1 tỷ USD (38,3% tổng
vốn đăng ký), tiếp theo là Nghệ An, Bà Rịa – Vũng Tàu, TP. HCM, Quảng
Ngãi và Hà Tĩnh. Trong 31 quốc gia, vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam 4
tháng đầu năm nay, các vị trí đầu bảng đã có sự thay đổi cả về đối tác đầu tư
và lượng vốn đăng ký. Từ chỗ không có đối tác nào đạt tổng vốn đăng ký đầu
tư quá 1 tỷ USD tại báo cáo tháng trước, đến nay đã có 3 đối tác vượt chỉ tiêu
này: Hà Lan chỉ thêm 1 dự án cấp mới trong tháng đã thế chỗ Hoa Kỳ giành
vị trí “quán quân”, với trên 2,15 tỷ USD vốn đăng ký. Nhật Bản từ vị trí thứ 8
đã lên thứ nhì, với 1,1 tỷ USD vốn đăng ký, Hoa Kỳ đứng thứ 3 với 1,02 tỷ
USD… (Hoa Kỳ từng là nhà đầu tư lớn nhất tại Việt Nam với số vốn đăng ký
9,8 tỷ USD, chiếm 45,6% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam năm 2009), Hàn
Quốc, Quần đảo Virgin (Anh), Singapore…
Trong năm 2008, đầu tư trực tiếp nước ngoài tập trung chủ yếu vào
ngành công nghiệp, đạt 912 dự án cấp mới với 35,6 tỷ USD (chiếm 58,6% và
20
53,4% tổng số dự án và vốn cấp mới), trong đó ngành công nghiệp chế biến
đạt mức cao nhất với 764 dự án cấp mới và 35 tỷ USD (chiếm 49% tổng số
dự án và 52,7% tổng số vốn cấp mới). Bước sang năm 2009, dòng vốn tập
trung vào các ngành dịch vụ, đặc biệt là kinh doanh bất động sản và lĩnh vực
bằng trong cơ cấu ngành nghề. Với lượng lao động phổ thông là chủ yếu và
đang còn thiếu các công nhân lao động lành nghề cũng như đội ngũ quản lý
tốt. trong khi đó bnhuwngx dự án FDI vào lại đòi hỏi đội ngũ lao động có
trình độ cao, một số lĩnh vực lại cần rất rất ít lao động, do vậy FDI vào thong
giả quyết được van đề việc làm, đồng thời phá vợ cơ cấu ngành theo định
hướng của nước nhà.
Đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp giấy phép thời kỳ 1988 - 2010
Số dự
án
Tổng
vốn đăng ký
(Triệu đô la
Mỹ) (*)
Tổng số
vốn
thực hiện
(Triệu đô la
Mỹ)
Tổng số 13812 214315,6 77945,5
1988 37 341.7
1989 67 525.5
1990 107 735.0
1991 152 1291.5 328.8
1992 196 2208.5 574.9
1993 274 3037.4 1017.5
1994 372 4188.4 2040.6
1995 415 6937.2 2556.0
1996 372 10164.1 2714.0
1997 349 5590.7 3115.0
1998 285 5099.9 2367.4
Vốn đăng
ký
(Triệu đô la
Mỹ)
(*)
Tổng số 12463 194572,2
Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản 478 3095,8
Khai khoáng 68 2943,4
Công nghiệp chế biến, chế tạo 7385 95148,3
Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà
không khí 63 4870,4
Cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải 24 64,8
Xây dựng 707 11589,1
Bán buôn và bán lẻ; sử chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác 517 1649,1
Vận tải, kho bãi 304 3181,5
Dịch vụ lưu trú và ăn uống 302 11390,9
Thông tin và truyền thông 656 4819,1
Hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm 75 1321,5
Hoạt động kinh doanh bất động sản 354 48043,2
Hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 991 707,6
Hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ 99 182,8
Giáo dục và đào tạo 136 342,4
Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội 75 1093,2
Nghệ thuật, vui chơi và giải trí 124 3483,1
Hoạt động khác 105 646,0
(*)
Bao gồm cả vốn tăng thêm của các dự án đã được cấp giấy phép từ các năm trước.
Nhìn vào bảng thống kê trên ta có thể thấy được FDI tập trung chủ yếu vào
các ngành như: công nghiệp chế biến chế tạo(49%); kinh doanh bất động
sản(24,7%), xâydựng (6%); dịch vụ lưu trú và ăn uống(5,85%)…
kích thích các công ty nhỏ và vừa nước ngoài đến đầu tư sản xuất sản phẩm
công nghiệp phụ trợ. Trong thời đại tự do thương mại không thể áp dụng chính
25