TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA VẬT LÝ
HÀ THỊ BÍCH XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM
KHÁCH QUAN NHIỀU LỰA CHỌN NHẰM KIỂM TRA
ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG KIẾN THỨC CHƯƠNG
“CHẤT KHÍ” CỦA HỌC SINH LỚP 10 THPT
Chuyên ngành: Lí luận và Phương pháp dạy học bộ môn Vật lí
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Người hướng dẫn khoa học:
Th.S NGUYỄN ANH DŨNG
HÀ NỘI, 2014
LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn tới ban chủ nhiệm khoa Vật Lí đã tạo
điều kiện cho em được thực hiện đề tài nghiên cứu của mình.
Em xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô khoa Vật Lí trường Đại học Sư
Phạm Hà Nội 2 đã cung cấp cho e nền tảng kiến thức quý báu trong suốt quá
trình học tập tại trường, đặc biệt là Th.S. Nguyễn Anh Dũng, người đã trực
Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Sinh viên Hà Thị Bích
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT VIẾT TẮT VIẾT ĐẦY ĐỦ
THPT
TNKQNLC
GV
HS
TNKQ
TNTL
TNSP
Trung học phổ thông
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Mục đích của đề tài 2
3. Đối tượng nghiên cứu 3
4. Giả thuyết khoa học 3
5. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 3
6. Phương pháp nghiên cứu 4
7. Đóng góp của đề tài 4
8. Bố cục của khóa luận 4
CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC KIỂM TRA
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH Ở TRƯỜNG PHỔ
THÔNG 5
1. Cơ sở lí luận về công tác kiểm tra, đánh giá trong dạy học 5
1.1. Khái niệm về kiểm tra, đánh giá 5
1.2. Mục đích của kiểm tra đánh giá 6
1.3. Chức năng của kiểm tra đánh giá 7
1.4. Các yêu cầu sư phạm đối với kiểm tra, đánh giá kết quả
học tập của học sinh 7
1.5. Nguyên tắc chung cần quán triệt trong kiểm tra đánh giá 8
1.6. Các hình thức kiểm tra cơ bản 9
2. Mục tiêu dạy học 11
2.1. Tầm quan trọng của việc xác định mục tiêu dạy học 11
2.2. Cách phát biểu mục tiêu 11
2.3. Phân biệt các trình độ của mục tiêu nhận thức
tương tự như tình huống đã biết) 11
3. Phương pháp và kĩ thuật TNKQNLC 13
4. Cách trình bày và cách chấm điểm một bài TNKQNLC 18
4.1. Cách trình bày TNKQNLC 18
4.2. Chuẩn bị cho HS 19
4.3. Công việc của giám thi. 19
4.4. Chấm bài 19
5. Xây dựng một số câu hỏi trắc nghiệm khách quan bốn lựa chọn chương
“Chất khí”. Đáp án và hướng dẫn 44
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 68
CHƯƠNG 3: DỰ KIẾN THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 69
3.1. Mục đích 69
3.2. Đối tượng 69
3.3. Tiến hành 69
3.4. Kết quả 69
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 74
KẾT LUẬN 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
2
Theo nghị quyết số 40/2000 QH – X (09/12/2000) của quốc hội khóa X
về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, sách giáo khoa mới đã được đưa
ra thí điểm năm 2003 và thực hiện đại trà năm 2006. Đến năm 2007, Bộ Giáo
dục và Đào tạo đã tiến hành kiểm tra kết quả học tập của học sinh bằng hình
thức thi trắc nghiệm đối với một số môn trong các kì thi học kì ở trường phổ
thông và đặc biệt là kì thi tuyển sinh đại học trên toàn quốc. Vì vậy, việc
nghiên cứu tiếp cận chương trình và hình thức thi trắc nghiệm mới là nhiệm
vụ của tất cả giáo viên cũng như sinh viên ngành sư phạm nhằm trang bị cho
mình những kiến thức cơ bản và cần thiết trong giai đoạn đổi mới của nền
giáo dục hiện nay. Tuy nhiên hiện nay, các sách cung cấp câu hỏi trắc nghiệm
về các môn học (trong đó có môn Vật lí) đã và đang có mặt nhiều trên thị
trường, nhưng phần lớn không đảm bảo chất lượng. Nguyên nhân quan trọng
đó là do trong cộng đồng giáo dục và trong xã hội nước ta chưa có nhiều
người hiểu biết về phương pháp trắc nghiệm khách quan.
Xuất phát từ nhận thức và suy nghĩ đó, qua thực tiễn giảng dạy bộ môn
vật lí ở trường THPT tôi lựa chọn đề tài theo hướng: Xây dựng hệ thống câu
hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn với mong muốn góp phần nghiên
cứu nâng cao chất lượng hiệu quả dạy học Vật lí ở trường phổ thông.
Trong khuôn khổ giới hạn của một khóa luận tốt nghiệp, tôi chỉ dừng
lại ở việc “Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn
nhằm kiểm tra đánh giá chất ượng kiến thức chương “CHẤT KHÍ” của học
sinh lớp 10 THPT”.
2. Mục đích của đề tài
- Nghiên cứu xây dựng hệ thống cau hỏi TNKQNLC cho chương “Chất
khí” ở lớp 10 THPT nhằm đáp ứng được yêu cầu của việc kiểm tra đánh giá
kết quả học tập của học sinh THPT.
3
- Phương pháp nghiên cứu thống kê toán học.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
7. Đóng góp của đề tài
7.1. Đóng góp về mặt khoa học
Đề tài nghiên cứu, hệ thống lại các phương pháp kiểm tra đánh giá,
cách soạn một bài TNKQNLC và sử dụng phương pháp TNKQNLC để kiểm
tra đánh giá kết quả học tập chương “Chất khí” của học sinh lớp 10 THPT.
7.2. Đóng góp thực tiễn.
Góp phần khẳng định tính ưu việt của phương pháp TNKQNLC trong
kiểm tra đánh giá.
- Làm tài liệu tham khảo về kiểm tra đánh giá trong bộ môn Vật lí ở
nhà trường phổ thông.
- Mặt khác, bộ câu hỏi TNKQNLC này có thể xem như là một hệ thống
bài tập mà thông qua đó người học có thể tự kiểm tra đánh giá kết quả học tập
của mình và giáo viên có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong việc sử dụng
bài tập trong dạy học.
8. Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, khóa luận bao gồm
ba chương:
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC KIỂM TRA
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH Ở TRƯỜNG PHỔ
THÔNG.
Chương 2: XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH
QUAN NHIỀU LỰA CHỌN CHƯƠNG “CHẤT KHÍ” VẬT LÍ 10 THPT.
Chương 3: DỰ KIẾN THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM.
5
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ
các HS khác được học cùng một chương trình giáo dục. Nó cho phép sắp xếp
kết quả học tập của HS theo thứ tự và phân loại HS theo thứ tự.
+ Lượng giá theo tiêu chí: Là xác định mức độ kết quả học tập của mỗi
HS theo mục tiêu giáo dục. Trong đánh giá theo tiêu chí, kết quả học tập của
mỗi HS được so sánh với các mục tiêu học tập được xác định trong các
chương trình giáo dục của các môn học, trong đó nêu rõ những kiến thức, kĩ
năng và thái độ nào HS phải đạt được sau khi học tập.
- Đánh giá: Là việc đưa ra những kết luận nhận định, phán xét về trình
độ của HS, xét trong mối quan hệ với quyết định cần đưa ra. Các bài kiểm tra,
bài trắc nghiệm được xem như phương tiện để kiểm tra kiến thức, kĩ năng
trong dạy học. Vì vậy việc soạn thảo nội dung cụ thể của các bài kiểm tra có
tầm quan trọng đặc biệt trong việc kiểm tra đánh giá kiến thức kĩ năng.
1.2. Mục đích của kiểm tra đánh giá
Trong dạy học kiểm tra đánh giá gồm ba mục đích chính:
- Kiểm tra kiến thức kĩ năng để đánh giá mức độ xuất phát của người
học có liên quan đến việc xác định nội dung phương pháp dạy học một môn
học, một học phần sắp bắt đầu.
- Kiểm tra đánh giá nhằm mục đích dạy học: Bản thân kiểm tra đánh
giá nhằm định hướng hoạt động chiếm lĩnh kiến thức cần dạy.
- Kiểm tra nhằm mục đích đánh giá thành tích kết quả học tập hoặc
nhằm nghiên cứu, đánh giá mục tiêu phương pháp dạy học.
Mục đích đánh giá trong đề tài này:
- Cung cấp những thông tin tương đối chính xác về: nội dung học tập
và mức độ nhận biết, hiểu, vận dụng của HS theo yêu cầu của mục tiêu đề ra,
7
nguyên nhân ở đâu, từ đó đề xuất các biện pháp kịp thời điều chỉnh hoạt động
dạy học góp phần nâng cao chất lượng dạy học Vật Lí.
- Đánh giá đo lường kết quả thực hiện của chính bản thân HS so với
mục tiêu đã định trong chương trình bộ môn.
chất lượng kiến thức mà HS chiếm lĩnh được, kĩ năng vận dụng môn học, kết
quả phát triển năng lực tư duy sáng tạo, thái độ, tình cảm. Bên cạnh đó còn
đánh giá cả về số lượng, nội dung và hình thức của câu hỏi dùng để kiểm tra
đánh giá.
1.4.3. Đảm bảo tính thường xuyên và hệ thống
- Cần kiểm tra đánh giá HS thường xuyên trong mỗi tiết học sau mỗi
phần kiến thức.
- Các câu hỏi kiểm tra cần có tính hệ thống.
1.4.4. Đảm bảo tính phát triển
- Hệ thống câu hỏi theo mục tiêu đề ra (nhận biết, hiểu, vận dụng).
- Trân trọng sự cố gắng của HS, đánh giá cao những tiến bộ trong học
tập của HS.
- Đảm bảo tính công khai trong đánh giá.
1.5. Nguyên tắc chung cần quán triệt trong kiểm tra đánh giá
- Xác định rõ mục đích cần kiểm tra đánh giá.
- Xác định rõ nội dung cụ thể của kiến thức, kĩ năng cần kiểm tra đánh
giá, các tiêu chí cụ thể với từng mục tiêu dạy học với từng kiến thức, kĩ năng
đó, để làm căn cứ đối chiếu các thông tin cần thu.
- Tiến hành kiểm tra, thu lượm thông tin (chấm), xem xét kết quả và kết
quả đánh giá.
9
- Xác định rõ biện pháp thu lượm thông tin (hình thức kiểm tra) phù
hợp với đặc điểm nội dung kiến thức, kĩ năng cần kiểm tra, phù hợp với mục
đích cần kiểm tra.
- Xây dựng các câu hỏi, các đề bài kiểm tra, các bài trắc nghiệm cho
phép thu lượm các thông tin tương ứng với các tiêu chí đã xác định.
1.6. Các hình thức kiểm tra cơ bản
luận
Trắc nghiệm
khách quan
Điền
khuyết
Đúng-
sai
TNKQNLC
10
TNTL, HS cần hiểu và nhớ kiến thức thật tốt, đồng thời trình bày bài một
cách logic, chặt chẽ, rõ ràng và chính xác. Câu hỏi dạng này thường được GV
sử dụng để kiểm tra dạng kiến thức bao quát, đòi hỏi HS cần phải tư duy, suy
luận và diễn đạt ý kiến của mình. Loại câu hỏi này còn giúp HS có thể tự do
diến đạt ý tưởng, kiến thức và phát huy được óc sáng tạo, đặc biệt là trong các
môn học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội, những môn học cần có sự tư duy và
sáng tạo cao.
- TNKQ là loại hình câu hỏi, bài tập mà các phương án trả lời đã có
sẵn, hoặc nếu HS phải tự viết câu trả lời thì câu trả lời phải là câu ngắn và chỉ
duy nhất có một cách viết đúng. Trắc nghiệm này được gọi là TNKQ vì tiêu
chí đánh giá là đơn nhất, hoàn toàn không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan
của người chấm. So với TNTL thì TNKQ có một số ưu điểm và nhược điểm
sau:
Ưu điểm:
+ Bài kiểm tra bằng TNKQ bao gồm rất nhiều câu hỏi nên có thể bao
quát một phạm vi rất rộng của nội dung chương trình.
+ Có tiêu chí đánh giá đơn nhất, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan
của người chấm.
+ Sự phân bố điểm của các bài kiểm tra bằng TNKQ được trải trên một
phổ rộng hơn nhiều.
học tập.
2.3. Phân biệt các trình độ của mục tiêu nhận thức
Có rất nhiều cách phân loại mục tiêu nhận thức nhưng chúng tôi sử
dụng cách phân loại của GS. TS. Phạm Hữu Tòng.
2.3.1. Trình độ nhận biết, tái hiện, tái tạo
12
Mức độ này thể hiện ở khả năng nhận ra được, nhớ lại được, phát biểu
lại được đúng sự trình bày kiến thức đã có, giải đáp được câu hỏi thuộc dạng:
“A là gì? Thế nào? Thực hiện A như thế nào?”.
2.3.2. Trình độ hiểu, áp dụng (giải quyết được tình huống tương tự như
tình huống đã biết)
Mức độ này thể hiện ở khả năng giải thích, minh họa được nghĩa của
kiến thức, áp dụng được kiến thức đã nhớ lại, hoặc đã được gợi ra để giải
quyết được những tình huống tương tự với tình huống đã biết, theo cùng một
mẫu như tình huống đã biết, giải đáp được câu hỏi thuộc dạng: “A giúp giải
quyết X như thế nào?” (Kiến thức A giúp bạn giải quyết vấn đề này thế nào?).
2.3.3. Trình độ vận dụng linh hoạt (giải quyết được tình huống có biến đổi)
Mức độ này thể hiện ở khả năng lựa chọn, áp dụng tri thức trong tình
huống có biến đổi so với tình huống đã biết, nhận ra rằng có thể giải quyết
tình huống đã cho bằng cách vận dụng phối hợp các cách giải quyết các tình
huống theo các mẫu đã biết; giải đáp được câu hỏi thuộc dạng: “Các A nào
giúp giải quyết X và giải quyết như thế nào?” (Bạn biết gì về cái sẽ giúp bạn
gải quyết vấn đề này và giải quyết như thế nào?).
2.3.4. Trình độ sáng tạo (đề xuất và giải quyết vấn đề không theo mẫu có
sẵn)
Mức độ này thể hiện ra khả năng phát biểu và giải quyết các vấn đề
theo cách riêng của mình bằng cách lựa chọn, đề xuất và áp dụng kiến thức để
giải quyết được các vấn đề không theo các mẫu (Angorit) đã có sẵn; đề ra và
giải quyết được câu hỏi thuộc dạng: “Có vấn đề gì? Đề xuất ý kiến riêng, cách
Có thể có hai dạng, chúng có thể là những câu hỏi với giải đáp ngắn,
hay cũng có thể gồm những câu phát biểu với một hay nhiều chỗ trống mà HS
phải điền vào một từ hay một nhóm từ ngắn.
14
- Ưu điểm: thí sinh có cơ hội trình bày những câu hỏi khác thường, phát
huy óc sáng kiến, luyện trí nhớ.
- Nhược điểm: cách chấm không dễ dàng, thiếu yếu tố khách quan khi
chấm điểm. Đặc biệt nó chỉ kiểm tra khả năng nhớ, không có khả năng kiểm
tra phát hiện sai lầm của HS.
3.1.4. Phương pháp TNKQNLC
Loại câu hỏi TNKQNLC là câu hỏi trắc nghiệm gồm hai phần: phần
gốc và phần lựa chọn.
- Phần gốc: Là một câu hỏi hay một câu bỏ lửng (chưa hoàn thành).
Yêu cầu phải tạo căn bản cho sự lựa chọn, bằng cách phải đặt ra một
vấn đề hay, đưa ra một ý tưởng rõ ràng giúp cho người làm bài có thể biểu
diễn ra câu hỏi ấy muốn đòi hỏi điều gì để lựa chọn câu trả lời thích hợp.
- Phần lựa chọn (thường là 4 hay 5 lựa chọn): Gồm có nhiều giải pháp
có nhiều lựa chọn, trong đó có một lựa chọn được dự định là đúng, hay đúng
nhất, còn những phần còn lại là những “mồi nhử”. Điều quan trọng là làm sao
cho những “mồi nhử” ấy đều thấy hấp dẫn ngang nhau với những HS chưa
đọc kĩ hay chưa hiểu kĩ bài học.
Trong đề tài này tôi chọn trắc nghiệm khách quan bốn lựa chọn vì theo
tôi nếu ít lựa chọn hơn thì không bao quát được sai lầm của HS, nhiều lựa
chọn hơn có những mối thiếu căn cứ.
Câu TNKQNLC có những ưu, khuyết điểm sau:
- Ưu điểm:
+ Độ tin cậy cao.
+ HS phải xét đoán và phân biệt kĩ càng khi trả lời câu hỏi.
+ Tính chất giá trị tốt hơn.
trắc nghiệm.
16
Tóm lại, trắc nghiệm có thể phục vụ nhiều mục tiêu, người soạn trắc
nghiệm phải hiểu rõ mục tiêu của mình thì mới soạn thảo được bài trắc
nghiệm giá trị vì mục tiêu chi phối nội dung, hình thức bài trắc nghiệm. Các
câu hỏi trắc nghiệm khách quan được soạn thảo trong đề này với mục đích
chính là có thể chuẩn đoán, tìm ra chỗ mạnh, yếu của HS, giúp giáo viên điều
chỉnh phương pháp dạy học phù hợp hơn, và cũng có thể dùng để làm một bài
thi cuối chương, kì nhằm xếp hạng HS (giỏi, kém …). Hoặc có thể dùng một
số câu hỏi làm một bài kiểm tra thông thường nhằm kiểm tra những hiểu biết
tối thiểu của HS về chất khí, cấu tạo của chất khí,….
3.2.2. Phân tích nội dung môn học
Việc xác định các nội dung về kiến thức và kĩ năng cần đánh giá để đưa
vào kiểm tra phải dựa trên những mục tiêu cụ thể đã ghi trong chương trình
môn học. Việc xác định nội dung kiểm tra có thể được thực hiện theo những
bước sau đây:
- Phân chia nội dung của chương thành những nhóm kiến thức như
mạch kiến thức.
- Xác định mục tiêu dạy học: Xác định các mục tiêu thao tác với từng
nội dung kiến thức cụ thể.
3.2.3. Thiết lập dàn bài trắc nghiệm
Sau khi nắm vững mục tiêu của bài trắc nghiệm và phân tích nội dung
môn học ta lập được một dàn bài cho trắc nghiệm. Lập một bảng ma trận hai
chiều: Một chiều biểu thị nội dung và chiều kia biểu thị các quá trình tư duy
(mục tiêu nhận thức) mà bài trắc nghiệm muốn khảo sát. Số câu hỏi được đưa
vào trong mỗi loại phải được xác định rõ và ma trận này phải được đảm bảo
xong trước khi các câu hỏi trắc nghiệm được viết ra.
Dàn bài trắc nghiệm.
17
chiều để viết các câu hỏi trắc nghiệm. Khi viết chúng ta nên theo các quy tắc
khi soạn thảo, những lời khuyên thực tế, những gợi ý của các chuyên gia về
đánh giá giáo dục.
3.2.5. Chỉnh lí sơ bộ các câu hỏi
Phân tích sơ bộ các câu hỏi trước khi đem ra thực nghiệm để phát hiện
trước những sai sót có thể có trong quá trình soạn thảo: Sự chính xác của các
thuật ngữ, cách diễn đạt những câu chưa đảm bảo yêu cầu kiến thức, thời gian
làm bài, sự hợp lí của các số liệu, cũng như loại bỏ các dư thừa, các phương
án nhiễu không hợp lí …. Do đó những ý kiến của các bạn đồng nghiệp các
chuyên gia rất bổ ích trong việc sửa chữa, hiệu chỉnh các câu hỏi.
18
3.2.6. Hoàn thiện câu hỏi
Thực hiện nhằm mục đích kiểm tra tính khả thi, tính hiệu quả của việc
sử dụng các câu hỏi. Qua các đợt thực nghiệm để có những số liệu thống kê
làm cơ sở để lựa chọn và giữ lại các câu hỏi tôt dồng thời sửa lại hoặc loại bỏ
các câu hỏi không đạt yêu cầu.
4. Cách trình bày và cách chấm điểm một bài TNKQNLC
4.1. Cách trình bày TNKQNLC
Có hai cách thông dụng:
- Cách 1: Dùng máy chiếu, thời gian để chiếu mỗi câu hay mỗi phần lên
màn ảnh ấn định đủ cho HS bình thường có thể trả lời được.
Ưu điểm của phương pháp này:
+ Kiểm soát được thời gian
+ Tránh được sự thất thoát đề thi.
+ HS phải trả lời nhanh, tránh được phần nào gian lận.
- Cách 2: Thông dụng hơn là in bài trắc nghiệm ra nhiều bản tương ứng
với số người dự thi. Trong cách này có hai kiểu bài để cho HS trả lời:
+ Bài có giành phần trả lời của HS ngay trên đề thi thẳng ở phía bên