ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NƯỚC SINH HOẠT NÔNG THÔN TỈNH QUẢNG TRỊ - Pdf 26


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA: KHÍ TƢỢNG THỦY VĂN & HẢI DƢƠNG HỌC
Lƣu Thị Hƣơng

ĐÁNH GIÁ CHẤT LƢỢNG NƢỚC SINH HOẠT NÔNG
THÔN TỈNH QUẢNG TRỊ KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP HỆ ĐẠI HỌC CHÍNH QUY
Ngành Thủy văn
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP HỆ ĐẠI HỌC CHÍNH QUY
Ngành: Thủy văn
Cán bộ hƣớng dẫn: TS. Nguyễn Thanh Sơn Hà Nội - 2009 3 LỜI CẢM ƠN


1.2.3. Tài nguyên nƣớc ngầm 18
1.3. DÂN SỐ NÔNG THÔN QUẢNG TRỊ 19
CHƢƠNG 2: ĐIỀU TRA ĐÁNH GIÁ NGUỒN VÀ CHẤT LƢỢNG NƢỚC SINH
HOẠT NÔNG THÔN TỈNH QUẢNG TRỊ 22
2.1. ĐÁNH GIÁ NGUỒN NƯỚC SINH HOẠT NÔNG THÔN QUẢNG TRỊ 22
2.1.1. Nƣớc mƣa 22
2.1.2. Nƣớc sông 22
2.1.3. Nƣớc hồ đập 23
2.1.4. Nƣớc giếng 23
2.1.5.Nƣớc mạch lộ 23
2.2. TRỮ LƯỢNG NƯỚC TỈNH QUẢNG TRỊ 24
2.2.1. Trữ lƣợng nƣớc mặt 24
2.2.2. Trữ lƣợng nƣớc ngầm 26
2.3. CHẤT LƯỢNG NƯỚC SINH HOẠT NÔNG THÔN TỈNH QUẢNG TRỊ 28
2.3.1. Đánh giá chất lƣợng nƣớc theo tiêu chuẩn nƣớc sạch. 34
2.3.2. Đánh giá chất lƣợng nƣớc so với tiêu chuẩn nƣớc ăn uống 37
CHƢƠNG 3: ĐIỀU TRA ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG KHAI THÁC, SỬ DỤNG
VÀ QUẢN LÝ NƢỚC SINH HOẠT NÔNG THÔN TỈNH QUẢNG TRỊ 40
3.1. HIỆN TRẠNG KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG NƯỚC SINH HOẠT NÔNG
THÔN TỈNH QUẢNG TRỊ 40
3.1.1.Khai thác nƣớc mƣa 41
3.1.2. Khai thác nƣớc dƣới đất 41
3.1.3. Nƣớc mặt 44
3.1.4. Hệ thống cấp nƣớc tập trung 44

5
3.2. HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ NƯỚC SINH HOẠT NÔNG THÔN QUẢNG TRỊ . 51
3.3. ĐÁNH GIÁ CÁC HOẠT ĐỘNG KINH TẾ XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
QUẢNG TRỊ ĐẾN NGUỒN NƯỚC SINH HOẠT NÔNG THÔN 52
3.3.1.Tác động của các hoạt động kinh tế xã hội đến nguồn nƣớc sinh hoạt nông

Nguồn nƣớc có khả năng tự tái tạo, nhƣng với những nguyên nhân kể trên và sự
thiếu kiểm soát chất lƣợng nƣớc, nguồn nƣớc đang có nguy cơ ô nhiễm cả trên bề mặt
và ở các tầng nƣớc dƣới đất làm cho nhiều nguồn nƣớc không còn giá trị sử dụng ảnh
hƣởng trực tiếp đến cuộc sống con ngƣời. Việc khai thác nguồn nƣớc hiện nay không
chỉ tính đến trữ lƣợng khai thác mà còn phải khai thác bền vững tài nguyên nƣớc.
Nguồn nƣớc phục vụ sinh hoạt đƣợc quan tâm hàng đầu, tuy trữ lƣợng nƣớc
dùng trong sinh hoạt không nhiều bằng các ngành kinh tế khác nhƣng chất lƣợng nƣớc
lại yêu cầu cao hơn đặc biệt nƣớc cho ăn uống vì đây là con đƣờng ngắn nhất để nƣớc
không đảm bảo chất lƣợng ảnh hƣởng đến đời sống, sức khoẻ con ngƣời. Nƣớc sinh
hoạt nông thôn tỉnh Quảng Trị hiện nay chƣa đƣợc quan tâm nhiều đến chất lƣợng
nƣớc, nhiều vùng nông thôn còn sử dụng nguồn nƣớc chƣa đảm bảo.
Khoá luận " Đánh giá chất lượng nước sinh hoạt nông thôn tỉnh Quảng Trị "
dựa trên số liệu điều tra trên địa bàn các xã vùng nông thôn tỉnh Quảng Trị và các mẫu
phân tích chất lƣợng nƣớc từ các nguồn: nƣớc mƣa, nƣớc giếng, nƣớc sông hồ; đối

7
sánh hiện trạng khai thác và sử dụng nƣớc và chất lƣợng nƣớc sinh hoạt nông thôn
Quảng Trị hiện nay theo tiêu chuẩn nƣớc ăn uống và sinh hoạt của Bộ Y tế ban hành.
Khoá luận ngoài mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo có 3 chƣơng:
 Chƣơng 1: Tài nguyên nƣớc và dân số nông thôn Quảng Trị
 Chƣơng 2: Điều tra đánh giá nguồn và chất lƣợng nƣớc sinh hoạt nông thôn
tỉnh Quảng Trị
 Chƣơng 3: Điều tra đánh giá hiện trạng khai thác, sử dụng và quản lý nƣớc
sinh hoạt nông thôn tỉnh Quảng Trị

8
Chƣơng 1

- Vùng cát ven biển: chiếm 9 % tỷ lệ toàn tỉnh, dải cát này chạy dọc từ cửa
Tùng đến bãi biển Mỹ Thuỷ theo dạng cồn cát. Chiều rộng cồn cát nơi rộng nhất tới
3-4 km, dài đến 35 km. Dốc về 2 phía: đồng bằng và biển, cao độ bình quân của các
cồn cát từ +4 +6 m.
- Vùng đồng bằng: dạng đồng bằng ở đây là các thung lũng sâu kẹp giữa các
dải đồi thấp và cồn cát hình thành trên các cấu trúc uốn nếp của dãy Trường Sơn,
có nguồn gốc mài mòn và bồi tụ. Ở đây có các vùng đồng bằng rộng lớn chiếm
khoảng 11 % so với toàn tỉnh như:
+ Đồng bằng hạ du sông Bến Hải, cao độ biến đổi từ +1,0  +2,5 m; địa hình
bằng phẳng. Xuôi theo chiều dài dòng chảy của sông Sa Lung, dạng đồng bằng này
có tới gần 8.000 ha.
+ Đồng bằng dọc sông Cánh Hòm: là dải đồng bằng hẹp chạy từ phía Nam
cầu Hiền Lương tới bờ Bắc sông Thạch Hãn, thế dốc của dải đồng bằng này là từ
hai phía Tây và Đông dồn vào sông Cánh Hòm. Cao độ bình quân dạng địa hình này
từ +0,5  1,5m.
+ Đồng bằng hạ du sông Vĩnh Phước và đồng bằng Cam Lộ: dạng địa hình
bằng phẳng, tập trung xã Triệu Ái, Triệu Thượng. Địa hình đồng bằng có cao độ
bình quân từ +2,0  4,0m, dải đồng bằng này hẹp chạy theo hướng Tây - Đông, kẹp
2 bên là các dãy đồi thấp.
+ Địa hình đồng bằng phù sa phân bố ven sông nằm kẹp giữa vùng gò đồi
phía Tây và vùng cát ven biển, có độ cao không đều là thành tạo của các quá trình
bồi đắp phù sa của các hệ thống sông và các dải đất dốc tụ được khai phá từ lâu
phân bố dọc theo quốc lộ 1A từ huyện Vĩnh Linh đến huyện Hải Lăng.
Chú giải:
Trạm đo lƣu lƣợng
Trạm đo mƣa
Trạmđo mực nƣớc
Đƣờng phân lƣu vực
Sông suối


Cát trắng chiếm ưu thế, tầng dưới cùng bước đầu có tích tụ sắt. Lớp vỏ phong hoá
khá dày, thành phần cơ giới trên 97% là cát. Đất nghèo các nguyên tố vi lượng.
+ Tiểu vùng đất nhiễm mặn cửa Tùng được tạo thành dưới tác động của thuỷ

11
triều phân bố ở địa hình thấp, bậc thềm phù sa ven sông hoặc mực nước ngầm
nông. Diện tích đất này chiếm ít.
- Vùng gò đồi: Hầu hết có dạng địa hình đồi thấp, một số dạng thung lũng
sông thuộc địa phận huyện Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ trên vỏ phong hoá mazma.
Nhiều nơi hình thành đất trống, đồi trọc. Thực vật chủ yếu là cây dạng lùm bụi, cây
có gai. Đất đai ở những nơi không có cây bị rửa trôi khá mạnh.
+ Tiểu vùng đất đỏ Bazan: thuộc khu vực Cồn Tiên, Dốc Miếu và Tân Lâm, .
Diện tích khoảng 10.200 ha. Đất có tầng dày trên 1,2 m, có tới 6.300 ha.
+ Tiểu vùng đồi thấp sa phiến thạch giáp đồng bằng được hình thành trên đá
mẹ sa phiến thạch, tầng mỏng, bị bào mòn mạnh, thực vật nghèo nàn.
- Vùng đồi, núi dãy Trường Sơn: ở đây núi cao bị chia cắt mạnh, thực vật
nghèo.
+ Tiểu vùng đất bazan các xã Tân Hợp, Tân Độ, Tân Liên, nông trường Khe
Sanh, Hướng Phùng có dạng địa hình lượn sóng, chia cắt yếu, đất đai phù hợp cho
phát triển trồng cây công nghiệp dài ngày.
+ Tiểu vùng đất sa phiến thạch thuộc địa phận Lao Bảo, Lìa: nằm trong vùng
đứt gãy dọc đường 9, giáp khu vực Lao Bảo. Địa hình ở đây thấp, trũng, đồi lượn
sóng. Đất phát triển trên phiến thạch sét biến chất.
1.1.4. Thảm thực vật
Trong thời gian chiến tranh, tỉnh Quảng Trị nằm trong vùng chiến tranh, huỷ
diệt khốc liệt, lớp phủ thực vật bị tàn phá. Ngay khi đất nước thống nhất, kế hoạch
khôi phục lớp phủ thực vật với ý nghĩa phục hồi các hệ sinh thái tối ưu, trở thành kế
hoạch hành động cụ thể và tích cực. Đến 1990, nhiều diện tích rừng trồng và rừng
tự nhiên tái sinh do khoanh nuôi bảo vệ đã xuất hiện. Đồng thời với các kế hoạch
trồng rừng, trong giai đoạn từ 1995 đến 2000, thực hiện hạn chế khai thác rừng tự

II
III
IV
V
VI
VII
VIII
IX
X
XI
XII
Năm
Vĩnh Linh
129.9
83.3
48.6
51.9
100.5
97.8
94.3
125.3
420.2
766.0
462.3
227.0
2614.1
Gia Vòng
60.1
47.9
35.4

105.7
82.9
135.3
476.4
710.6
438.6
240.7
2627.3
Cửa Việt
57.6
48.6
33.1
50.8
102.6
63.4
68.1
150.3
398.6
574.3
415.7
219.6
2187.8
Hƣớng Hoá
83.6
61.7
47.8
97.8
191.5
171.7
148.9

762.0
411.8
227.8
2794.3
2. Nhiệt độ không khí

13
Nhiệt độ không khí thay đổi theo mùa trong năm trong vùng thấp nhất vào
mùa đông cao nhất vào mùa hè. Nhiệt độ bình quân nhiều năm vào khoảng 24,3
o
C.
Chênh lệch nhiệt độ trong ngày từ 7 tới 10
o
C

. Chênh lệch nhiệt độ giữa các mùa
khá lớn tháng có nhiệt độ cao thường khoảng 35
0
C-40
0
C (tháng V và) VII), tháng
tháp nhất thường khoảng 18
0
C có khi xuống tới 8-9
0
C
Nhiệt độ trung bình các tháng tại một số trạm trong tỉnh Quảng Trị được thể
hiện trong bảng 2
Bảng 2. Nhiệt độ trung bình các tháng tại các trạm khí tượng tỉnh Quảng Trị(
0

28.1
25.6
28.4
VI
28.7
29.0
26.0
29.4
VII
29.2
29.1
25.4
29.5
VIII
28.2
25.5
24.7
29.0
IX
26.7
26.6
24.1
27.0
X
25
24.6
22.6
25.0
XI
22.1

(nhân dân địa phương gọi là gió Lào). Thời kỳ có gió Lào là thời kỳ nóng nhất trong
tỉnh Quảng Trị. Bão và xoáy thuận nhiệt đới là những biến động thời tiết lớn hoạt
động rất mạnh mẽ và thất thường. Trong thời gian có bão thường đi kèm mưa lớn
và có thể gây ra hiện tượng lũ quét.
1.1.6.Thuỷ văn
Trên địa phận tỉnh Quảng Trị có 12 con sông lớn tập trung thành ba hệ thống
sông chính:
Hệ thống sông Thạch Hãn (còn gọi là sông Quảng Trị): bắt nguồn từ núi Ba
Lòng có chiều dài 156km tổng diện tích lưu vực vào khoảng 2.660km
2
, độ cao bình
quân lưu vực 301 m, độ dốc bình quân lưu vực là 20,1%, độ rộng trung bình lưu
vực là 36,8 km, mật độ lưới sông là 0,92; hệ số uốn khúc là 3,5 gồm 37 con sông
gồm 17 sông nhánh cấp I với 3 nhánh tiêu biểu là Vĩnh Phước, Rào Quán và Cam
Lộ, 13 sông nhánh cấp II, 6 sông nhánh cấp III đổ ra biển cửa Việt.
Hệ thống sông Bến Hải: bắt nguồn từ độ cao 500m phần thượng lưu có tên
là Đông Châu, đổ ra biển Đông tại Cửa Tùng. Diện tích lưu vực là 809 km
2
, dài 64,5
km, độ cao bình quân lưu vực 115 m, độ dốc bình quân lưu vực là 15,7%, mật độ
lưới sông là 1,15; hệ số uốn khúc là 1,43.
Hệ thống sông Ô Lâu: bắt nguồn từ độ cao 900m thuộc lưu vực sông Mỹ
Chánh chảy qua phá Tam Giang về cửa Thuận An bao quát một diện tích lưu vực là
855 km
2
, dài 65 km. Đầu nguồn lưu vực nằm ở địa phận tỉnh Thừa Thiên – Huế.
Ngoài ra còn có một số sông suối lưu vực sông Sê Pôn và Sê Păng Hiêng thuộc
Tây Trường Sơn và một số suối nhỏ vùng cồn cát đổ thẳng ra biển.
Dòng chảy sông suối trong tỉnh Quảng Trị không những phân bố không đều
trong lãnh thổ mà còn phân bố không đều trong năm. Hàng năm, dòng chảy sông

Quảng Trị là một tỉnh có lượng mưa khá lớn (trung bình 2500mm/ năm). Để
theo dõi lượng mưa trên, trên lãnh thổ Quảng Trị có 4 trạm đo mưa chính:
- Trạm Cửa Tùng có lượng mưa trung bình 2625mm/năm. Tháng X mưa
nhiều nhất 707mm, tháng mưa ít nhất 48mm (tháng III)
- Trạm Quảng Trị lượng mưa trung bình năm 2759mm. Tháng mưa nhiều
nhất 644mm (tháng X), tháng mưa ít nhất 50mm (tháng III, IV)
- Trạm Đông Hà lượng mưa trung bình là 2325 mm (tháng X), tháng mưa ít

16
nhất 42mm (tháng III, IV)
- Trạm Khe Sanh lượng mưa trung bình là 2032 mm (tháng IX), tháng mưa ít
nhất 8mm (tháng II).
Nếu tính đơn giản lượng mưa trung bình năm ở Quảng Trị là 2453mm. Như
vậy lượng mưa trên lãnh thổ Quảng Trị xấp xỉ 12 tỷ m
3
mỗi năm. Lượng mưa tháng
ít nhất không đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và sản xuất. Ngược lại tháng mưa nhiều
nhất lượng mưa dư thừa gây ngập lụt ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất.

17
2. Đặc điểm phân bố theo không gian và thời gian
Bảng 3. Số liệu mưa năm và số ngày mưa trong tỉnh Quảng Trị
Tháng
Cửa Tùng
Đông Hà
Khe Sanh
Quảng Trị
R(mm)
N(ngày)
R(mm)

37
7
IV
48
9
42
7
50
12
37
7
V
80
10
70
9
84
10
149
15
VI
120
7
107
9
126
7
215
14
VII

18
644
19
256
20
XI
532
21
474
19
562
20
153
20
XII
259
17
230
15
273
18
62
13
Cả năm
2625
160
2325
196
2759
155

tăng hơn so mùa mưa. Vì vậy sử dụng nước sông suối phải có hệ thống lắng cặn và
sử lý thích hợp cho mùa khô và mùa mưa.
- Nước trong các ao, kênh mương
Nước trong các ao kênh mương thuỷ lợi thường có độ khoáng hoá nhỏ, thành
phần vi lượng nhỏ. Song hàm lượng hưu cơ cao như NO
2
-
, NO
3
-
,NH
4
+
,P0
4
3-
….thường cao lượng vi sinh vật rất cao. Mặt khác do đây là nguồn cấp nước chính
cho nông nghiệp lên có dấu hiệu ô nhiễm do dư lượng thuốc sâu trong nước không
thuận lợi cho cấp nước sinh hoạt.
- Nước hồ ở Quảng Trị có một số hồ cấp nước lớn. Dung tích các hồ lớn là
hồ Hà Thượng diện tích 250ha, hồ Kinh Môn 300 ha, hồ La Ngàn 350 ha, hồ Tân Đô
500ha. Nhìn chung nước hồ có hàm lượng muối thấp nước trung bình có pH là 6.5-
7.5 chủ yếu nước có loại hình bicacbonat natri, hàm lượng nguyên tố vi lượng nhỏ,
hàm lượng vi sinh vật cao. Nhìn chung chưa đảm bảo chất lượng cho nước sinh
hoạt cần sử lý trước khi sử dụng
1.2.3. Tài nguyên nƣớc ngầm
Nước ngầm Quảng Trị có ở nhiều tầng chứa nước, tồn tại trong các lỗ hổng
và khe nứt phân bố không đều cả trên bình diện và phương thẳng đứng
Nước lỗ hổng
Ở Quảng Trị, nước lỗ hổng tồn tại trong các trầm tích bở rời được phát hiện

chống ô nhiễm của các tầng chứa nước là khá cao.
1.3. DÂN SỐ NÔNG THÔN QUẢNG TRỊ
Theo Niên giám thống kê năm 2007 của Cục thống kê Quảng Trị và các xã đã
điều tra, dân số các xã nông thôn đã điều tra là 431799 người chiếm 68,15% dân số
toàn tỉnh. Phân bố dân số không đều trong các huyện. Cơ cấu dân số vùng nông thôn
tỉnh Quảng Trị như sau:

20
Nam: 228538 người
Nữ: 237992 người
Trong độ tuổi lao động: 214492 người chiếm 49.67% dân số nông thôn toàn tỉnh
Dân số phân bố không đều đặc biệt có sự khác biệt lớn giữa đồng bằng và
miền núi. Tốc độ tăng dân số trong vùng còn cao.

21
Bảng 4: Phân bố dân số theo huyện vùng nông thôn Quảng Trị
Huyện
Dân số
Nữ
Nam
LĐ trong độ tuổi
Vĩnh Linh
64499
32349
32150
32679
Hƣớng Hoá
52666
26734
25932

214492
Dân cư trong vùng chủ yếu là người Kinh, sống tập trung ở dải đồng bằng ,
đồng bằng ven biển. Số còn lại là các dân tộc ít người như người Sách, Thái, Dao,
Vân Kiều, Sào, Pa Cô tập trung chủ yếu ở huyện Hướng Hoá và Đắk Rông. Nói
chung, trong từng khu vực các nhóm dân cư của từng dân tộc thường sống quần tụ
và mang sắc thái riêng trong đời sống kinh tế- xã hội và phong tục khai thác sử dụng
nước khác nhau.Nhìn chung dân số Quảng Trị có số dân nông thôn cao, phân bố
không đều, có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống với nhiều phong tục tập quán sinh
hoạt khác nhau, việc khai thác và sử dụng nước cũng mang nhiều sắc thái khác
nhau. Việc đánh giá chất lượng nước sinh hoạt đáp ứng yêu cầu sử dụng nước
sạch nâng cao đời sống xã hội cần tuyên truyền đến từng hộ gia đình.

22
Chƣơng 2
ĐIỀU TRA ĐÁNH GIÁ NGUỒN VÀ CHẤT LƢỢNG NƢỚC SINH HOẠT NÔNG
THÔN TỈNH QUẢNG TRỊ
2.1. ĐÁNH GIÁ NGUỒN NƯỚC SINH HOẠT NÔNG THÔN QUẢNG TRỊ
Quảng Trị là một tỉnh ven biển miền Trung có điều kiện địa lý tự nhiên khá
phức tạp cả về vị trí địa lý, đặc điểm địa hình cũng như cấu tạo địa chất và đất.
Chính sự phức tạp đó đã ảnh hưởng quan trọng đến qui luật phân bố theo không
gian và thời gian của lượng mưa, lượng bốc hơi, nhiệt độ không khí, độ ẩm không
khí và cả lượng dòng chảy của các thủy vực trong tỉnh cho thấy đặc trưng tài
nguyên nước ở Quảng Trị biến đổi tương đối lớn theo không gian và thời gian.
2.1.1. Nƣớc mƣa
Lượng mưa hàng năm Quảng Trị tính trung bình 2200 mm, nước mưa được
khai thác sử dụng phổ biến vào mùa khô, tuy vậy nước mưa chưa được khai thác
quy mô lớn mới chỉ tập chung các hộ dân di cư miền Bắc vào Quảng Trị sinh sống,
trên địa bàn tỉnh Quảng Trị hiện nay có 2061 hộ sử dụng. Việc sử dụng nước mưa
phục vụ nhu cầu ăn uống sinh hoạt ở nông thôn đơn giản và tiện lợi nhất. Bản chất
nước mưa có chất lượng khá tốt, thường là siêu nhạt (độ khoáng hoá từ 0.01-

hoạt và các hoạt động kinh tế trên bề mặt.
Hầu hết nhân dân nông thôn Quảng Trị sử dụng nƣớc ngầm mạch nông để sử
dụng. Khoảng 70-80% hộ dân trong tỉnh sử dụng nguồn nƣớc này cho ăn uống sinh
hoạt qua hai công trình khai thác là giếng đào và giếng khoan. Các tầng nông mùa
mƣa thì đủ nƣớc dùng nhƣng về mùa khô nhiều vùng thiếu nƣớc, lƣợng nƣớc xấu đi
do nhiễm phèn, nhiễm mặn.
2.1.5. Nƣớc mạch lộ
Nhiều đồng bào dân tộc ít ngƣời sử dụng nƣớc ngầm xuất lộ ra từ các khe núi
hay sƣờn đồi, tập chung khai thác một số vùng thiếu nƣớc quanh năm bằng các hệ
thống ống, kênh dẫn nƣớc về nơI sử dụng. Nƣớc mạch lộ có trữ lƣợng nhỏ hơn các
nguồn nƣớc khác, chất lƣợng tốt không bị ô nhiễm bởi các hoạt động của con ngƣời.
Song trong qua quá trình dẫn nƣớc về nơi sử dụng bằng các kênh mƣơng dẫn không
đảm bảo làm chất lƣợng nƣớc suy giảm.
Tóm lại: ƣớc tính mức dùng nƣớc chung cho vùng nông thôn trong tỉnh là 45-
50l/ngày/ ngƣời, tất cả các nguồn nƣớc đều đƣợc khai thác và sử dụng cho mục đích

24
sinh hoạt, Theo kết quả đánh giá chất lƣợng nƣớc của ngƣời dân sử dụng đạt giá trị
trung bình chiếm đa số, các mẫu nƣớc đạt chất lƣợng tốt còn ít và còn khá nhiều mẫu
điều tra đánh giá chất lƣợng nƣớc thuộc loại kém có màu, mùi, vị không đạt tiêu chuẩn.
Để khai thác và sử dụng tốt nguồn nước, hạn chế những thiệt hại gây bởi
thiên tai, và ô nhiễm nguồn nước từ các hoạt động kinh tế cần phải xây dựng
chiến lược phát triển bền vững tài nguyên nước trong toàn tỉnh.
2.2. TRỮ LƯỢNG NƯỚC TỈNH QUẢNG TRỊ
2.2.1. Trữ lƣợng nƣớc mặt
Theo quan điểm cấp nƣớc sinh hoạt thì nƣớc mặt bao gồm nƣớc sông suối, ao,
hồ, kênh mƣơng Trên địa bàn tỉnh Quảng Trị có nhiều hệ thống sông suối nhỏ có
các hệ thống sông lớn là hệ thống sông Thạch Hãn, hệ thống sông Bến Hải, hệ thống
sông Ô Lâu.Theo các nghiên cứu thuỷ văn thì dòng chảy của các sông Việt Nam có
quan hệ mật thiết với lƣợng mƣa. Kết quả nghiên cứu của trƣơng trình KC 12 xác

khăn.
Ngoài dòng chảy trên các sông Quảng Trị còn có các hồ chứa nhân tạo. Khả
năng điều tiết hồ là 80.106 m
3
/ năm. Theo điều tra thì tổng lƣợng nƣớc mặt nƣớc hồ
khoảng 700ha. Hầu hết các hồ cạn vào mùa khô, chỉ có các hồ đập chứa có một lƣợng
đáng kể. Tỉnh hiện có 301 công trình thủy lợi, trong đó có 200 công trình hồ chứa,
đập dâng lớn, vừa và nhỏ. Tổng dung tích nƣớc của các công trình thủy lợi khoảng
295 triệu m3 (trong đó tổng dung tích hồ chứa các loại cung cấp 211 triệu m
3
, các đập
dâng và trạm bơm tập trung cung cấp 82 triệu m
3
, số còn lại là các trạm bơm quy mô
nhỏ. Bảng 5 liệt kê các hồ, đập chính ở Quảng Trị.
Bảng 5. Các hồ, đập do doanh nghiệp quản lý
TT
Tên hồ chứa
Địa điểm
Đơn vị quản lý
Dung tích (triệu m
3
)
Chứa
Hữu ích
1
Trúc Kinh
Gio Linh
CT KTN Trúc Kinh
38.9

6.5
7
Bàu Nhum
Vĩnh Linh
XNKTN Vĩnh Linh
9.0
8.0
8
Nghĩa Hy
Cam Lộ
XNKTN Đông Hà
3.27
3.24
9
Khe Mây
Đông Hà
XNKTN Đông Hà
1.2
0.8
10
Nam Thạch Hãn
Hải Lăng
XNKTN Nam Th

70
Vậy tổng lƣợng dòng chảy ở các sông Quảng Trị tƣơng đối lớn cộng thêm một
số hồ có dung tích lớn có thể cấp đủ nƣớc cho sinh hoạt. Song các sông ở Quảng Trị
đều ngắn và dốc đã góp phần tạo nên các giả trị cực đoan của dòng chảy gây nên lũ
lụt vào mùa mƣa, cạn kiệt dòng chảy mặt vào mùa khô ở các vùng khác nhau. Theo
kết quả phân tích lƣợng mƣa và lƣợng bốc hơi trong các trạm khí tƣợng tại Quảng Trị


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status