quan trắc đánh giá chất lượng nước sinh hoạt khu vực khai thác than khai thác khoáng sản - Pdf 22

MỤC LỤC
1
Phần 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Cuộc sống trên Trái Đất bắt nguồn từ trong nước. Tất cả các sự sống
trên Trái Đất đều phụ thuộc vào nước và vòng tuần hoàn nước.
Nước là thành phần quan trọng của các tế bào sinh học và là môi
trường của các quá trình sinh hóa cơ bản như quang hợp.
Hơn 70% diện tích của Trái Đất được bao phủ bởi nước. Lượng nước
trên Trái Đất có vào khoảng 1,38 tỉ km³. Trong đó 97,4% là nước mặn trong
các đại dương trên thế giới, phần còn lại, 2,6%, là nước ngọt, tồn tại chủ yếu
dưới dạng băng tuyết đóng ở hai cực và trên các ngọn núi, chỉ có 0,3% nước
trên toàn thế giới (hay 3,6 triệu km³) là có thể sử dụng làm nước uống. Việc
cung cấp nước uống sẽ là một trong những thử thách lớn nhất của loài người
trong vài thập niên tới đây.
Nước được sử dụng trong công nghiệp từ lâu như là nguồn nhiên liệu
(cối xay nước, máy hơi nước, nhà máy thủy điện), Như là chất trao đổi nhiệt.
Với tình trạng ô nhiễm ngày một nặng và dân số ngày càng tăng, nước
sạch dự báo sẽ sớm trở thành một thứ tài nguyên quý giá không kém dầu mỏ
trong thế kỷ trước. Nhưng không như dầu mỏ có thể thay thế bằng các loại nhiên
liệu khác như điện, nhiên liệu sinh học, khí đốt , nhưng nước thì không thể thay
thế và trên thế giới tất cả các dân tộc đều cần đến nó để bảo đảm cuộc sống của
mình, cho nên vấn đề nước trở thành chủ đề quan trọng trên các hội đàm quốc tế
và những mâu thuẫn về nguồn nước đã được dự báo trong tương lai.
1
Nước uống luôn luôn là một thức uống quan trọng và duy trì cuộc sống
cho con người và là điều kiện cần thiết cho sự sống còn của tất cả các sinh
vật trên địa cầu này. Nước chiếm khoảng 70% khối lượng của cơ thể con người
và là một thành phần quan trọng của quá trình trao đổi chất, một dung môi cho
nhiều chất hòa tan của cơ thể. Con người cần uống 2,0 lít mỗi ngày (tức khoảng

mặt, quan trắc thường xuyên trữ và chất lượng nước ngầm. Bảo vệ tài nguyên
nguồn nước, xử lý kim loại nặng trong nước ngầm là vô cùng cấp thiết.
Theo báo cáo hiện trạng môi trường nước của trung tâm nước sạch và
vệ sinh môi trường, (2010) (1) thì nhu cầu về nước trong cơ thể con người
phụ thuộc vào khả năng chuyển hóa và vận động, do vậy đối với mỗi con
người nhu cầu nước là khác nhau:
* Trẻ bú mẹ cần từ 0,3 đến 1 lít nước (sữa)/ngày.
* Trẻ từ 1-15 tuổi cần từ 1 đến 1,8 lít nước/ngày.
* Người lớn cần từ 1,8 đến 2,5 lít nước/ngày.
* Lượng nước thu nạp hàng ngày đó có tới 50% là nước uống, 40-45%
là từ thức ăn và phần còn lại là từ chuyển hóa.
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và sự nhất trí của Khoa Môi trường
trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, em tiến hành nghiên cứu đề tài: "Đánh
giá chất lượng nước sinh hoạt khu vực khai thác than An Khánh - Đại Từ -
Thái nguyên" dưới sự hướng dẫn của thầy giáo PGS.TS Nguyễn Thế Hùng.
1.2. Lí do chọn đề tài
3
Hiện nay vấn đề ô nhiễm nói chung và vấn đề ô nhiễm môi trường
nước nói riêng đang là một thực trạng đáng lo ngại. Vấn đề xử lý nước và
cung cấp nước sạch đang là mối quan tâm lớn của nhiều quốc gia, tổ chức xã
hội, bản thân mỗi cộng đồng dân cư, nước ta cũng không ngoại lệ.
Nhằm góp phần nhỏ vào việc bảo vệ môi trường sống của người dân
em chọn đề tài để:
- Biết được chất lượng nước sinh hoạt trên địa bàn xã.
- Khuyến cáo người dân sử dụng nước sạch trong sinh hoạt nhằm đảm
bảo sức khỏe.
1.3. Mục tiêu của đề tài
- Xác định hàm lượng các chất có trong nguồn nước sinh hoạt tại địa
bàn xã An Khánh - Đại Từ - Thái Nguyên.
- Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm.

* Chức năng của môi trường:
1. Môi trường là không gian sống cho con người và thế giới sinh
vật.
2. Môi trường là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên cần thiết cho đời
sống và sản xuất của con người.
3. Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra
trong quá trình sống.
4. Chức năng lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người
5. Bảo vệ con người và sinh vật khỏi những tác động từ bên ngoài.
5
* Tiêu chuẩn môi trường:
Theo luật bảo vệ môi trường Việt Nam năm 2005: "Tiêu chuẩn môi
trường là những chuẩn mực, giới hạn cho phép, được quy định dùng làm căn
cứ để quản lý môi trường".
* Ô nhiễm môi trường nước:
Ô nhiễm môi trường nước là sự thay đổi thành phần và chất lượng
nước không đáp ứng cho các mục đích sử dụng khác nhau, vượt quá tiêu
chuẩn cho phép và có ảnh hưởng xấu đến đời sống con người và sinh vật.
* Nước ngầm:
Là một dạng nước dưới đất, tích trữ trong các lớp đất đá trầm tích bở
rời như cặn, sạn, cát bột kết, trong các khe nứt, hang caxtơ dưới bề mặt trái
đất, có thể khai thác cho các hoạt động sống của con người".
Theo độ sâu phân bố, có thể chia nước ngầm thành nước ngầm tầng
mặt và nước ngầm tầng sâu. Ðặc điểm chung của nước ngầm là khả năng di
chuyển nhanh trong các lớp đất xốp, tạo thành dòng chảy ngầm theo địa hình.
Nước ngầm tầng mặt thường không có lớp ngăn cách với địa hình bề mặt. Do
vậy, thành phần và mực nước biến đổi nhiều, phụ thuộc vào trạng thái của
nước mặt. Loại nước ngầm tầng mặt rất dễ bị ô nhiễm. Nước ngầm tầng sâu
thường nằm trong lớp đất đá xốp được ngăn cách bên trên và phía dưới bởi
các lớp không thấm nước Theo không gian phân bố, một lớp nước ngầm

- TCVN 6000:1995 Chất lượng nước. Lấy mẫu. Hướng dẫn lấy mẫu
nước ngầm.
- QCVN 01:2009/BYT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng
nước ăn uống.
- QCVN 02:2009/BYT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng
nước sinh hoạt.
- QCVN 09:2008/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng
nước ngầm.
2.2. Tình hình ô nhiễm và các vấn đề môi trường trên thế giới và ở Việt Nam
2.2.1. Hiện trạng ô nhiễm nước sinh hoạt tại các quốc gia trên thế giới
Nước, bao gồm cả nước ngọt và nước mặn, là nhu cầu thiết yếu đối với
sản xuất và cuộc sống. Nước do thiên nhiên ban tặng, là nguồn tài nguyên vô
tận và quốc gia nào cũng có. Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế và xã hội, gia
tăng dân số, ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu khiến nguồn "vàng trắng"
trở thành một vấn đề báo động toàn cầu.
Nhiều quốc gia, kể cả một số nước thuộc vùng nhiệt đới, thiếu nước
sạch cho sản xuất và sinh hoạt. Không ít nước rất khốn khổ vì quá nhiều
nước, như lũ lụt, lở đất Có những lúc, tại một số nước trong khi vùng này bị
khô hạn, vùng khác phải lo thoát nước đi. Kinh tế, đời sống và xã hội phát
triển thì nhu cầu về nước càng nhiều. Trong khi, nguồn nước bị ô nhiễm ngày
càng nguy hiểm. Sự biến đổi khí hậu toàn cầu làm đảo lộn việc "phân phối"
nguồn nước tự nhiên.
Trước tình trạng đó, chính phủ nhiều nước kêu gọi tiết kiệm nước, sử
dụng và khai thác nước hợp lý.
8
Ban tổ chức Tuần Nước Thế giới năm nay cảnh báo, do tác động của
dân số gia tăng và tăng trưởng kinh tế, nước đang ngày càng bị lạm dụng. Quá
trình đô thị hóa, hoạt động nông nghiệp, công nghiệp và biến đổi khí hậu càng
ngày càng gây áp lực nặng nề lên khối lượng và chất lượng nguồn nước.
Theo Viện Nước quốc tế Xtốc-khôm (SIWI), cơ quan tổ chức sự kiện

Hình 2.1: Tiết kiệm nguồn nước là bảo vệ chính chúng ta
Tổ chức FAO cảnh báo, trong 15 năm tới sẽ có gần hai tỷ người phải
sống trong tình trạng bị thiếu nước.
10
Ngân hàng Thế giới (WB) vừa công bố báo cáo về vấn đề này với nhan
đề "Giữ gìn nước cho tất cả mọi người", trong đó kêu gọi cộng đồng thế giới
quản lý tốt hơn các nguồn nước trước nguy cơ khan hiếm nước trên toàn cầu.
Báo cáo của WB nhấn mạnh, các nguồn nước phục vụ sinh hoạt của con
người và sản xuất nông nghiệp đang bị giảm nghiêm trọng. Hiện có một phần
sáu số dân thế giới không được tiếp cận nguồn nước sạch và 30% không được
tiếp cận các điều kiện vệ sinh cơ bản. (Theo báo Nhân Dân, Nguồn: website
của Cục Môi Trường).
2.2.2. Hiện trạng ô nhiễm nước sinh hoạt tại Việt Nam
2.2.2.1. Tình hình chung
Hiện nay ở Việt Nam, mặc dù các cấp, các ngành đã có nhiều cố gắng
trong việc thực hiện chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường, nhưng tình
trạng ô nhiễm nước là vấn đề rất đáng lo ngại.
Dân số gia tăng, sự phát triển kinh tế và biến đổi khí hậu khiến nguồn
nước sạch đang đứng trước nguy cơ cạn kiệt.
Việt Nam hiện có khoảng 17,2 triệu người (tương đương 21,5% dân số)
đang sử dụng nguồn nước sinh hoạt từ giếng khoang, chưa được kiểm nghiệm
hay qua xử lý, theo thống kê của Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường.
Điển hình như tỉnh Tiền Giang, chỉ tính riêng xã Hưng Thạnh đã có hơn 50%
dân cư vẫn phải dùng nước chưa được an toàn (nước giếng nhiễm phèn, nước
sông ngòi ô nhiễm, nước mưa…) cho sinh hoạt hàng ngày.
Tốc độ công nghiệp hoá và đô thị hoá khá nhanh và sự gia tăng dân số
gây áp lực ngày càng nặng nề đối với tài nguyên nước trong vùng lãnh thổ.
Môi trường nước ở nhiều đô thị, khu công nghiệp và làng nghề ngày càng bị ô
11
nhiễm bởi nước thải, khí thải và chất thải rắn. ở các thành phố lớn, hàng trăm

bình quân đầu người mỗi năm chỉ đạt 3.840m3, thấp hơn chỉ tiêu 4.000m3
một người mỗi năm của Hội Tài nguyên Nước quốc tế (IWRA). Đây được
xem là một nghịch lý đối với một quốc gia có mạng lưới sông ngòi dày đặc
như nước ta. Một kết quả điều tra xã hội học trong cư dân sinh sống trên lưu
vực các con sông tại Việt Nam, đến hơn 30% số người được hỏi về sự ô
nhiễm và cạn kiệt nguồn nước sạch đều chưa nhận thức được hết hậu quả
nghiêm trọng, dù tình trạng này thường xuyên tác động đến sức khỏe, đời
sống không chỉ riêng bản thân mà cả gia đình họ. Điều đó cho thấy, nhận thức
13
về tầm quan trọng của nước sạch, thực trạng khan hiếm nước sạch cũng như ý
thức bảo vệ nguồn tài nguyên nước của người Việt Nam chưa cao, đây cũng
chính là một trong các tác nhân làm nước sạch đã hiếm lại đang bị hoang phí
ở nhiều nơi.
Có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến tình trạng ô
nhiễm môi trường nước: như sự gia tăng dân số, mặt trái của quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, quá trình biến đổi khí hậu, cơ sở hạ tầng yếu kém,
lạc hậu: nhận thức của người dân về vấn đề môi trường còn chưa cao… Đáng
chú ý là sự bất cập trong hoạt động quản lý, bảo vệ môi trường. Nhận thức
của nhiều cấp chính quyền, cơ quan quản lý, tổ chức và cá nhân có trách
nhiệm về nhiệm vụ bảo vệ môi trường nước chưa sâu sắc và đầy đủ; chưa
thấy rõ ô nhiễm môi trường nước là loại ô nhiễm gây nguy hiểm trực tiếp,
hàng ngày và khó khắc phục đối với đời sống con người cũng như sự phát
triển bền vững của đất nước. Các quy định về quản lý và bảo vệ môi trường
nước còn thiếu (chẳng hạn như chưa có các quy định và quy trình kỹ thuật
phục vụ cho công tác quản lý và bảo vệ nguồn nước). Cơ chế phân công và
phối hợp giữa các cơ quan, các ngành và địa phương chưa đồng bộ, còn
chồng chéo, chưa quy định trách nhiệm rõ ràng. Chưa có chiến lược, quy
hoạch khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước theo lưu vực và các vùng
lãnh thổ lớn. Chưa có các quy định hợp lý trong việc đóng góp tài chính để
quản lý và bảo vệ môi trường nước, gây nên tình trạng thiếu hụt tài chính, thu

Trường tỉnh Thái Nguyên thì mẫu nước được lấy trên địa bàn huyện Đại Từ
năm 2010.
Bảng 2.1: Bảng kết quả phân tích mẫu nước dưới đất
trên địa bàn huyện Đại Từ năm 2010
STT Chỉ tiêu Phương
pháp
Đơn
vị
Lần 1 Lần 2 Lần
3
QCVN
09:2008
1 pH TCVN
6492-1999
-
5 6,25 5,8 5,5-8,5
2 Độ cứng
(tính theo
CaCO
3
)
TCVN
2672-78
mg/l 176,5 297,3 127,2 500
3 COD
(KMnO
4
)
TCVN618
0-1996

09:2008
(ISO1035-
1-1992
7 Nitrat
(NO
3
-
)
(tính theo
N)
TCVN
6178-1996
(ISO 6777-
1984)
mg/l 3,2 2 6,5 15
8 Sunfat
(SO
4
)
TCVN
6200-1996
(ISO 9280-
1990)
mg/l 7,42 19,5 1,14 400
9 Phenol TCVN
6216-1996
(ISO 6439-
1990
mg/l <0,01 KPH <0,01 0,001
10 Asen(As) TCVN

6222-1996
(ISO 9174-
1990)
mg/l <0,001 0,0294 <0,00
1
0,05
14 Kẽm (Zn) TCVN
6193-1996
(ISO 8288-
1986)
mg/l 0,5 1,5 1,1 3
15 Sắt (Fe) TCVN
6177-1996
(ISO 6332-
1988)
mg/l <0,005 1,023 0,04 5
16 E-coli TCVN
6187-1996
(ISO 9308-
1-1990)
mg/l KPH KPH KPH KPH
17 Coliform TCVN
6187-1-
1996
mg/l 22 6 40 3
(Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Thái Nguyên 2010)
Chú thích: + Lần 1: Kết quả phân tích tháng 10/2010
+ Lần 2: Kết quả phân tích tháng 12/2010
+ Lần 3: Kết quả phân tích tháng 2/2011
+ KPH: Không phát hiện

- Một số phương pháp làm giảm nông độ chất gây ô nhiễm có trong
nguồn nước sinh hoạt.
- Đề xuất phương án xử lý nước sinh hoạt.
3.4. Phương pháp nghiên cứu
3.4.1. Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu sơ cấp
20
- Tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội
- Tài liệu về thình hình khai thác và sử dụng nước sinh hoạt trên địa
bàn xã An Khánh - Đại Từ - Thái Nguyên.
- Tài liệu về công tác quản lý chất lượng môi trường trên địa bàn
nghiên cứu.
- Tài liệu về các văn bản pháp quy về bảo vệ môi trường, quản lý tài
nguyên nước, TCVN, QCVN và các tài liệu có liên quan.
3.4.2. Phương pháp điều tra, phỏng vấn
Các xóm được tiến hành điều tra:
- Xóm Ngò
- Xóm Sòng
- Xóm Tân Bình
- Xóm Thác Vạng
3.4.3. Phương pháp khảo sát và lấy mẫu tại hiện trường
Thực hiện lấy mẫu nước giếng trên 4 xóm: Xóm Ngò, Tân Bình, Sòng,
Thác Vạng thuộc địa bàn xã An Khánh.
Trước khi lấy mẫu dụng cụ phải được tráng sạch bằng chính nước cần lấy.
Lấy mẫu: Bơm nước thẳng vào chai đựng cho trào ra ngoài 2-3 lần thể
tích để tráng chai. Nước lấy đầy chai, đậy nắp, ghi rõ biên bản lấy mẫu.
3.4.4. Phương pháp chuyên gia
Lấy ý kiến tham khảo từ những nhà khoa học, các chuyên gia trong lĩnh
vực có liên quan như Cán bộ tại cơ sở thực tập, cán bộ môi trường phụ trách
khu vực nghiên cứu.
3.4.5. Phương pháp so sánh và dự báo dựa trên số liệu thu thập được

Thành phố Thái Nguyên 13Km, cách Hà Nội 100Km, có đường quốc lộ 3
chạy dọc theo chiều dài của xã , là khu cụm công nghiệp số 1 của huyện
Đại Từ, Thái Nguyên. Đường quốc lộ 3 chạy qua 6 xóm, đây là điều kiện
thuận lợi cho giao lưu phát triển kinh tế với các xã, phường, huyện trong
tỉnh.
4.1.1.2. Địa hình
Xã An Khánh nằm ở phía đông nam của huyện Đại Từ. Địa hình phức
phức tạp, có nhiều rừng núi, xã có 2 con suối lớn chảy qua cắt ngang xã thành
2 khu vực và các khe nhỏ chảy đổ dồn ra 2 con suối và mùa mưa lũ lớn nước
to chia cắt 2 miền rõ rệt làm cho giao thông bị ngừng trệ.
4.1.1.3. Khí hậu
23
Xã An Khánh nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa. Thời tiết chia làm
4 mùa, nhưng chủ yếu là 2 mùa chính là mùa mưa và mùa khô. Nhiệt độ trung
bình trong năm từ 22
0
C - 24
0
C. Về thủy văn với các suối chảy qua địa bàn từ
phía Đông xuống phía Bắc nam sang và một số con suối nhỏ và ao hồ tạo nên
hệ thống thủy văn của toàn xã.
4.1.1.4. Tài nguyên đất
Đất đai của xã tương đối màu mỡ chủ yếu là đất đồi thoải và 1 số ít đất
bằng phù hợp với sự phát triển nông nghiệp, trồng cây lương thực, cây ăn quả
lâu năm và cây trồng hàng năm.
Bảng 4.1: Tình hình sử dụng đất đai xã An Khánh qua 3 năm 2008-2010
Chỉ tiêu Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 So sánh
Số
lượng
(ha)

đường trục xã, năm 2010 diện tích đất tự nhiên vẫn ổn định.
Đất nông nghiệp năm 2008 là 1.266,56ha đến năm 2009 giảm xuống
còn 1.231,42ha giảm 35,14ha là do sử dụng vào giải phóng mặt bằng dự án
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status