A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Pháp luật nước ta đã quy định tòa án là cơ quan xét xử của nước Cộng
Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Hoạt động xét xử của Tòa án là hoạt động
nhân danh quyền lực của Nhà nước để tuyên một bản án kết tội hay không kết
tội bị cáo. Phán quyết của Tòa án ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của Nhà
nước, tổ chức xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Do đó, yêu cầu
tối cao và cũng là cái mốc để đánh giá hiệu quả của công tác xét xử là phải
khách quan, toàn diện, đầy đủ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để
lọt tội phạm, không xử oan người vô tội. Do đó, Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2003 đã ghi nhận điều này vào các nguyên tắc cơ bản và Điều 16 quy định
“Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Tuy
nhiên trên thực tế, không phải khi nào nguyên tắc này cũng được hiểu đúng,
đầy đủ và thực hiện triệt để. Trong bài luận này chúng ta sẽ cùng đi sâu phân
tích ý nghĩa của nguyên tắc và những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực
hiện nguyên tắc.
1
B. NỘI DUNG
I. Lý luận về nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập
và chỉ tuân theo pháp luật”
1. Cơ sở pháp lý của nguyên tắc
Sau cách mạng tháng Tám thành công, ngày 24/1/1946 Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã ký Sắc lệnh số 13/SL về tổ chức tòa án và các ngạch thẩm phán,
trong đó có quy định: “Tòa án tư pháp sẽ độc lập với cơ quan hành chính, các
quy định thẩm phán sẽ chỉ trong pháp luật và công lý. Các cơ quan khác
không được can thiệp vào tư pháp. Mỗi thẩm phán quyết định theo pháp luật
và lương tâm của mình không quyền lực nào được can thiệp trực tiếp hay gián
tiếp vào công việc xử án”. Mặt khác, Sắc lệnh số 13/SL còn quy định “Các
phụ thẩm nhân dân có bổn phận lấy lý trí sáng suốt và lương tâm ngay thẳng
ra xét mọi việc rồi phát biểu ý kiến một các công bằng, không vì nể, vì sợ một
thế lực nào, vì lợi ích riêng hay tư thù mà bênh vực hay làm hại ai”. Điều 69
Hiến pháp năm 1946 cũng quy định “Trong khi xét xử các thẩm phán chỉ tuân
quan điểm của mình trong việc đánh giá chứng cứ, xác định tội danh, mức
hình phạt và giải quyết các vấn đề khác dựa trên quy định của pháp luật, đảm
bảo việc xét xử công bằng, khách quan. Khi án bị hủy bỏ xét xử sơ thẩm lại,
hội đồng xét xử cũng cần phải tỉnh táo để xem xét lại nguyên nhân mà tòa án
cấp trên hủy, xem xét toàn diện các chứng cứ, thông tin có phù hợp với thực
tế khách quan hay không để xét xử lại đúng pháp luật, không phụ thuộc vào
kết quả bị hủy.Nếu cấp trên hủy đúng cần xem xét để xét xử lại cho chính xác,
3
nếu cấp trên hủy sai thì phải bảo vệ chính kiến, quan điểm của hội đồng xét
xử, miễn sao bản án, quy định phải có căn cứ và hợp pháp.
Thứ hai là độc lập với sự chỉ đạo của cấp ủy Đảng. Đảng lãnh đạo cơ quan
tư pháp, trong đó có Tòa án thông qua cấp ủy. Đó là quan hệ chính trị giữa tổ
chức Đảng với cơ quan trong bộ máy nhà nước. Đảng không chỉ đạo, xét xử
từng vụ án cụ thể. “ Đảng không cho phép bất cứ ai dựa vào quyền thế để làm
trái với pháp luật, mọi vi phạm đều được đưa ra xử lí theo pháp luật, dân thì
phải chịu hình phạt, quan thì theo lễ”. Đối với hoạt động của tòa án nhân dân,
Đảng có chủ trương là xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Sự chỉ
đạo để hoạt động xét xử đảm bảo tính nghiêm minh là cần thiết, không ảnh
hưởng đến việc xét xử độc lập của thẩm phán và hội thẩm. Ý kiến của cấp ủy
Đảng trong việc bổ nhiệm và tái bổ nhiệm thẩm phán cũng dựa trên những
quy định về tiêu chuẩn bổ nhiệm và tái bổ nhiệm thẩm phán chứ không phải
là yếu tố quy định. Nguyên tắc lãnh đạo của Đảng không mâu thuẫn với sự
độc lập xét xử của thẩm phán và hội thẩm. Song thực tế, chế độ đảng lãnh đạo
Nhà nước, trong đó có các cơ quan, đơn vị, vị trí của cấp ủy Đảng trong việc
tuyển chọn và bổ nhiệm thẩm phán, rõ ràng sẽ ảnh hưởng đến sự độc lập của
thẩm phán khi có sự tác động của cấp ủy Đảng. Chính vì vậy, thẩm phán và
hội thẩm phải nhận thức đúng sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động tư
pháp để đảm bảo sự độc lập xét xử.
Thứ ba: độc lập với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hồ sơ trong vụ án
hình sự là tài liệu đầu tiên để thẩm phán và hội thẩm tiến hành xem xét, đánh
những hành vi theo tội danh mà Viện Kiểm sát đã truy tố và tòa án đã quyết
định đưa ra xét xử. Hội đồng xét xử phải tôn trọng các quyền của những
5
người tiến hành tố tụng về việc đưa ra chứng cứ, đưa ra yêu cầu và tranh luận
trước tòa. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử cần nắm chắc làm đúng theo trình tự
thủ tục mà pháp luật quy định, bắt đầu phiên tòa đến khi kết thúc phiên tòa.
Vì vậy, thẩm phán và hội thẩm cần phát huy nhưng quyền năng của mình để
quyết định các vấn đề của vụ án một cách khách quan, chính xác trên cơ sở
những quy định của pháp luật.
c. Mối quan hệ giữa “độc lập” và “chỉ tuân theo pháp luật”
Độc lập và chỉ tuân theo pháp luật có mối quan hệ chặt chẽ và ràng buộc
với nhau. Độc lập là điều cần cần thiết để Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân
chỉ tuân theo pháp luật khi xét xử. Tuân theo pháp luật là cơ sở không thể
thiếu để Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập khi xét xử. Nếu chỉ độc lập
mà không tuân theo pháp luật thì dễ dẫn đến xét xử tùy tiện, độc đoán.
3. Ý nghĩa của nguyên tắc
Thứ nhất độc lập xét xử là một nguyên tắc đặc thù, mang tính chất riêng
trong tố tụng hình sự.tuy nhiên, nguyên tắc này là một nguyên tắc hiến định
cho mọi thủ tục tố tụng ở nước ta nhưng ở mỗi thủ tục tố tụng của mỗi ngành
luật khác nhau thì nguyên tắc này lại mang tính chất khác nhau. Ở tố tụng
hình sự, nguyên tắc độc lập xét xử mang tính chất tuyệt đối. Khi xét xử, thẩm
phán và hội thẩm sẽ dựa vào những căn cứ hợp lý để dưa ra quyết định hoặc
bản án mà không phụ thuộc vào ý kiến của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát
hay yêu cầu thỏa thuận của người bị hại, bị cáo... Chỉ có tòa án mới có quyền
quyết định một người nào đó có tội hay không. Như vậy, sự độc lập trong xét
xử trong tố tụng hình sự là bắt buộc, nó thể hiện tính chất cứng rắn triệt để
theo tinh thần: “Mọi hành vi phạm tội được phát hiện xử lý nghiêm minh và
kịp thời”.
6