Vận dụng một số phương pháp thống kê phân tích tiền lương của người lao động tại Công ty Dịch vụ Thương Mại Thăng Long (2) - Pdf 26

Trường Đại họcThương Mại Khoa Kế toán – Kiểm toán
1PHẦN MỞ ĐẦU: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ TIỀN
LƯƠNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Tiền lương là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động, là giá cả yếu
tố sức lao động mà người bán sức lao động nhận được từ người sử dụng lao
động. Do vậy tiền lương luôn là đề tài mang tính thời sự và được mọi người
và toàn xã hội quan tâm. Trong thực tế, nhiều lần Nhà nước đã điều chỉnh
mức lương tối thiểu đã dẫn đến sự thay đổi về tiền lương, thu nhập và đời
sống của người lao động.
Việc thúc đẩy, khuyến khích người lao động hoàn thành tốt công việc,
phát huy khả năng sáng tạo của họ trong công việc, nâng cao chất lượng công
việc đồng thời nâng cao năng suất lao động của họ là việc mà bất kỳ doanh
nghiệp nào, người quản lý nào cũng muốn thực hiện đẻ đạt được mục đích
cao nhất.
Đối với người lao động tiền lương, tiền thưởng có yếu tố ảnh hưởng rất
lớn đến cuộc sống của họ, nó thể hiện mức sống của mỗi người và mỗi gia
đình.Chính vì vậy mà doanh nghiệp cần phải đảm bảo mức lương phù hợp với
hao phí sức lao động mà họ bỏ ra.
Đối với các doanh nghiệp thì tiền lương và các khoản trích theo lương
là một bộ phận quan trọng của chi phí sản xuất kinh doanh ảnh hưởng trực
tiếp đến giá thành sản phẩm và kết quả sản xuất kinh doanh. Để sử dụng
khoản chi phí này một cách tốt nhất, nâng cao được hiệu quả sản xuất kinh
doanh thì doan nghiệp cần phải có một chính sách tiền lương h
ợp lý không những phù hợp với đặc điểm của doan nghiệp mà còn phải đúng
với quy định của Nhà nước. Các doanh nghiệp phải thường xuyên theo dõi
phân tích tình hình thu nhập cụ thể là tiền lương của người lao động nhằm sử
dụng và phân phối quỹ tiền lương cho người lao động một cách hợp lý, đảm
bảo hài hòa mối quan hệ lợi ích giữa người lao động và doanh nghiệp.
Sinh viên: Lớp:
1

2
Trường Đại họcThương Mại Khoa Kế toán – Kiểm toán
1.3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Hệ thống hóa những lý luận cơ bản và tiền lương và các phương páp
nghiên cứu về tiền lương của người lao động trong doanh nghiệp, vận dụng
các phương pháp đi sâu phân tích thống kê tiền lương của người lao động tại
Công ty Dịch vụ Thương mại Thăng Long để có cái nhìn khách quan và sự
đánh giá tổng quát về mức sống của người lao động tại Công ty nói riêng và
trong ngành than nói chung.
Trên cơ sở phân tích đó đánh giá cơ cấu thu nhập của Công ty, phân
tích các nhân tố ảnh hưởng đến quỹ lương của Công ty và phần nào phát hiện
được những tồn tại, hạn chế trong việc quản lý và sử dụng tiền lương của
Công ty. Từ đó đưa ra các giải pháp để hoàn thiện và nâng cao công tác quản
lý sử dụng và phân phối tiền lương của người lao động tại Công ty.
1.4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu thống kê phân tích về tiền lương của người lao động tại
Công ty Dịch vụ Thương mại Thăng Long.
Chri tiêu dùng để phân tích là tổng tiền lương, tiền lương bình quân, tỷ
suất tiền lương và một số chỉ tiêu khác có liên quan đến tiền lương tại Công ty
Dịch vụ Thương mại Thăng Long từ năm 2006 – 2009
1.5. Kết cấu của luận văn
Luận văn bao gồm 4 chương:
Phần mở đầu: Tổng quan nghiên cứu về tiền lương của người lao động
Chương I: Một số lý luận cơ bản về tiền lương và phân tích thống kê
tiền lương của người lao động trong doanh nghiệp.
Chương II: Phương pháp nghiên cứu và phân tích thống kê thực trạng
tiền lương của người lao động tại Công ty Dịch vụ Thương mại Thăng Long.
Chương III: Các kết luận và đề xuất giải pháp nhằm quản lý và sử dụng
quỹ tiền lương của người lao động tại Công ty Dịch vụ Thương mại Thăng
Long.

Sinh viên: Lớp:
4
Trường Đại họcThương Mại Khoa Kế toán – Kiểm toán
* Tiền lương
Theo điều 55 Bộ Luật lao động: “Tiền lương của người lao động do hai
bên thỏa thuận trong hợp đồng lao động và được trả theo năng suất lao động,
chất lượng và hiệu quả công việc. Mức trả của người sử dụng lao động không
được thấp hơn mức trực tiếp tối thiểu mà Nhà nước quy định”.
Về mặt kinh tế: Tiền lương là biểu hiện bằng tiền giá trị sức lao động,
là giá cả sức lao động được hình thành qua sự thỏa thuận giữa người sử dụng
sức lao động và người lao động. Do người sử dụng lao động trả cho người lao
động.
* Các phạm trù về tiền lương
- Tiền lương danh nghĩa:
Là tiền lương trả cho người lao động dưới hình thức tiền tệ. Trên thực
tế mức lương trả cho người lao động đều là tiền lương danh nghĩa, bản thân
nó chưa đưa ra một nhận thức đầy đủ về mức trả công thực tế cho người lao
động. Vì lợi ích của người lao động nhận được còn phụ thuộc rất lớn vào sự
biến động của giá cả hàng hóa, dịch vụ và mức thuế mà họ phải nộp.
- Tiền lương thực tế:
Là khối lượng hàng hóa dịch vụ mà người lao động có thể mua sắm
được từ tiền lương của mình sau khi đã đóng góp các khoản thuế theo quy
định của Nhà nước. Tiền lương thực tế phụ thuộc vào hai yếu tố cơ bản là số
lượng tiền lương danh nghĩa và chỉ số giá cả hàng hóa dịch vụ.
Mối quan hệ giữa tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế có thể
được thể hiện qua công thức sau:
Tiền lương thực tế =
Tiền lương danh nghĩa
Chỉ số giá cả hàng hóa, dịch vụ
- Tiền lương tối thiểu

hội.
* Bản chất của tiền lương
Trong nền kinh tế kế hoạch hóa, tiền lương là một phần của thu nhập
quốc dân.
Sinh viên: Lớp:
6
Trường Đại họcThương Mại Khoa Kế toán – Kiểm toán
Chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ
chế thị trường thì tiền lương được coi là giá cả sức lao động. Giờ đây, tiền
lương không chỉ đơn thuần là giá cả sức lao động mà nó còn bao gồm nhiều
yếu tố khác.
Tiền lương được hình thành thông qua sự thỏa thuận giữa người lao
động và người sử dụng lao động.
* Chức năng của tiền lương
• Chức năng tái sản xuất sức lao động
Người lao động bán sức lao động của mình cho các doanh nghiệp, và
nhận được tiền lương từ những nguồi sử dụng lao động. Phần thu nhập này để
bù đắp lại sức lao động bỏ ra và tái sản xuất sức lao động cho tương loi.Quá
trình tái sản xuất sức lao động được thực hiện bằng việc trả công người lao
động thông qua lương. Theo Các Mác: “Sức lao động là toàn bộ khả năng về
thể lực và vị trí lực tạo nên cho con người khả năng sáng tạo ra của cải vật
chất tinh thần cho xã hội”.
Chức năng tái sản xuất sức lao động chỉ thực hiện tốt khi đảm bảo đúng
vai trò: Trao đổi ngang giá giữa hoạt động lao động và kết quả lao động.
Nghĩa là tiền lương nhận được phải xứng đáng với sức lao động đã bỏ ra, thỏa
mãn đủ các yêu cầu về tái sản xuất sức lao động của người lao động.
• Chức năng đòn bẩy kinh tế
Lao động là một trong những nguồn lực quan trọng của sản xuất, là bộ
phận có tính đồng nhất của sản xuất. Phát huy tốt yếu tố lao động sẽ giúp
doanh nghiệp đạt kết quả cao về mọi mặt. Một chính sách tiền lương đúng

chính sách về tiền lương, bậc lương không thể tách rời điều đó. Sự hấp dẫn do
mức lương cao sẽ thu hút người lao động nhận mọi công việc dù ở đâu hay
làm gì, điều này làm cho cơ cấu lao động trong các ngành nghề không đồng
đều, mất cân đối. Do đó việc quy định thang bậc lương sẽ góp phần điều tiết
lao động, tạo ra một cơ cấu lao động hợp lý, góp phần ổn định chung thị
trường lao động trong từng quốc gia.
Sinh viên: Lớp:
8
Trường Đại họcThương Mại Khoa Kế toán – Kiểm toán
* Chức năng thước đo hao phí về lao động xã hội
Tiền lương là biểu hiện tiền của giá trị sức lao động, là giá cả sức lao
động. Khi tiền lương trả cho người lao động ngang giá với sức lao động mà
họ bỏ ra để thực hiện công việc người ta có thể xác định được hao phí lao
động của toàn xã hội thông qua tổng quỹ lương cho toàn xã hội.
1.1.2. Các hình thức trả lương
Việc trả lương cho người lao động được quản lý bởi các quy phạm,
chính sách, chế độ của Nhà nước. Doanh nghiệp xác định tiền lương phải trả
cho người lao động dựa trên số lượng lao động và sức lao động đã hao phí.
Tiền lương của người lao động được trả theo năng suất lao động, chất lượng
lao động và hiệu quả lao động.
1.1.2.1. Hình thức trả lương theo thời gian
Hình thức trả lương theo thời gian được thực hiện bằng việc tính trả
lương cho người lao động theo thời gian làm việc, theo ngành nghề và trình
độ thành thạo ngiệp vụ, kỹ thuật, chuyên môn của người lao động. Tùy theo
tính chất khác nhau mà mỗi ngành nghề cụ thể có một thang lương riêng,
trong mỗi thang lương lại tùy theo trình độ thành thạo nghiệp vụ, chuyên môn
mà lại chia thành nhiều bậc lương, mỗi bậc lương lại có một tiền lương nhất
định.
Hình thức trả lương này được áp dụng trong một số loại hình doanh
nghiệp như các doanh nghiệp hoạt động công ích, doanh nghiệp trả tiền cho

+ Bộ phận lương cứng: Bộ phận này tương đối ổn định nhằm đảm bảo
mức thu nhập tối thiểu cho người lao động. Bộ phận này sẽ được quy định
theo bậc lương cơ bản và ngày công là việc của người lao động.
+ Bộ phận lương mềm: Tùy thuộc vào năng suất, chất lượng, hiệu quả
lao động của từng cá nhân người lao động và kết quả kinh doanh của từng
doanh nghiệp.
Sinh viên: Lớp:
10
Trường Đại họcThương Mại Khoa Kế toán – Kiểm toán
1.1.2.4. Hình thức khoán thu nhập
Doanh nghiệp thực hiện khoán thu nhập cho người lao động, quan niệm
thu nhập mà doanh nghiệp trả cho người lao động là một bộ phận nằm trong
tổng thu nhập của doanh nghiệp. Đối với hình thức trả lương này thì tiền
lương phải trả cho người lao động không tính vào chi phí SXKD mà là nội
dung phân phối thu nhập của doanh nghiệp. Thông qua đại hội công nhân
viên, doanh nghiệp thỏa thuận trước tỷ lệ thu nhập dùng để trả lương cho
người lao động. Vì vậy quỹ tiền lương của người lao động phụ thuộc vào thu
nhập thực tế của doanh nghiệp.
1.1.3. Hệ thống chỉ tiêu thống kê phân tích tiền lương của người lao động
1.1.3.1. Tổng tiền lương của người lao động
Tổng tiền lương là toàn bộ các khoản thu nhập mà doanh nghiệp trả cho
người lao động theo sản lượng và chất lượng lao động của họ đã hao phí trong
một thời kỳ nhất định. Theo chế độ báo cáo thống kê hiện nay, tiền lương của
người lao động trong thương mại được báo cáo theo kỳ hạn 6 tháng và năm.
Tổng tiền lương phụ thuộc vào két quả kinh doanh của doanh nghiệp
trong kỳ.
Tổng tiền lương của người lao động được ký hiệu là: ∑X. Nó bao gồm
tiền lương, tiền thưởng, tiền BHXH, các khoản phụ cấp và một số khoản
khác.
Nghiên cứu tổng tiền lương giúp kiểm tra tình hình chấp hành kế hoạch

Tỷ suất tiền lương của người lao động trong thương mại là chỉ tiêu
tương đối được tính bằng cách so sánh giữa các mức thu nhập với mức tiêu
thụ hàng hóa.
Được tính bằng công thức:
100%
Trong đó:
∑X: Tổng tiền lương của người lao động
∑M: Tổng mức tiêu thụ của người lao động
X

: Tỷ suất tiền lương của người lao động
Vì tiền lương của người lao động là một bộ phận chi phí trong chi phí
kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ. Để giải quyết mối quan hệ lợi ích giữa
người lao động và doanh nghiệp thì phải đảm bảo giảm tỷ suất tiền lương và
tăng tiền lương bình quân của người động. Một trong các biện pháp đó là tăng
năng suất lao động bình quân và tốc độ tăng năng suất lao động phải lớn hơn
tốc độ tăng tiền lương bình quân.
Sinh viên: Lớp:
12
Trường Đại họcThương Mại Khoa Kế toán – Kiểm toán
1.3. Tổng quan tình hình nghiên cứu tiền lương của người lao động
Qua các công trình nghiên cứu khoa học về tiền lương hay thu nhập
của người lao động cũng như các phương tiện thông tin đại chúng có thể nhận
thấy rằng vấn đề về tiền lương luôn là mối quan tâm chung của cả người lao
động và doanh nghiệp. Người lao động quan tâm đến khoản tiền lương mà họ
nhận được có được trả đúng với sức lao động mà họ bỏ ra hay không, có đủ
bù đắp sức lao động hiện tại và tái sản xuất trong tương lai hay không. Còn
doanh nghiệp quan tâm đến việc trả lương như vậy đã khuyến khích được
người lao động hăng say công tác khả năng của mình hay chưa?
1.3.1. Những kết quả đạt được

trong doanh nghiệp.
Việc phân tích thống kê các hoạt động kinh doanh giúp các doanh
nghiệp đưa ra những chủ trương, chính sách và biện pháp quản lý đúng đắn,
phù hợp với tình hình thực tiễn và quy luật khách quan. Phân tích thống kê
tiền lương của người lao động không nằm ngoài mục đích ấy.
Thông qua việc phân tích thống kê tiền lương của người lao động
doanh nghiệp mới thấy rõ ảnh hưởng của tiền lương đến người lao động để từ
đó có các biện pháp khuyến khích người lao động gắn bó với công việc, tích
cực phát huy tài năng, sự sáng tạo của mình vào công việc chung của doanh
nghiệp nhằm tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Đồng thời phân tích thống kê tiền lương của người lao động giúp doanh
nghiệp nhận thức rõ nguyên nhân nguồn gốc của những hạn chế trong việc
quản lý và sử dụng quỹ tiền lương để có thể đưa ra các giải pháp cụ thể để cải
tiến công tác quản lý và sử dụng quỹ lương.
1.4.2.Nội dung nghiên cứu về tiền lương của người lao động tại công ty DV
- TM Thăng Long
+ Phân tích việc thực hiện kế hoạch tiền lương
Việc lập kế hoạch đối với tiền lương cũng quan trọng giống như việc
lập kế hoạch cho các chỉ tiêu hoạt động kinh doanh vì tiền lương chính là một
khoản chi phí của doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải lập kế hoạch trước để
Sinh viên: Lớp:
14
Trường Đại họcThương Mại Khoa Kế toán – Kiểm toán
vừa kiểm soát được chi phí, vừa đánh giá được khả năng hoàn thành kế hoạch
tương đương với đánh giá xem tình hình kinh doanh của doanh nghiệp mình
năm qua tốt hay không.
+ Phân tích tiền lương bình quân một lao động
Phân tích xu hướng biến động của tiền lương bình quân từ đó thấy được
sự tăng giảm tiền lương bình quân 1 lao động trong công ty.
Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tiền lương bình quân bằng hệ

Phiếu điều tra được phát tới từng cán bộ, nhân viên tại các phòng ban.
Sau khi phát biểu điều tra và nhận được sự hợp tác nhiệt tình của mọi người
thì quá trình thu thập phiếu điều tra khảo sát được diễn ra nhanh gọn và đầy
đủ.
(Phiếu điều tra khảo sát - phụ lục 01)
* Phương pháp phỏng vấn
Phương pháp này được thực hiện thông qua việc gặp gỡ trực tiếp các
đối tượng để hỏi và ghi chép tài liệu. Đây là hình thức điều tra cá nhân thường
được sử dụng để thu thập các thông tin xoay quanh vấn đề về tình hình phát
triển của công ty, thực trạng công tác thống kê tiền lương của người lao động
tại công ty.
Phương pháp này tốn ít thời gian có thể thu thập được ngay các thông
tin, tuy nhiên phương pháp này chỉ được tiến hành một số ít người nên ta
Sinh viên: Lớp:
16
Trường Đại họcThương Mại Khoa Kế toán – Kiểm toán
không thể thu thập được nhiều thông tin vì vậy cần phải kết hợp các phương
pháp khác nữa.
* Các phương pháp khác
Ngoài các phương pháp thu thập dữ liệu qua phiếu điều tra khảo sát và
phương pháp phỏng vấn ta có thể thu thập được dữ liệu từ các báo cáo về hoạt
động sản xuất kinh doanh, báo cáo tài chính, các sổ sách và tài liệu của công
tuy như: bảng lương, sổ chi tiết lương,
Qua mạng Internet ta có thể thu thập được các thông tin chung về thu
thập của doanh nghiệp cũng như các thông tin liên quan bằng cách truy cập
vào trang website của tổng cục thống kê www.gso.gov.vn
2.1.1.2. Phương pháp tổng hợp dữ liệu
Tổng hợp dữ liệu là tiến hành tập trung chỉnh lý, hệ thống hóa thực
hiện điều tra, làm căn cứ cho việc tiến hành phân tích dữ liệu. Phương pháp
tổng hợp dữ liệu bao bồm các bước sau:

thường so sánh tiền lương của người lao động, quỹ lương của doanh nghiệp
kỳ báo cáo so với kế hoạch để thấy được mức độ hoàn thành tỷ lệ, sự biến
động tăng giảm của tiền lương, quỹ lương qua các thời kỳ và xu thế phát triển
của nó trong tương lai.
2.1.2.2. Phương pháp dãy số thời gian
Dãy số thời gian là một dãy các trị số của chỉ tiêu thống kê được sắp
xếp theo thứ tự thời gian.
Dãy số thời gian là một phương pháp phân tích thống kê dùng để phân
tích xu hướng biến động của hiện tượng nghiên cứu theo thời gian. Dựa vào
kết quả các chỉ tiêu phân tích dãy số ta có thể nhận xét vềxu hướng biến động
của hiện tượng nghiên cứu theo thời gian. Dựa vào kết quả các chỉ tiêu phân
tích dãy số ta có thể nhận xét về mức độ biến động, tốc độ tăng của hiện
tượng trong một khoảng thời gian nhất định.
Mặt khác dựa vào dãy số thời gian ta có thể áp dụng các phương pháp
để dự đoán thống kê hiện tượng trong thời gian tới.
Sinh viên: Lớp:
18
Trường Đại họcThương Mại Khoa Kế toán – Kiểm toán
Các chỉ tiêu phân tích dãy số thời gian bao gồm: Mức độ trung bình
theo thời gian, lượng tăng giảm tuyệt đối, tốc độ tăng giảm giá trị tuyệt đối
1% tăng giảm.
2.1.2.3 Phương pháp số chỉ
Trong thống kê phân tích kinh tế phương pháp chỉ số được sử dụng rất
thường xuyên xác định các nhân tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của từng
nhân tố đến đối tượng phân tích. Đối với thống kê phân tích tiền lương của
người lao động phương pháp chỉ số được dùng để xác định các nhân tố ảnh
hưởng và mức độ ảnh hưởng của chúng đến tiền lương của người lao động.
Phương pháp chỉ số được thực hiện dựa trên hệ thống chỉ số. Hệ thống
chỉ số là tập hợp nhiều chỉ số có quan hệ với nhau lập thành một đẳng thức
nhất định.

được thành lập do ông Hoàng Thải làm giám đốc. Tổng số cán bộ công nhân
viên lúc này đã có 800 người. Tháng 8 năm 1965 bộ Công nghiệp có quyết
định thành lập Tổng công ty than Quảng Ninh, gồm hai Công ty đó là: Công
ty than Hòn Gai và Công ty Dịch vụ Thương Mại Thăng Long. Mỏ Thống
nhất trực thuộc Công ty Dịch vụ Thương Mại Thăng Long quản lý.
Tháng 12 năm 1997 Bộ Công nghiệp Có Quyết định số 21/1997/QĐ –
BCN chuyển Công ty Dịch vụ Thương Mại Thăng Long thuộc quyền quản lý
của Tổng Công ty Than Việt Nam.
Đến năm 2001 thực hiện Quyết định số 405/QĐ – HĐQT ngày
01/10/2001 của Hội đồng quản trị Tổng Công ty Than Việt Nam về việc đổi
tên các đơn vị thành viên. Mỏ than thống nhất được đổi tên thành Công ty
Dịch vụ Thương Mại Thăng Long.
2.2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ và đặc điểm sản xuất kinh doanh của Công ty
Công ty là thành viên độc lập có tư cách pháp nhân đầy đủ của Tổng
Công ty Than Việt Nam nay là tập đoàn than khoáng sản Việt Nam.
Trải qua hơn 40 năm hình thành và phát triển Công ty Dịch vụ Thương
Mại Thăng Long đã góp phần đáng kể vào công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ
quốc.
Sinh viên: Lớp:
20
Trường Đại họcThương Mại Khoa Kế toán – Kiểm toán
Cùng với việc mở rộng quy mô, tăng cường các nguồn lực sản xuất
kinh doanh, việc phát triển các chính sách kinh tế, xã hội cũng là vấn đề quan
trọng, nó đánh giá sự phát triển và trưởng thành của Công ty.
Các chức năng và nhiệm vụ của Công ty:
- Sản xuất các loại than để xuất khẩu và tiêu thụ nội địa, xây lắp các công
trình công nghiệp phục vụ cho khai thác than của Công ty theo kế
hoạch của tập đoàn TKV.
- Bảo toàn vốn và sản xuất kinh doanh có lãi
- Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ trích nộp với nhà nước và cấp trên.

doanh, ký kết các hợp đồng kinh tế.
- Phòng kế toán tài chính thống kê: Đứng đầu là kế toán trưởng, giúp
giám đốc tổ chức triển khai toàn bộ công tác kế toán – tài chính – thống kê,
lập báo cáo cho các cơ quan chủ quản, cơ quan chức năng và theo yêu cầu của
lãnh đạo công ty về công tác quản trị doanh nghiệp. Xây dựng kế hoạch tài
chính, có chức năng xác định nhu cầu về vốn, bảo toàn vốn…
Sinh viên: Lớp:
22
Trường Đại họcThương Mại Khoa Kế toán – Kiểm toán
- Phòng kỹ thuật: Chịu trách nhiệm trước Ban giám đốc về khâu kỹ
thuật khai thác.
- Phòng trắc địa – địa chất: Giúp giám đốc về trữ lượng tìm kiếm tài
nguyên, thăm dò vỉa, lớp, đo đạc cập nhật bản đồ. Tham mưu giúp việc cho
giám đốc công ty trong việc xây dựngcác bản đồ hướng dẫn khai thác, XDCB
và nghiệm thu khối lượng mỏ.
- Phòng xây dựng cơ bản: Chịu trách nhiệm toàn bộ về mọi khâu xây
dựng cơ bản trong và ngoài trời.
- Phòng cơ điện: Có chức năng quản lý toàn bộ các thiết bị hoạt động
của toàn công ty, có trách nhiệm và kế hoạch sửa chữa lớn, đồng thời quản lý
toàn bộ lưới điện của Công ty.
- Trung tâm chỉ huy sản xuất: Có nhiệm vụ giải quyết các khâu ách tắc
trong sản xuất, kiểm tra theo dõi hàng ngày về sản xuất trong toàn công ty.
- Phòng vật tư:Có trách nhiệm chuẩn bị vật tư sản xuất, dự trữ cho sản
xuất kịp thời đầy đủ. Không gây tồn đọng vốn, với giá rẻ và chất lượng đảm
bảo.
- Phòng Kiểm định (KCS): Có trách nhiệm giám định về chất lượng
than đã khai thác của Công ty.
- Phòng bảo vệ: Có trách nhiệm về khâu an ninh trật tự, bảo vệ tài sản
của toàn công ty.
- Văn phòng giám đốc: Tổng hợp các báo cáo tác nghiệp cho ban giám

Vấn đề về tiền lương luôn là mối quan tâm chung của tất cả mọi người
và của doanh nghiệp, chính vì vậy mà Nhà nước luôn đề ra các chính sách về
tiền lương đảm bảo mói quan hệ hài hòa cho các doanh nghiệp và người lao
động.
Theo quyết định số 30/2009/QĐ – TTG Nhà nước se hỗ trợ các doanh
nghiệp gặp khó khăn do suy giảm kinh tế bằng cách cho các doanh nghiệp
vay vốn để thanh toán tiền lương và tiền trợ cấp mất việc làm. Như vậy có thể
Sinh viên: Lớp:
24
Trường Đại họcThương Mại Khoa Kế toán – Kiểm toán
thấy rằng Nhà nước ta luôn quan tâm tới người lao động cũng như với các
doanh nghiệp.
* Khó khăn:
Trong giai đoạn hiện nay, nền kinh tế thị trường với sự cạnh tranh ngày
càng gay gắt, sự biến động mạnh của các yếu tố kinh tế xã hội mà nhất là
đang trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế đã đẩy các doanh nghiệp vào tình thế
hết sức khó khăn cho nên các doanh nghiệp cần áp dụng các chính sách về
quản lý cũng như sử dụng quỹ lương một cách hợp lý để đảm bảo lợi ích hài
hòa giữa doanh nghiệp và người lao động.
2.3 Phân tích tiền lương của người lao động tại công ty Dịch vụ Thương
mại Thăng Long
2.3.1. Phân tích chung tình hình thu nhập của người lao động tại Công ty
Dịch vụ Thương mại Thăng Long
Bảng 1: Phân tích cơ cấu thu nhập tại Công ty Dịch vụ Thương
mại Thăng Long năm 2008 – 2009
Chỉ tiêu Năm 2008 Năm 2009 So sánh
Số tiền
(tr.đ)
Tỷ
trọng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status