Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 1
Lời mở đầu
Vốn đầu tư là một trong ba nhân tố đầu vào tác động đến tăng
trưởng kinh tế, yếu tố vật chất trực tiếp quyết định tăng trưởng và phát
triển kinh tế - xã hội. Vốn đầu tư có tác dụng hai mặt đến sự ổn định
kinh tế, đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Việt Nam thực hiện mục tiêu
tăng trưởng phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá
đất nước do đó vốn đầu tư có vai trò rất quan trọng.
Thái Bình là một tỉnh ven biển thuộc khu vực đồng bằng sông
Hồng, nằm trong vùng ảnh hưởng trực tiếp của tam giác tăng trưởng
kinh tế: Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh. Có một vị trí quan trọng như
vậy cùng với những tiềm năng kinh tế khác của tỉnh nhưng sự phát triển
hiện nay chưa tương xứng với những điều kiện đó. Hiện nay, Thái Bình
vẫn là một tỉnh nghèo kinh tế kém phát triển bị cô lập với các tỉnh bởi hệ
thống giao thông chưa phát triển. Vì vậy, vốn đầu tư có vai trò rất quan
trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, trong việc thực hiện
các mục tiêu của tỉnh cải tạo hệ thống giao thông, phát triển cơ sở hạ
tầng đầu tư phát triển công nghiệp, cơ cấu lại nông nghiệp nâng cao giá
trị sản phẩm…
Trước những đóng góp và vai trò của vốn đầu tư đối với sự phát
triển của tỉnh như vậy nên tôi chọn đề tài: “Vận dụng một số phương
pháp thống kê phân tích tình hình vốn đầu tư thực hiện của tỉnh Thái Bình
trong giai đoạn 2000-2007”. Kết cấu bài viết gồm:
- Lời mở đầu
- Nội dung:
Chương 1: Một số vấn đề chung về đầu tư và thống kê đầu tư – xây
dựng
Chương 2: Vận dụng phân tích vốn đầu tư thực hiện của tỉnh Thái Bình
giai đoạn 2000-2007.
- Kết luận
Sinh viên: Hoàng Thị Quý - lớp Thống kê 47A
kết quả đó.
Như vậy, nếu xem xét trong phạm vi quốc gia thì chỉ có những
hoạt động sử dụng các nguồn lực ở hiện tại để trực tiếp làm tăng các tài
sản vật chất, nguồn nhân lực và tài sản trí tuệ, hoặc duy trì sự hoạt động
của các tài sản và nguồn nhân lực sẵn có thuộc phạm trù đầu tư theo
nghĩa hẹp hay đầu tư phát triển.
Sinh viên: Hoàng Thị Quý - lớp Thống kê 47A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 4
1.1.2Đặc điểm của hoạt động đầu tư phát triển
Hoạt động đầu tư phát triển có những đặc điểm chủ yếu sau đây:
- Qui mô tiền vốn, vật tư, lao động cần thiết cho hoạt động đầu tư
phát triển thường rất lớn. Qui mô vốn đầu tư lớn đòi hỏi phải có giải
pháp tạo vốn và huy động vốn hợp lý, xây dựng các chính sách, qui
hoạch, kế hoạch đầu tư đúng đắn, quản lý chặt chẽ tổng vốn đầu tư, bố
trí vốn theo tiến độ đầu tư, thực hiện đầu tư trọng tâm trọng điểm.
- Thời kỳ đầu tư kéo dài: thời kỳ đầu tư tính từ khi khởi công thực
hiện dự án đến khi dự án hoàn thành và đưa vào hoạt động. Nhiều công
trình đầu tư phát triển có thời gian đầu tư kéo dài hàng chục năm. Do
vốn lớn lại nằm khê đọng trong suốt quá trình thực hiện đầu tư nên để
nâng cao hiệu quả vốn đầu tư, cần tiến hành phân kỳ đầu tư, bố trí vốn
và các nguồn lực tập trung hoàn thành dứt điểm từng hạng mục công
trình, quản lý chặt chẽ tiến độ kế hoạch đầu tư, khắc phục tình trạng
thiếu vốn, nợ đọng vốn đầu tư xây dựng cơ bản.
- Thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài: thời gian vận hành
các kết quả đầu tư tính từ khi đưa công trình vào hoạt động cho đến khi
hết thời hạn sử dụng và đào thải công trình. Nhiều thành quả đầu tư phát
huy tác dụng lâu dài, có thể tồn tại vĩnh viễn như các Kim tự Tháp Ai
Cập, Nhà thờ La Mã ở Rôm, Vạn Lý Trường Thành ở Trung Quốc, Ăng
Co Vát ở Cam-pu-chia….). Trong suốt quá trình vận hành, các thành quả
phía các nhà đầu tư như quản lý kém, chất lượng sản phẩm không đạt
yêu cầu….. có nguyên nhân khách quan như giá nguyên liệu tăng, giá
bán sản phẩm giảm, công suất sản xuất không đạt công suất thiết kế….
1.1.3Nội dung của hoạt động đầu tư phát triển và vốn đầu tư
cho loại đầu tư này
Xuất phát từ lĩnh vực phát huy tác dụng đầu tư phát triển bao gồm
các hoạt động đầu tư phát triển sản xuất, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng -
kỹ thuật chung của nền kinh tế, đầu tư phát triển văn hoá giáo dục, đầu
Sinh viên: Hoàng Thị Quý - lớp Thống kê 47A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 6
tư phát triển các hoạt động y tế và dịch vụ xã hội khác, đầu tư phát triển
khoa học kỹ thuật, đầu tư vào các lĩnh vực khác trực tiếp có tác động đến
việc duy trì sự hoạt động của cơ sở vật chất kỹ thuật đang tồn tại, tăng
thêm tài sản vật chất, nguồn nhân lực và tài sản trí tuệ cho nền kinh tế.
Xuất phát từ đặc trưng kỹ thuật của các hoạt động trong mỗi công
cuộc đầu tư, đầu tư phát triển bao gồm các hoạt động chuẩn bị đầu tư,
mua sắm các đầu vào của quá trình thực hiện đầu tư, thi công xây lắp
công trình, tiến hành các công tác xây dựng cơ bản và xây dựng cơ bản
khác có liên quan đến sự phát huy tác dụng sau này của công cuộc đầu tư
phát triển.
Với nội dung của hoạt động đầu tư phát triển trên đây, để tạo thuận
lợi cho công tác quản lý việc sử dụng vốn đầu tư nhằm đem lại hiệu quả
kinh tế xã hội cao, có thể phân chia vốn đầu tư thành các khoản sau đây:
- Trên giác độ quản lý vĩ mô vốn đầu tư được phân thành 4 khoản
mục lớn như sau:
+ Những chi phí tạo ra tài sản cố định (mà sự biểu hiện bằng tiền là
vốn cố định)
+ Những chi phí tạo ra tài sản lưu động (mà sự biểu hiện bằng tiền
là vốn lưu động) và các chi phí thường xuyên gắn với một chu kỳ hoạt
động của các tài sản cố định vừa được tạo ra.
toàn bộ nền kinh tế. Theo số liệu của Ngân Hàng Thế Giới, đầu tư
thường chiếm khoảng 24-28% trong cơ cấu tổng cầu của tất cả các nước
trên thế giới. Đối với tổng cầu, tác động của đầu tư là ngắn hạn. Với tổng
cung chưa kịp thay đổi, sự tăng lên của đầu tư làm cho tổng cầu tăng
(đường D dịch chuyển sang D’ ) kéo sản lượng cân bằng tăng theo từ Q
0
-
Q
1
và giá cả của các đầu vào của đầu tư tăng từ P
0
- P
1
. Điểm cân bằng
dịch chuyển từ E
0
- E
1
.
-Về mặt cung: Khi thành quả của đầu tư phát huy tác dụng, các năng lực
mới đi vào hoạt động thì tổng cung, đặc biệt là tổng cung dài hạn tăng
Sinh viên: Hoàng Thị Quý - lớp Thống kê 47A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 8
lên (đường S dịch chuyển sang S’ ), kéo theo sản lượng tiềm năng tăng
từ Q
1
-Q
2
và do đó giá cả sản phẩm giảm từ P
1
Q
S
S’
D
D’
0
E
1
E
2
E
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 9
Chẳng hạn, khi tăng đầu tư, cầu của các yếu tố của đầu tư tăng làm
cho giá của các hàng hoá có liên quan tăng (giá chi phí vốn, giá công
nghệ, lao động, vật tư) đến một mức độ nào đó dẫn đến tình trạng lạm
phát. Đến lượt mình, lạm phát làm cho sản xuất đình trệ, đời sống của
người lao động gặp nhiều khó khăn do tiền lương ngày càng thấp hơn,
thâm hụt ngân sách, kinh tế phát triển chậm lại. Mặt khác, tăng đầu tư
làm cho cầu của các yếu tố có liên quan tăng, sản xuất của các ngành này
phát triển, thu hút thêm lao động, giảm tình trạng thất nghiệp, nâng cao
đời sống người lao động, giảm tệ nạn xã hội. Tất cả các tác động này tạo
điều kiện cho sự phát triển kinh tế.
Khi giảm đầu tư cũng dẫn đến tác động hai mặt, nhưng theo chiều
hướng ngược lại so với các tác động trên đây. Vì vậy, trong điều hành vĩ
mô nền kinh tế, các nhà hoạt động chính sách cần thấy hết tác động hai
mặt này dể đưa ra các chính sách nhằm hạn chế các tác động xấu, phát
huy tác động tích cực, duy trì được sự ổn định của toàn bộ nền kinh tế.
Đầu tư với việc tăng cường khả năng khoa học và công nghệ
Công nghệ là trung tâm của công nghiệp hoá. Đầu tư là điều kiện
tiên quyết của sự phát triển và tăng cường khả năng công nghệ của nước
Các công trình trọng điểm, mũi nhọn thường là các công trình đầu tư
lớn, công nghệ hiện đại, mang tính chất đầu tư mồi, tạo tiền đề để đầu tư
phát triển các công trình khác. Chỉ tiêu này càng lớn cho thấy mức độ tập
trung của công nghệ và gián tiếp phản ánh mức độ hiện đại của công
nghệ.
Đầu tư và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế là cơ cấu của tổng thể các yếu tố cấu thành nền
kinh tế, có quan hệ chặt chẽ với nhau, được biểu hiện cả về mặt chất và
mặt lượng, tuỳ thuộc mục tiêu của nền kinh tế.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế được hiểu là sự thay đổi tỷ trọng của
các bộ phận cấu thành nền kinh tế. Sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế xảy ra
khi có sự phát triển không đồng đều về qui mô, tốc độ giữa các ngành,
Sinh viên: Hoàng Thị Quý - lớp Thống kê 47A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 11
vùng. Những cơ cấu kinh tế chủ yếu trong nền kinh tế quốc dân bao gồm
cơ cấu kinh tế ngành, lãnh thổ, theo thành phần kinh tế.
Kinh nghiệm của các nước trên thế giới cho thấy con đường tất
yếu có thể tăng trưởng nhanh tốc độ mong muốn (từ 9 đến 10%) là tăng
cường đầu tư nhằm tạo ra sự phát triển ở khu vực công nghiệp và dịch
vụ. Đối với các ngành nông, lâm, ngư nhgiệp do những hạn chế về đất
đai và các khả năng sinh học, để đạt được tốc độ tăng trưởng từ 5-6% là
rất khó khăn. Đầu tư có tác động quan trọng đến chuyển dịch cơ cấu kinh
tế. Đầu tư góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp qui luật và
chiến lược phát triển kinh tế xã hội của quốc gia trong từng thời kỳ, tạo
ra sự cân đối mới trên phạm vi nền kinh tế quốc dân và giữa các ngành,
vùng phát huy nội lực của nền kinh tế, trong khi vẫn coi trọng yếu tố
ngoại lực. Như vậy, chính đầu tư quyết định quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế ở các quốc gia nhằm đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh của
toàn bộ nền kinh tế.
Về cơ cấu lãnh thổ, đầu tư có tác dụng giải quyết những mất cân
% thay đổi tỷ trọng VA của
ngành trong tổng GDP giữa kỳ
nghiên cứu so với kỳ trước
Hệ số co dãn giữa
việc thay đổi cơ
cấu đầu tư ngành
với thay đổi GDP
=
% thay đổi tỷ trọng vốn đầu tư của
ngành nào đó/ tổng vốn đầu tư xã
hội kỳ nghiên cứu so với kỳ trước
% thay đổi tốc độ tăng trưởng
GDP giữa kỳ nghiên cứu so với
kỳ trước
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 13
+ Cần điều chỉnh cơ cấu đầu tư theo hướng: căn cứ vào thị trường
chung cả nước và phát huy lợi thế so sánh của từng vùng.
+ Các ngành, địa phương phải có kế hoạch đầu tư phù hợp khả
năng tài chính, tránh đầu tư phân tán dàn trải.
Đầu tư tác động đến tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Đầu tư vừa tác động đến tốc độ tăng trưởng vừa tác động đến chất
lượng tăng trưởng. Tăng qui mô vốn đầu tư và sử dụng vốn đầu tư hợp lý
là những nhân tố rất quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư, tăng
năng suất nhân tố tổng hợp, tác động đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng CNH – HĐH, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế… do
đó, nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế.
Biểu hiện tập trung của mối quan hệ giữa đầu tư phát triển với tăng
trưởng kinh tế thể hiện ở công thức tính hệ số ICOR.
Hệ số ICOR (Incremental Capital Output Ratio - tỷ số gia tăng của
vốn so với sản lượng) là tỷ số giữa qui mô đầu tư tăng thêm với mức gia
g
là tốc độ tăng trưởng của ngành i, g là
tốc độ tăng trưởng kinh tế chung thì
α
∗∗=
∑
g
g
ICO
i
i
ICOR R
Thứ hai, sự phát triển của khoa học và công nghệ có ảnh hưởng hai
mặt đến hệ số ICOR. Gia tăng đầu tư cho khoa học công nghệ, một mặt,
làm cho tử số của công thức tăng, mặt khác, sẽ tạo ra nhiều ngành mới
công nghệ mới, làm máy móc hoạt động hiệu quả hơn, năng suất cao hơn
kết quả đầu tư tăng lên (tăng mẫu số của công thức). Như vậy, hệ số
ICOR tăng hay giảm phụ thuộc vào xu hướng nào chiếm ưu thế.
Thứ ba, do thay đổi cơ chế chính sách và phương pháp tổ chức
quản lý. Cơ chế chính sách phù hợp, đầu tư có hiệu quả hơn (nghĩa là,
kết quả đầu tư ở mẫu số tăng lớn hơn chi phí ở tử số) làm cho ICOR
giảm và ngược lại.
Sinh viên: Hoàng Thị Quý - lớp Thống kê 47A
ICOR =
Tỷ lệ vốn đầu tư / GDP
Tốc độ tăng trưởng kinh tế
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 15
ICOR của mỗi nước phụ thuộc vào nhiều nhân tố, thay đổi theo
trình độ phát triển kinh tế và cơ chế chính sách trong nước. Ở các nước
yếu do yếu tố bề rộng, đặc biệt do yếu tố vốn – nhân tố mà Việt Nam
còn thiếu và sử dụng hiệu quả không cao, trong khi yếu tố lao động,
được coi là nguồn lực nội sinh, lợi thế chi phí thấp thì mức đóng góp cho
tăng trưởng kinh tế lại chưa tương xứng.
b,Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ
Đầu tư quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của mỗi cơ sở.
Để tạo dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho sự ra đời của bất kỳ cơ sở nào
đều cần phải xây dựng nhà xưởng, cấu trúc hạ tầng, mua sắm và lắp đặt
thiết bị máy móc trên nền bệ, tiến hành các công tác xây dựng cơ bản và
thực hiện các chi phí khác gắn liền với sự hoạt động trong một chu kỳ
của các cơ sở vật chất kỹ thuật vừa được tạo ra. Các hoạt động này chính
là hoạt động đầu tư. Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ đang
tồn tại sau một thời gian hoạt động, các cơ sở vật chất- kỹ thuật của các
cơ sở này hao mòn, hư hỏng. Để duy trì được sự hoạt động bình thường
cần định kỳ tiến hành sửa chữa lớn hoặc thay mới các cơ sở vật chất -kỹ
thuật đã hư hỏng, hao mòn này hoặc đổi mới để thích ứng với điều kiện
hoạt động mới của sự phát triển khoa học- kỹ thuật và nhu cầu tiêu dùng
của nền sản xuất xã hội, phải mua sắm các trang thiết bị mới thay thế cho
các trang thiết bị cũ đã lỗi thời, cũng có nghĩa là phải đầu tư.
c,Đối với các cơ sở vô vị lợi
Các cơ sở đang tồn tại, để duy trì sự hoạt động, ngoài tiến hành
sửa chữa lớn định kỳ các cơ sở vật chất - kỹ thuật còn phải thực hiện các
chi phí thường xuyên. Tất cả những hoạt động và chi phí này đều là
những hoạt động đầu tư.
1.2Khái niệm, nội dung, phân loại vốn đầu tư
1.2.1Khái niệm và nội dung vốn đầu tư
Vốn đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của vốn nói chung. Trên
phương diện nền kinh tế, vốn đầu tư phát triển là biểu hiện bằng tiền
Sinh viên: Hoàng Thị Quý - lớp Thống kê 47A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 18
thôn, phòng bệnh, kế hoạch hoá gia đình, phòng chống tệ nạn xã hội…
Vốn đầu tư cho lĩnh vực giáo dục; chương trình phổ cập giáo dục, nghiên
cứu, triển khai đào tạo, giáo dục….
1.2.2Phân loại vốn đầu tư
- Phân loại vốn đầu tư theo hình thức sở hữu gồm:
+ Vốn trong nước: vốn thuộc sở hữu của nhà nước và vốn không
thuộc sở hữu nhà nước.
+ Vốn nước ngoài: vốn của Chính phủ nước ngoài hỗ trợ và vốn
của tư nhân nước ngoài đầu tư.
- Phân loại vốn đầu tư theo ngành kinh tế Quốc dân:
+ Vốn đầu tư cho ngành Công nghiệp
+ Vốn đầu tư cho ngành Nông nghiệp
+ Vốn đầu tư cho ngành dịch vụ
- Phân loại vốn đầu tư theo tính chất sử dụng:
+ Vốn đầu tư cho sản xuất
+ Vốn đầu tư cho tài sản phi sản xuất
1.3Các nguồn hình thành vốn đầu tư
Nguồn hình thành vốn đầu tư chính là phần tích luỹ được thể hiện
dưới dạng giá trị được chuyển hoá thành vốn đầu tư đáp ứng yêu cầu
phát triển của xã hội. Nguồn vốn đầu tư bao gồm vốn đầu tư trong nước
và nguồn vốn đầu tư nước ngoài.
1.3.1Nguồn vốn trong nước
a,Nguồn vốn nhà nước
Nguồn vốn đầu tư nhà nước bao gồm nguồn vốn của ngân sách
nhà nước, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và nguồn
vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước.
- Đối với nguồn vốn ngân sách nhà nước: Đây chính là nguồn chi
của ngân sách nhà nước cho đầu tư. Đó là một nguồn vốn đầu tư quan
trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia.
tích cực trong việc giảm đáng kể sự bao cấp vốn trực tiếp của nhà nước.
Sinh viên: Hoàng Thị Quý - lớp Thống kê 47A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 20
Với cơ chế tín dụng, các đơn vị sử dụng nguồn vốn này phải đảm bảo
nguyên tắc hoàn trả vốn vay. Chủ đầu tư là người vay vốn phải tính kỹ
hiệu quả đầu tư, sử dụng vốn tiết kiệm hơn. Vốn tín dụng đầu tư phát
triển của nhà nước là một hình thức quá độ chuyển từ phương thức cấp
phát ngân sách sang phương thức tín dụng đối với các dự án có khả năng
thu hồi vốn trực tiếp.
Bên cạnh đó, vốn tín dụng đầu tư của nhà nước còn phục vụ công
tác quản lý và điều tiết kinh tế vĩ mô. Thông qua nguồn tín dụng đầu tư,
nhà nước thực hiện việc khuyến khích phát triển kinh tế - xã hội của
ngành, vùng, lĩnh vực theo định hướng chiến lược của mình. Đứng ở
khía cạnh là công cụ điều tiết vĩ mô, nguồn vốn này không chỉ thực hiện
mục tiêu tăng trưởng kinh tế mà còn thực hiện cả mục tiêu phát triển xã
hội. Việc phân bổ và sử dụng vốn tín dụng đầu tư còn khuyến khích phát
triển những vùng kinh tế khó khăn, giải quyết các vấn đề xã hội như xoá
đói giảm nghèo. Và trên hết, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của
nhà nước có tác dụng tích cực trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá.
- Nguồn vốn đầu tư từ doanh nghiệp nhà nước: là thành phần giữ
vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, các doanh nghiệp nhà nước vẫn nắm
giữ một khối lượng vốn nhà nước khá lớn. Theo báo cáo tổng kết công
tác kiểm kê tài sản và xác định lại giá trị tài sản doanh nghiệp nhà nước
tại thời điểm 0h ngày 1 tháng 1 năm 2000, tổng nguồn vốn chủ sở hữu
tại các doanh nghiệp nhà nước là 173.857 tỷ đồng. Mặc dù vẫn còn một
số hạn chế nhưng đánh giá một cách công bằng thì khu vực kinh tế nhà
nước vẫn đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nhiều thành phần.
Với chủ trương tiếp tục đổi mới doanh nghiệp nhà nước, hiệu quả
hoạt động của khu vực kinh tế này ngày càng được khẳng định, tích luỹ
- Chính sách động viên của nhà nước thông qua chính sách thuế
thu nhập và các khoản đóng góp đối với xã hội.
Sinh viên: Hoàng Thị Quý - lớp Thống kê 47A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 22
Với khoảng vài vạn doanh nghiệp ngoài nhà nước (doanh nghiệp
tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, các hợp tác xã)
đang và sẽ đi vào hoạt động, phần tích luỹ của các doanh nghiệp này
cũng sẽ đóng góp đáng kể vào tổng quy mô vốn của toàn xã hội.
Thực hiện chính sách đổi mới, cơ chế cởi mở hàng chục ngàn
doanh nghiệp được thành lập mới với số vốn hàng chục ngàn tỷ đồng
(chỉ riêng 8 tháng đầu năm 2001, có khoảng 11 ngàn doanh nghiệp mới
được thành lập với số vốn 13.000 tỷ đồng).
c,Thị trường vốn
Thị trường vốn có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp phát triển
kinh tế của các nước có nền kinh tế thị trường. Nó là kênh bổ sung các
nguồn vốn trung và dài hạn cho các chủ đầu tư – bao gồm cả nhà nước
và các loại hình doanh nghiệp. Thị trường vốn mà cốt lõi là thị trường
chứng khoán như một trung tâm thu gom mọi nguồn vốn tiết kiệm của
từng hộ dân cư, thu hút mọi nguồn vốn nhàn rỗi của các doanh nghiệp,
các tổ chức tài chính, chính phủ trung ương và chính quyền địa phương
tạo thành một nguồn vốn khổng lồ cho nền kinh tế. Đây được coi là một
lợi thế mà không một phương thức huy động vốn nào có thể làm được.
Bằng việc phát hành và mua bán chứng khoán, các khoản vốn
manh mún, rải rác trong dân cư và các tổ chức kinh tế sẽ được huy động
nhằm đáp ứng những nhu cầu về đầu tư và phát triển sản xuất kinh
doanh. So sánh với hình thức huy động vốn qua ngân hàng, thị trường
vốn huy động tiền rộng rãi hơn, phương thức tín dụng linh hoạt, đa dạng,
có thể đáp ứng nhanh chóng những nhu cầu khác nhau của người cần
vốn, đảm bảo về hiệu quả và thời gian lựa chọn.
Thông qua thị trường vốn, chính phủ trung ương và chính quyền
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài.
- Thị trường vốn quốc tế.
a,Nguồn vốn ODA
Sinh viên: Hoàng Thị Quý - lớp Thống kê 47A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 24
Đây là nguồn vốn phát triển do các tổ chức quốc tế và các chính
phủ nước ngoài cung cấp với mục tiêu trợ giúp các nước đang phát triển.
So với các hình thức tài trợ khác, ODA mang tính ưu đãi cao hơn bất cứ
nguồn ODF nào khác. Ngoài các điều kiện ưu đãi về lãi suất, thời hạn
cho vay dài, khối lượng vốn vay tương đối lớn, bao giờ trong ODA cũng
có yếu tố không hoàn lại (còn gọi là thành tố hỗ trợ) đạt ít nhất 25%.
Yếu tố không hoàn lại của từng khoản vay được xác định dựa vào
các yếu tố lãi suất, thời hạn cho vay, thời hạn ân hạn, số lần trả nợ trong
năm và tỷ suất chiết khấu. Công thức tính tỷ lệ yếu tố không hoàn lại
(GE) như sau:
( ) ( )
( )
−
+−+
−
nhanh và bền vững trong thời kỳ 2006-2010, Chính phủ Việt Nam tiếp
tục chủ trương huy động mọi nguồn vốn, trong đó, nguồn vốn ODA thực
hiện dự kiến khoảng 11-12 tỷ USD. Trong 5 năm 2006-2010 chiếm
khoảng 80% tổng ODA cam kết.
Mặc dù có tính ưu đãi cao, song sự ưu đãi cho loại vốn này thường đi
kèm các điều kiện và ràng buộc tương đối khắt khe (tính hiệu quả của dự
án, thủ tục chuyển giao vốn và thị trường…). Vì vậy, để nhận được loại
tài trợ hấp dẫn này với thiệt thòi ít nhất, cần phải xem xét dự án trong
điều kiện tài chính tổng thể. Nếu không việc tiếp nhận viên trợ có thể trở
thành gánh nặng nợ nần lâu dài cho nền kinh tế. Điều này còn hàm ý
rằng, ngoài những yếu tố thuộc về nội dung dự án tài trợ, còn cần có
nghệ thuật thoả thuận để vừa có thể nhận vốn, vừa bảo tồn được các mục
tiêu có tính nguyên tắc.
b,Nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại quốc tế.
Điều kiện ưu đãi dành cho loại vốn này không dễ dàng như đối với
nguồn vốn ODA. Tuy nhiên, bù lại nó có ưu điểm rõ ràng là không có
gắn với các ràng buộc về chính trị, xã hội. Mặc dù vậy, thủ tục vay đối
với nguồn vốn này thường là tương đối khắt khe, thời gian trả nợ nghiêm
ngặt, mức lãi suất cao là những trở ngại không nhỏ đối với các nước
nghèo.
Do được đánh giá là mức lãi suất tương đối cao cũng như sự thận
trọng trong kinh doanh ngân hàng (tính rủi ro ở nước đi vay, của thị
trường thế giới và xu hướng lãi suất quốc tế), nguồn vốn tín dụng của
các ngân hàng thương mại thường được sử dụng chủ yếu để đáp ứng nhu
cầu xuất nhập khẩu và thường là ngắn hạn. Một bộ phận của nguồn vốn
này có thể được dùng để đầu tư phát triển. Tỷ trọng của nó có thể gia
tăng nếu triển vọng tăng trưởng của nền kinh tế là lâu dài, đặc biệt là
Sinh viên: Hoàng Thị Quý - lớp Thống kê 47A