Quản lý tổng hợp chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Sóc Trăng
SVTH: Nguyễn Văn Tâm 1
MSSV: B120511
Chương 1: CHƯƠNG MỞ ĐẦU
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây, với tốc độ phát triển kinh tế và dân số ngày càng
tăng nhanh của tỉnh Sóc Trăng nói riêng và Việt Nam nói chung, đã gây ra một áp
lực không hề nhỏ đối môi trường và tài nguyên thiên. Vấn đề ô nhiễm môi trường
đất, nước, không khí, cảnh quan đô thị … do ảnh hưởng từ Chất thải rắn tại tỉnh Sóc
Trăng ngày càng có xu hướng tăng lên nhanh chóng. Trong đó các vấn đề quản lý
và xử lý chưa tốt chất thải rắn ở các khu đô thị, các cơ sở sản xuất công nghiệp, các
khu công nghiệp, các cơ sở y tế…. đã là nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước,
không khí, tác động xấu tới đời sống, sức khõe người dân và làm mất vẽ mỹ quan
độ thị. Đặc biệt là sự tăng lên CTR trên địa bàn tỉnh không ngừng gia tăng, tạo sức
ép lớn trong công tác bảo vệ môi trường, lựa chọn mặt bằng đầu tư công nghệ thu
gom, xử lý CTR.
Để chủ động ngăn chặn sự ô nhiễm môi trường do rác thải gây ra và bảo vệ
đến sức khỏe của người dân. Chính vì vây, điều cần thiết mà chúng ta làm hiện nay
là xây dựng một mô hình xử lý rác thải nhằm hướng đến một đô thị xanh-sạch-đẹp
trong tương lai.
Từ các vấn đề trên ta thấy sự cần thiết và cấp bách của đề tài “Quản lý tổng
hợp chất thải rắn sinh hoạt ở Tỉnh Sóc Trăng”.
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Đánh giá hiện trạng quản lý chất rắn cho thành phố Sóc Trăng
Đề xuất một số giải pháp quản lý tổng hợp chất thải rắn tại thành phố Sóc
Trăng định hướng phát triển đến năm 2030
1.3. NỘI DUNG ĐỀ TÀI
- Tham khảo tài liệu có liên quan đến đề tài.
- Phân tích thành phần trong rác thải sinh hoạt.
- Dự báo diễn biến của rác đến năm 2025.
trong bảng sau:
Quản lý tổng hợp chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Sóc Trăng
SVTH: Nguyễn Văn Tâm 3
MSSV: B120513
Bảng 2.1 Nguồn và các loại rác tiêu biểu
Nguồn
Các hoạt động và khu
vực liên quan đến việc
sản sinh ra rác
Các thành phần của rác
Khu dân cư Các hộ gia đình
Thức ăn thừa, rác, tro và
các loại khác
Khu thương mại
Cửa hiệu, nhà hàng, chợ,
văn phòng, khách sạn,
xưởng in, sửa chữa ô tô,…
Thức ăn thừa, rác, tro,
chất thải do quá trình phá
dỡ và xây dựng các loại
khác (có rác nguy hại)
Cơ quan
Trường học, bệnh viện, cơ
quan nhà nước,…
Giống như rác thương
mại
Công nghiệp (sản xuất)
Xây dựng, dệt, công
nghiệp nặng, công nghiệp
nhẹ, lọc dầu, hóa chất,
khai thác mỏ, điện,…
Các chất thải từ quy trình
sản xuất, các mảnh vụn
nguyên liệu, rác từ sinh
hoạt của công nhân
Quản lý tổng hợp chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Sóc Trăng
SVTH: Nguyễn Văn Tâm 4
MSSV: B120514
Khu sản xuất nông
nghiệp
Ruộng vườn, chăn nuôi
Phụ phế phẩm nông
nghiệp, rác, các chất thải
nguy hại
(Tchobanoglous và Kreith. 2002, tham khảo từ Lê Hoàng Việt, Nguyễn Hữu Chiếm.
2013)
2.1.3 Thành phần của chất thải rắn
Theo Nguyễn Văn Phước (2008):
Thành phần của CTR là một thuật ngữ dùng để mô tả tính chất và nguồn gốc
các yếu tố riêng biệt cấu thành nên dòng chất thải, thông thường được tính bằng
phần trăm theo khối lượng.
Thông thương trong CTR đô thị, CTR từ các khu dân cư và thương mại
chiếm tỷ lệ 50-75%. Thành phần của CTR thay đổi theo vị trí địa lý, địa chất thủy
văn, thời gian, mùa trong năm, điều kiện kinh tế và tùy thuộc vào thu nhập của từng
quốc gia
Theo Lê Hoàng Việt (2005), thành phần của rác là:
làm nhiễm bẩn không khí bằng cách tòa mùi.
+ Dầu cặn thất thoát từ việc thu thập, khai thác và tái sử dụng, nếu
không thu gom riêng thì sẽ trộn lẫn với các loại rác thải khác, và làm giảm giá trị tái
sử dụng
+ Bánh xe cao su cũng được tính là một loại rác thải độc hại do sự phân
hủy chúng rất lâu và gây tác động xấu đến nơi chôn lấp.
+ Ngoài ra, các hóa chất gây cháy nổ, phóng xạ, ăn mòn, các nguồn rác
từ khu bệnh viện,…. Ảnh hưởng xấu đến môi trường và sức khỏe con người.
2.1.4 Khối lượng chất thải rắn
Việc xác định khối lượng CTR phát sinh và thu gom là một trong những
điểm quan trọng của việc quản lý CTR.
Theo Nguyễn Văn phước (2008). Các phương pháp thường được sử dụng để
ước lượng khối lượng CTR.
- Phân tích khối lượng – thể tích: trong phương pháp nàykhối lượng hoặc thể
tích của CTR được xác định để tính toán khối lượng CTR. Phương pháp đo thể tích
thường có độ sai số cao.
- phương pháp đếm tải: trong phương pháp này số lượng xe thu gom đặc
điểm và tính chất của chất thải tương ứng ( loại chất thải, thể tích ước lượng) được
ghi nhận trong suốt thời gian dài. Khối lượng chất thải phát sinh trong thời gian
khảo sát ( gọi là khối lượng đơn vị). sẽ được tính toán bằng cách sử dụng các số liệu
thu thập tại khu vực nghiên cứu trên và các số liệu đã biết trước.
Quản lý tổng hợp chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Sóc Trăng
SVTH: Nguyễn Văn Tâm 6
MSSV: B120516
- Phương pháp cân bằng vật chất: là phương pháp cho kết quả chính xác nhất
thực hiện cho từng nguồn phát sinh riêng rẽ như hộ dân cư, nhà máy cũng như khu
công nghiệp và khu thương mại. Phương pháp này sẽ cho kết quả đáng tin cậy cho
chương trình quản lý CTR.
2.2 TÍNH CHẤT CỦA CHẤT THẢI RẮN
2.2.1 Tính chất vật lý của chất thải rắn
a: trọng lượng ban đầu của mẫu (mg)
b: trọng lượng sau khi sấy của mẫu (mg)
Độ ẩm của CTR được xác định theo một trong hai cách: Tính theo thành phần phần
trăm khối lượng ướt và thành phần trăm khối lượng khô. Trong lĩnh vực quản lý
CTR, phương pháp khối lượng ướt thông dụng hơn.
Quản lý tổng hợp chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Sóc Trăng
SVTH: Nguyễn Văn Tâm 7
MSSV: B120517
Bảng 2.2. Trọng lượng riêng và ẩm độ các thành phần của rác thải đô thị
Trọng lượng riêng lb/yd
3
Ẩm độ
Thành phần
Khoảng biến
thiên
Giá trị tiêu
biểu
Khoảng biến
thiên
Giá trị tiêu
biểu
Thức ăn thừa 220 – 810 490 50 – 80 70
Giấy 70 – 220 150 4 – 10 6
Carton 70 – 135 85 4 – 8 5
Nhựa 70 – 220 110 1 – 4 2
Vải 70 – 170 110 6 – 15 10
Cao su 170 – 340 220 1 – 4 2
Da 170 – 440 270 8 – 12 10
Lá và cành cây 100 – 380 170 30 – 80 60
Gỗ 220 – 540 400 15 – 40 20
-11
đến 10
-12
m
2
/s theo phương thẳng đứng và khoảng 10
-10
m
2
/s.
Hệ số thấm được tính như sau:
kCdK
2
Trong đó: K: Hệ số thấm, m
2
/s
C: Hằng số không thứ nguyên
d: Kích thước trung bình của các lổ rỗng trong rác, m
:. Trọng lượng riêng của nước, kg.m/s
2
: Hệ số nhớt của nước, Pa.s
k: Độ thấm riêng, m
2
e) kích thước và sự phân bố kích thước
l: chiều dài, (mm)
w: chiều rộng, (mm)
h: chiều cao, (mm)
Do sự khác nhau đáng kể của các nguồn vật liệu mà tùy vào từng trường hợp cụ
thể, chúng ta có thể sử dụng một trong các công thức trên cho phù hợp
(Tchobanoglous et al. 1977, tham khảo từ Lê Hoàng Việt, Nguyễn Hữu Chiếm.
2013).
2.2.2 Tính chất hóa học của chất thải rắn
Tính chất hóa học của CTR đóng vai trò quan trọng trong việc lựa chọn phương án
xử lý và thu hồi vật liệu.
2.2.2.1. Những tính chất cơ bản
a/ Độ ẩm (phần mất đi khi sấy ở 105
o
C trong thời gian 1 giờ)
b/ Chất dễ bay hơi (khối lượng bị mất khi đem mẫu CTR đã sấy ở 105
o
C
trong 1 giờ nung ở nhiệt độ 550
o
C trong lò kín).
c/ Cacbon cố định ( phần cacbon còn lại sau khi đốt ở 600 – 900
o
C)
d/ Tro ( phần còn lại sau khi đốt trong lò hở)
2.2.2.2. Điểm nóng chảy của tro
Theo Nguyễn Văn Phước (2008), Điểm nóng chảy của tro là nhiệt độ mà tại đó
tro tạo thành từ quá trình đốt cháy chất thải bị nóng chảy và kết dính tạo thành dạng
rắn. Nhiệt độ nóng chảy đặc trưng đối với xỉ từ quá trình đốt CTR dao động từ 1100
– 1200
o
Tro, bụi 26,3 3 2 0,5 0,2 68,0
Thủy tinh 0,5 0,1 0,4 <0,1 - 98,9
Kim loại 4,5 0,6 4,3 <0,1 - 90,5
Rác đô thị 15-30 2-5 12-24 0,2-1,0 0,02-0,1 -
(gốc kaiser, 1969: tham khảo từ Tchobanoglous et al., 1993)
2.2.3 Tính chất sinh học của chất thải rắn
Quản lý tổng hợp chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Sóc Trăng
SVTH: Nguyễn Văn Tâm 11
MSSV: B1205111
Ngoài nhựa, cao su, da, phần chất hữu cơ của hầu hết CTR có thể được phân
loại như sau:
1. Những chất tan được như đường, tinh bột, amino acid, và nhìu loại hữu cơ
khác.
2. Hemicellulose và các hợp chất tạo thành từ đường 5 và 6 cacbon.
3. Cellulose và các hợp chất tạo thành từ đường 6 cacbon
4. Chất béo, dầu, sáp là những ester của rượu và acid béo chuỗi dài.
5. Lignin là hợp chất cao phân tử chứa các vòng thơm và các nhóm methoxyl (-
OCH
3
).
6. Liginocellulose là kết hợp của lignin và cellulose
7. Protein là sự kết hợp của các chuỗi amino axit
Đặc tính sinh học quan trọng nhất của thành phần chất hữu cơ có trong CTR là
thành phần này đều có khả năng chuyển hóa sinh học tạo thành khí, chất rắn hữu cơ
trơ, và các chất vô cơ. Mùi và ruồi nhặng sinh ra trong quá trình chất hữu cơ bị thối
rữa có trong rác.
2.2.3.1 Khã năng phân hủy sinh học của các thành phần chất hữu cơ
Hàm lượng chất rắn bay hơi (VS), xác định bằng cách nung ở nhiệt độ 550
o
C,
Mùi sinh ra khi tồn trữ CTR trong thời gian dài giữa các khâu thu gom, trung
chuyển và thải rác nhất là ở những vùng khí hậu nóng do quá trình phân hủy kỵ khí
các chất hữu cơ dễ phân hủy có trong CTR. Trong điều kiện kỵ khí sulfate có thể
khử thành sulfide (S
2-
), sau đó kết hợp với H
2
tạo thành H
2
2CH
3
CHOHCOOH + SO
4
2-
→ 2CH
3
COOH + S
2-
+ H
2
O + CO
2
Lactate Sulfate Acetate Sulfide ion
4H
2
+ SO
4
2-
→ S
CH(NH
2
)COOH + 2H → CH
3
SH + CH
3
CH
2
CH
2
(NH
2
)COOH
methionine methyl mercaptan
Methylmercaptan có thể bị thủy phân sinh học tạo thành methyl alcohol và
hydrogen sulfide
CH
3
SH + H
2
O → CH
4
OH + H
2
S
2.2.3.3 Sự sản sinh ruồi nhặng
Vào mùa hè cũng như tất cả các mùa của những vùng có khí hậu ấm áp, sự
sinh sản ruồi ở khu vực chứa rác là vấn đề đáng quan tâm. Quá trình phát triển từ
trứng thành ruồi thường ít hơn 2 tuần kể từ ngày đẻ trứng. Thông thường chu kỳ
phát triển của ruồi ở khu dân cư từ trứng thành ruồi có thể biểu diễn như sau:
Phân loại
Phân loại thủ công hoặc
cơ khí
Các thành phần riêng rẽ có
trong CTR
Giảm thể tích Nén, Ép Giảm thể tích chất thải
Giảm kích thước Cắt, xay, nghiền Giảm kích thước chất thải
Hóa học
Đốt Oxy hóa
CO
2
, SO
2
, tro, các sản
phẩm khác
Nhiệt phân Chưng cất phân hủy
Khí hóa Đốt thiếu khí
Khí gồm hỗn hợp khí, cặn
dầu và than.
Sinh học
Làm phân compost hiếu khí
Biến đổi sinh học hiếu
khí
Phân compost
Phân hủy kỵ khí Biến đổi sinh học kỵ khí CH
4
, CO
2
, bùn
Làm phân compost kỵ khí Biến đổi sinh học kỵ khí
Việc thay đổi tập quán sinh hoạt trên cơ sở tự nguyện nhằm bảo vệ tài
nguyên thiên nhiên sẽ làm giảm bớt gánh nặng cho toàn xã hội trong vấn đề quản lý
chất thải rắn.
2.2.6 Dự báo khối lượng và thành phần chất thải rắn trong tương lai
Theo Nguyễn Văn Phước (2008) dự báo khối lượng chất thải rắn phát sinh
trong tương lai là vấn đề cần thiết và quan trọng để có kế hoạch đầu tư cho việc thu
gom, vận chuyển chất thải rắn một cách hợp lý. Khối lượng chất thải rắn phát sinh
trong tương lai của một khu vực được dự báo dựa trên 3 căn cứ sau:
+ Số dân và tỷ lệ tăng dân số
+ tỷ lệ phần trăm (%) dân cư được phục vụ
+ Khối lượng rác thải bình quân đầu người theo mức thu nhập
Quản lý tổng hợp chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Sóc Trăng
SVTH: Nguyễn Văn Tâm 16
MSSV: B1205116
2.2.6.1 Dự báo theo số dân và tỷ lệ tăng dân số
Theo cách này căn cứ theo dân số của khu vực hiện tại, kết hợp với mô hình
toán học để dự báo dân số trong những năm tiếp theo. Từ đó có thể tính tổng lượng
chất thải rắn phát sinh hiện tại cũng như trong tương lai của khu vực
Công thức toán được dùng để dự báo dân số là công thức Euler cải tiến, được
biểu diễn như sau:
tNrNN
NN
N
tNrNN
i
ii
ii
i
iii
– số dân sau nửa năm (người)
R – tốc độ tăng trưởng (% / năm)
t
- thời gian (năm).
2.3 Một số phương pháp xử lý chất thải rắn hiện nay
2.3.1 Xử lý bằng phương pháp cơ học
2.3.1.1 Giảm kích thước
Mục đích của phương pháp này là giảm kích thước của các loại nguyên liệu CTR.
Các vật liệu CTR được làm giảm kích thước có thể sử dụng trực tiếp làm chất che phủ trên
bề mặt hay sử dụng làm phân compost hoặc một phần được sử dụng cho các hoạt động tái
sinh CTR. (theo Nguyễn Văn phước.2008).
2.3.1.2 Phân loại theo kích thước
Là quá trình phân loại một hỗn hợp các loại vật liệu CTR có kích thước khác nhau
thành 2 hay nhiều loại vật liệu phần có cùng kích thước bằng cách sử dụng các loại sàng có
kích thước khác nhau. Quá trình phân loại thực hiện ckhi vật liệu còn ướt hoặc khô
2.3.1.3 Phân loại theo tỷ trọng
Là một phương pháp kỹ thuật được sử dụng để phân loại các vật liệu CTR dựa vào
khí động lực và sự khác nhau về khối lượng riêng khác nhau. Phương pháp này được sử
dụng để phân loại vật liệu từ quá trình tách nghiền thành 2 phần riêng biệt loại khác nhau:
Quản lý tổng hợp chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Sóc Trăng
SVTH: Nguyễn Văn Tâm 17
MSSV: B1205117
dạng có khối lượng nhẹ như giấy, nhựa, các chất hữu cơ và dạng có khối lượng riêng nặng
như là kim loại, gỗ
2.3.1.4 Phân loại theo điện trường và từ tính
Dựa vào tính chất điện từ và từ trường của các loại vật liệu có trong thành phần
CTR.
Phương pháp phân loại bằng từ trường được sử dụng phổ biến khi tiến hành
tách các kim loại màu ra khỏi kim loại đen. Phương pháp phân loại bằng tĩnh điện
2.3.3 Xử lý bằng phương pháp Ủ phân compost
Là quá trình biến đổi sinh học được sử dụng rộng rãi, mục đích là biến đổi
các chất thải rắn hữu cơ thành vô cơ dưới tác dụng của vi sinh vật. sản phẩm tạo
thành ở dưới dạng mùn gọi là phân compost.
Ưu điểm: ổn định chất thải, ức chế và tiêu diệt mầm bệnh, cải tạo đất trồng
và cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng, làm khô bùn.
Nhược điểm:
Cần diện tích lớn
Gây mất vẽ mỹ quan và tạo mùi hôi
Phân compost đắt tiền hơn và không đưa đến lợi ích trước mắt như
phân vô cơ.
Cồng kềnh hơn phân vô cơ.
2.3.4 Xử lý bằng phương pháp chôn lấp
Bãi chôn lấp hợp vệ sinh được định nghĩa là bãi chôn lấp chất thải rắn được
thiết kế và vận hành sao cho tác động đến sức khỏe cộng đồng và môi trường được
giảm đến mức thấp nhất. (Theo Nguyễn Văn Phước. 2008).
Là phương pháp xử lý cuối cùng đối rác khi các biện pháp khác đã sử dụng
hết. Quá trình sử dụng bãi chôn lấp bao gồm 4 giai đoạn: tìm địa điểm, thiết kế, vận
chuyển và kết thúc hoạt động.
Sản phẩm sinh ra từ quá trình chôn lấp thường là khí CH
4
, CO
2
và nước
thấm. Do vây, cần phải có hệ thống thu gom nước rò rỉ từ rác và xử lý khí (bằng hệ
thống cây xanh bao quanh bãi chôn lấp nhằm giảm nồng độ các chất gây ô nhiễm
không khí)
Ưu điểm:
- Ít tốn kém so với các phương pháp khác.
- Hình thức chôn lấp dễ thực hiện
a) Diện tích đất
Diện tích đất ít nhất phải đủ để tiến hành chôn lấp chất thải rắn của khu vực
trong thời gian 10 năm để các chi phí đầu tư cho hệ thống giao thông, thoát nước,
thoát nước, hàng rào và trạm cân mang tính kinh tế. Nếu thời gian sử dụng ngắn
hơn, thì phương pháp này trở nên tốn kém hơn do quá trình chuẩn bị bãi, cung cấp
các thiết bị phụ trợ và việc phủ lên lớp đất cuối cùng để hoàn thành việc chôn lấp
rác.
d) Điều kiện đất đai và địa mạo, địa chất
Vì hàng ngày và sau khi đã sử dụng hết công suất của bãi chôn lấp rác chúng
ta cần dùng một lượng đất để phủ lên rác, do đó, chúng ta cần biết về số lượng cũng
như đặc điểm của đất được sử dụng cho công việc này.
Quản lý tổng hợp chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Sóc Trăng
SVTH: Nguyễn Văn Tâm 20
MSSV: B1205120
Địa mạo sẽ ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương pháp vận hành ở bãi chôn
lấp, các thiết bị và công nghệ để chuẩn bị bãi chôn lấp rác.
e) Điều kiện khí hậu
Các điều kiện thời tiết phải được ghi nhận và đánh giá đầy đủ để có các biện
pháp phòng ngừa và giảm thiểu các ảnh hưởng bởi khí hậu.
f) Điều kiện nước mặt
Các điều kiện về nước mặt như thoát nước, rửa trôi, lũ lụt cần phải được xem
xét để hạn chế việc lựa chọn nhằm những khu vực không thích hợp.
g) Các điều kiện về môi trường của khu vực
Khi đạt đủ điều kiện để xây dựng một bãi chôn lấp rác gần khu công nghiệp và
dân cư, nên chú ý tới các tiêu chuẩn về môi trường cần phải đạt về tiếng ồn, mùi,
bụi và các động vật gây bệnh. Tránh để giấy và plastic bay khỏi khu vực bãi chôn
lấp.
h) Các mục tiêu tận dụng lại bãi chôn lấp chất thải rắn
Một trong những thuận lợi của bãi chôn lấp rác là sau khi đã sử dụng hết công
suất, người ta có thể tận dụng lại diện tích này cho các mục đích khác như sử dụng
o
56’ vĩ độ Bắc
- Từ 105
o
30’ đến 106
o
20’ kinh độ Đông
Hình 1.1. Bản đồ hành chính tỉnh Sóc Trăng
Quản lý tổng hợp chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Sóc Trăng
SVTH: Nguyễn Văn Tâm 22
MSSV: B1205122
3.2.2 Đặc điểm địa hình
Sóc Trăng có địa hình tương đối thấp và bằng phẳng, địa hình bao gồm phần
đất bằng xen kẽ những vùng trũng và các giồng cát. Toàn bộ tỉnh Sóc Trăng nằm ở
phía Nam của vùng cửa sông Hậu, cao độ địa hình thay đổi trong khoảng 0,2 - 2m
so với mực nước biển, vùng nội đồng có cao độ trung bình từ 0,5 - 1,0m. Đất đai
thuộc loại trầm tích hỗn hợp sông biển, có hàm lượng sét cao, chứa nhiều chất hữu
cơ. Cao độ tương đối thấp so với địa hình chung của ĐBSCL.
Tỉnh Sóc Trăng nhìn chung có địa hình trũng thấp bao gồm 3 dạng:
Độ ẩm: Độ ẩm trung bình cả năm là 84% (cao nhất 89% vào mùa mưa, thấp
nhất 79% vào mùa khô).
Các yếu tố khác: Tỉnh Sóc Trăng nằm trong khu vực rất ít gặp bão. Theo tài
liệu về khí tượng thủy văn ghi nhận, trong 100 năm qua chỉ có 2 cơn bão đổ bộ vào
Sóc Trăng (năm 1952, 1997) gây thiệt hại rất lớn. Những năm gần đây, lốc thường
xảy ra ở Sóc Trăng. Lốc tuy nhỏ nhưng cũng gây ảnh hưởng đến sản xuất và đời
sống của nhân dân.
3.3 HIỆN TRẠNG DÂN SỐ, KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ GIAO THÔNG
3.3.1 Dân số
Dân số trung bình năm 2012 của tỉnh là 1.304.965 người đứng thứ 6 ĐBSCL,
trong đó dân số tại thành phố 137.294 (chiếm 10%). Từ năm 2009 đến năm 2012,
dân số của tỉnh đã tăng 11.800 người, tỷ lệ gia tăng trung bình từng năm là
0,37%,mật độ trung bình là 394 người/km
2
,
Bảng 3.1 Diện tích và dân số các huyện và thành phố của tỉnh Sóc Trăng
Thành phố - huyện,
thị xã
Diện tích (km
2
)
Dân số trung bình
(Người)
Mật độ dân số
(Người/km
2
)
Thành phố Sóc trăng 76,1 137294 1804
Huyện Châu Thành 236,3 101702 430
Huyện Kế Sách 352,9 159261 451
21.624.445 triệu đồng; trong đó khu vực kinh tế nhà nước chiếm 2,13%, khu vực
kinh tế ngoài nhà nước chiếm 97,79% và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
chiếm 0,08%. Công nghiệp Sóc Trăng phát triển tập trung ở các ngành công nghiệp
chế biến nông sản, thủy sản, thực phẩm, chiếm 93% giá trị sản xuất công nghiệp,
các sản phẩm chủ yếu trong lĩnh vực này gồm tôm đông lạnh, gạo, đường các loại
Đây là nhóm ngành có lượng phát sinh CTNH khá thấp (theo Lê Ngọc Tuấn, 2009).
Quản lý tổng hợp chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Sóc Trăng
SVTH: Nguyễn Văn Tâm 25
MSSV: B1205125
Các cơ sở sản xuất công nghiệp quy mô lớn tập trung chủ yếu tại khu vực thành phố
Sóc Trăng, Trần Đề, KCN An Nghiệp - Châu Thành, thị xã Vĩnh Châu.
3.3.3 Giao thông
Sóc Trăng là tỉnh có hệ thống giao thông thủy bộ phát triển trung bình khá.
+ Đường bộ: tổng chiều dài mạng lưới đường bộ là 4.028 km, trong đó có
249,61 km đường bê tông nhựa, 614,33 km đường nhựa, 1.518,2 km đường bê tông
xi măng, 111,7 km đường cấp phối còn lại là đường đất.
+ Đường thủy: Sóc Trăng có 32 tuyến đường sông với chiều dài 670 km,
trong đó tỉnh quản lý 12 tuyến có chiều dài 266 km.
+ Doanh thu vận tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải năm 2012 đạt
1.042.920 triệu đồng, trong đó vận tải đường bộ chiếm tỷ trọng 66,08%, đường thủy
chiếm 33,92%.
3.3.4 Du lịch
Với tiềm năng du lịch xanh, sinh thái kết hợp với tham quan các di tích văn
hóa, lịch sử, nhân văn, phát huy ưu thế là địa điểm di tích của vùng ĐBSCL. Thành
phố Sóc Trăng là trung tâm du lịch của thành phố, tập trung nhiều di tích nổi tiếng
như Chùa Dơi, Chùa Đất Sét, lễ hội Oóc-Om-Bok.