TÓM LƯỢC
Trong nền kinh tế thị trường và xu thế hội nhập về kinh tế như hiện nay, sự
cạnh tranh diễn ra rất gay gắt, đặc biệt trong giai đoạn Việt Nam đang gia nhập WTO,
có rất nhiều cơ hội, thời cơ cũng như thách thức cho các doanh nghiệp, điều đó đồng
nghĩa với việc sự cạnh tranh của các doanh nghiệp ngày càng diễn ra một cách quyết
liệt hơn.Các doanh nghiệp muốn tồn tại, đứng vững trên thị trường, muốn sản phẩm
của mình có thể cạnh tranh được với các sản phẩm của các doanh nghiệp khác thì
không còn cách nào khác là phải tiến hành các hoạt động động thương mại sao cho có
hiệu quả. Nền kinh tế phát triển, tương ứng là nhu cầu hàng hóa và dịch vụ ngày càng
tăng cao . Đây chính là tiền đề cho việc hàng loạt doanh nghiệp, các trung tâm phân
phối, siêu thị, chợ gia tăng một cách chóng mặt trong thời gian gần đây, đặc biệt là
trên địa bàn Hà Nội và công ty TNHH metro cash & carry Việt Nam – Chi nhánh Hà
Nội ( metro Thăng Long) cũng không nằm ngoài xu thế đó. Doanh nghiệp muốn tồn
tại, đứng vững trên thị trường, muốn sản phẩm của mình có thể cạnh tranh được với
các sản phẩm của các doanh nghiệp khác hoạt động trong lĩnh vực phân phối hàng hóa
và dịch vụ thì không còn cách nào khác là phải tiến hành các hoat động thương mại
sao cho có hiệu quả.
Qua nghiên cứu kết hợp với các vấn đề thực tiễn phát hiện được trong quá trình
thực tập em đã chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả hoạt động thương mại công ty
TNHH metro cash & carry Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội ( Metro Thăng Long)”.
Về lý thuyết, đề tài nêu nổi bật các vấn đề lý thyết cơ bản về hiệu quả hoạt
động thương mại, các nhân tố ảnh hưởng và hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt
động thương mại của doanh nghiệp.
Về thực tiễn, đề tài nghiên cứu thực trạng hiệu quả hoạt động thương mại của
công ty TNHH metro cash & carry Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội ( Metro Thăng
Long), qua đó đưa ra được những thành công trong hiệu quả hoạt động thương mại của
công ty,cũng như những hạn chế trong hoạt động thương mại của doanh nghiệp về mặt
chất và lượng. Từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thương mại
của công ty TNHH metro cash & carry Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội ( Metro Thăng
Long) giai doạn hiện nay.
1
Bảng 2.7 Bảng đánh giá chỉ tiêu sử dụng hiệu quả nguồn lao động 27
4
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Ký hiệu Nội dung
HQHĐTM Hiệu quả hoạt động thương mại
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
LN Lợi nhuận
DT Doanh thu
CP Chi phí
5
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài
Hiện nay nền kinh tế thế giới có nhiều biến động phức tạp, tình hình suy thoái
kinh tế toàn cầu ảnh hưởng không nhỏ tới nền kinh tế từng quốc gia trong đó có Việt
Nam.Tình hình kinh tế trong nước cũng diễn biến khá phức tạp. Đặc biệt, trong nền
kinh tế thị trường, nhất là trong xu thế hội nhập về kinh tế hiện nay, sự cạnh tranh diễn
ra rất gay gắt. Các doanh nghiệp muốn tồn tại, đứng vững trên thị trường, muốn sản
phẩm của mình có thể cạnh tranh được với các sản phẩm của các doanh nghiệp khác
thì không còn cách nào khác là phải tiến hành các hoạt động thương mại sao cho có
hiệu quả.
Hiệu quả hoạt động thương mại là vấn đề đặt ra cho mọi doanh nghiệp, đặc biệt
là trong điều kiện kinh tế thị trường.Doanh nghiệp trước khi bỏ vốn đầu tư ngoài việc
trả lời câu hỏi mua cái gì? Mua ở đâu? Mua như thế nào? Bán cho ai? Bán như thế
nào? Còn phải biết chi phí bỏ ra và lợi ích thu được. Dĩ nhiên lợi ích thu được phải lớn
hơn chi phí bỏ ra mới mong được lợi nhuận. Hay nói cách khác, các nhà đầu tư, các
chủ Doanh nghiệp bao giờ cũng mong muốn được lợi nhuận tối đa với một chi phí
thấp nhất có thể. Sở dĩ nói như vậy vì lợi ích, nói rộng ra là hiệu quả hoạt động thương
mại vừa là động lực, vừa là tiền đề để doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triền được
trong điều kiện cạnh tranh vô cùng khốc liệt, mọi rủi ro, bất trắc có thể xảy ra, nguy cơ
phá sản luôn rình rập…
so sánh , quan sát… luận văn đã đưa ra được những vấn đề về mặt lý luận về đặc điểm
tiêu thụ hàng hóa của công ty cổ phần sữa, đưa ra được một số giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả tiêu thụ hàng hóa của công ty cổ phần sữa Hà Nội. Tuy nhiên đề tài cũng
mới chỉ đi sâu nghiên cứu hoạt động tiêu thụ hàng hóa chưa nghiên cứu chi tiết về vấn
đề hoạt động thương mại.
- Đề tài thứ hai : “ Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty
thương mại dịch vụ Tràng Thi”- Phạm Thị Diện, Đại học Thương Mại 2013. Bằng
những lý luận và thực tiễn đề tài đã làm rõ được những vấn đề : sự cần thiết phải nâng
cao hiệu quả kinh doanh tại công ty,thực trạng tình hình hoạt động kinh doanh của
công ty giai đoạn 2010-2012 từ đó thấy được kết quả đạt được của công ty, những
thành công đạt được và những hạn chế còn tồn tại trong quá trình kinh doanh. Đề tài
đã đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty. Tuy nhiên đề tài
mới chỉ đi vào vấn đề nâng cao hiệu quả kinh doanh chưa đề cập nhiều đến hoạt động
thương mại.
- Đề tài thứ ba: “ Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của Công
ty dược phẩm trung ương 1” – Luận văn tốt nghiệp của Nguyễn Thị Ánh Hồng –
Trường Đại Học Thương Mại.Đề tài đi sâu phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu
quả kinh doanh của công ty, từ đó tìm ra nguyên nhân ảnh hưởng tới hiệu quả kinh
doanh của công ty. Sau đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công
ty. Tuy nhiên đề tài chủ yếu tập trung vào việc nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn
của công ty,chưa đi sâu vào vấn đề nâng cao hiệu quả hoạt động thương mại.
Về phía đơn vị thực tập Công Ty TNHH Metro Cash & Carry Việt Nam , chưa có
một công trình nghiên cứu nào của sinh viên liên quan đến vấn đề nâng cao hiệu quả hoạt
động thương mại, mà chỉ có một LVTN “Một số giải pháp nhằm nâng cao lợi nhuận trong
7
hoạt động kinh doanh của công ty Metro Cash & Carry Thăng Long” – Tác giả Trần Thị
Hằng Nga K38D4 2006; GVHD Đinh Văn Sơn.
Với những lý luận và kiến thức thực tế tại công ty đề tài mà em nghiên cứu đã
phân nào nói lên được tầm quan trọng của vấn đề nâng cao hiệu quả hoạt động thương
mại của công ty. Đề tài của em được tiếp cận dưới góc độ kinh tế, trên những cơ sở lý
Về thực tiễn, đề tài sẽ trả lời cho câu hỏi: Thực trang thực hiện HQHĐTM của
công ty trong thời gian vừa qua như thế nào? Những thành công, tồn tại của Công Ty
8
TNHH metro cash & carry VN- chi nhánh HN(metro Thăng Long) trong việc thực
hiện HQHĐTM? Từ đó chỉ ra nguyên nhân cũng như các đề xuất, kiến nghị cho doanh
nghiệp nhằm nâng cao HQHĐTM trong doanh nghiệp.
4. Mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1. Mục tiêu nghiên cứu của để tài:
Mục tiêu lý luận: Nghiên cứu đề tài nhằm mục đích hệ thống hóa các vấn đề lý
thuyết liên quan về HQHĐTM như: Khái niệm, bản chất các chỉ tiêu đánh giá
HQHĐTM, tầm quan trọng của việc nâng cao HQHĐTM và các nhân tố ảnh hưởng tới
HQHĐTM, để làm cơ sở cho việc tìm hiểu thực trạng và nghiên cứu các giải pháp
nhằm nâng cao HQHĐTM của Công Ty TNHH metro cash & carry VN- chi nhánh
HN(metro Thăng Long).
Mục tiêu thực tiễn: Áp dụng các lý luận trên, những nghiên cứu của đề tài là cơ
sở đánh giá thực trạng hoạt động thương mại của Công Ty trên thị trường để đưa ra
những giải pháp thích hợp của Công Ty TNHH metro cash & carry VN- chi nhánh
HN(metro Thăng Long) trên thị trường. Cũng thông qua quá trình nghiên cứu về thực
trạng, đề tài phát hiện những vấn đề cấp bách và cần giải quyết giúp các doanh nghiệp
có thể tham khảo và vận dụng những giải pháp thích hợp cho doanh nghiệp của mình.
4.2. Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các hoạt động thương mại của Công Ty
TNHH metro cash & carry VN- chi nhánh HN(metro Thăng Long)
4.3. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về mặt nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu HQHĐTM của Công
Ty TNHH metro cash & carry VN- chi nhánh HN(metro Thăng Long) nhằm nâng cao
hiệu quả hoạt động thương mại của doanh nghiệp.
- Phạm vi về mặt không gian:
+ Đơn vị nghiên cứu : công ty TNHH metro cash & carry Việt Nam- chi nhánh
HN(metro Thăng Long).
thành công và những mặt tồn tại trong thực hiện HQHĐTM.
- Phương pháp thu thập số liện qua các nguồn thứ cấp:
Mục đích: Nhằm thu thập các số liệu liên quan đến vấn đề HQHĐTM sản phẩm
cũng như thu thập ý kiến của các chuyên gia về vấn đề nghiên cứu qua các nguồn từ các
đơn vị khảo sát và từ các phương tiện thông tin đại chúng.
Đã tiến hành thu thâp dữ liệu từ các báo cáo tài chính, báo cáo kết quả hoạt động
kinh doanh ở phòng kế toán của doanh nghiệp, và một số luận văn có liên quan đến đề tài,
tiếp cận các thông tin liên quan đến sản phẩm trên báo chí, websize, em đã chọn lọc và tiến
hành nghiên cứu vấn đề HQHĐTM của Doanh Nghiệp trên một cách kỹ lưỡng để đảm bảo
tính xác thực trong bài khóa luận của mình.
Trong bài khóa luận em đã sử dụng phương pháp này trong phần phân tích thực
trạng hoạt động thương mại cũng như tổng quan về tình hình phát triển của doanh nghiệp.
5.2. Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu
Thông tin sau khi đã thu thập được cần phải chọn lọc và xử lý các thông tin đó cho
phù hợp với mục tiêu mà mình hướng tới. Sau khi các thông tin, dữ liệu đã được chọn lọc
và xử lý thì cần được phân tích để phục vụ cho việc nghiên cứu. Trong đề tài, em đã sử
dụng một số phương pháp phân tích thông tin như:
10
- Phương pháp tổng hợp thống kê:
Gồm bốn bước cơ bản là thu thập dữ liệu và thiết kế các nghiên cứu định lượng, tóm
tắt thông tin, đưa ra các kết luận dựa trên các số liệu và cuối cùng là định lượng kết quả hiện
tại hoặc dự báo tương lai.
Thông qua nguồn dữ liệu thứ cấp như nhật ký mua hàng, nhật ký bán hàng, nhật ký
chi tiền, nhật ký thu tiền, báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh … Em đã tiến
hành thống kê các khách hàng thân thiết của Công ty, giá cả, doanh thu, lợi nhuận… cũng
như cơ cấu sản phẩm để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài.
- Phương pháp đối chiếu, so sánh:
Phương pháp đối chiếu, so sánh: Phương pháp này giúp cho việc so sánh dữ liệu
giữa các thời kỳ, giữa các doanh nghiệp khác nhau để có thể có những đánh giá khách quan
về tình hình phát triển của doanh nghiệp mình nghiên cứu.
hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư xúc tiến thương mại và các hoạt động sinh lợi
khác. Mọi hoạt động thương mại đều bắt đầu bằng hành vi mua hàng và kết thúc bằng
hoạt động bán. Mục đích của hoạt động thương mại là tìm kiếm lợi nhuận. Đối tượng
của các hoạt động thương mại trong doanh nghiệp là các hàng hóa và dịch vụ. Chủ thể
của hoạt động thương mại gồm những người bán( người sản xuất hàng hóa, người
cung cung ứng dịch vụ, thương gia) và những người mua( người sản xuất, thương gia,
những người tiêu dùng).Trong đó doanh nghiệp đóng vai trò vừa là người mua vừa là
người bán.
Tóm lại hoạt động thương mại trong doanh nghiệp là quá trình mua và bán
hàng hóa, dich vụ nhằm mục đích sinh lợi nhuận xảy ra trong khâu lưu thông, trên thị
trường với những điều kiện kinh tế, xã hội, luật pháp, chính trị, và môi trường vật chất
cụ thể.
Hoạt động thương mại được tiến hành theo nguyên tắc tự nguyện, tự thỏa thuận
và cùng có lợi.Vì thế quá trình mua bán vừa là quá trình cạnh tranh vừa là quá trình
hợp tác giữa người mua và người bán.
1.1.3. Khái niệm hiệu quả và hiệu quả hoạt động thương mại
Hiệu quả là một tương quan so sánh giữa kết quả đạt được theo mục tiêu đã
được xác định với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Mỗi doanh nghiệp luôn có
những mục tiêu khác nhau trong giai đoạn khác nhau, doanh nghiệp đó luôn cố gắng
đat được mục tiêu đó với chi phí thấp nhất đó là hiệu quả.
12
Hiệu quả thương mại của doanh nghiệp phản ánh quan hệ so sánh giữa kết quả
đạt được với chi phí bỏ ra của quá trình trao đổi hàng hóa, dịch vụ trên thị trường.
Thực chất đó là quá trình sử dụng các nguồn lực được hiểu là các phương tiện, còn kết
quả chính là các mục tiêu, cái đích cần đạt tới của hoạt động thương mại. Do vậy hiểu
theo nghĩa rộng, hiệu quả thương mại được thể hiện ở mối quan hệ giữa mục tiêu và
phương tiện tổ chức quá trình trao đổi hàng hàng hóa, dịch vụ.
Hiệu quả HĐTM của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ
sử dụng các nguồn lực của công ty hay cơ sở kinh doanh trong khâu mua, bán hàng
hóa, khâu vận chuyển và kho hàng hoặc trong sản xuất, phân phối, cung ứng và
tăng thu ngân sách, thúc đẩy tăng trưởng đầu tư, chuyển giao công nghệ, cải thiện môi
trường …
1.2.1.2. Đối với doanh nghiệp
Cũng như đối với kinh tế - xã hội thì vai trò của HĐTM đối với doanh nghiệp
là vô cùng quan trọng. Mọi hoạt động thương mại đều bắt đầu bằng hành vi mua hàng
và kết thúc bằng hành vi bán và mục đích của hoạt động thương mại là nhằm tìm kiếm
lợi nhuận. Lợi nhuận là mối quan tâm là mục tiêu hàng đầu và cuối cùng mà bất cứ
một doanh nghiệp nào cũng muốn đạt được. Đây chính là vai trò quan trọng của
HĐTM đối với doanh nghiệp.
Khi HĐTM trong doanh nghiệp mang lại lợi nhuận thì sẽ giúp doanh nghiệp
ngày càng hoạt động hiệu quả, phát triển bền vững. Giúp doanh nghiệp phát triển và
mở rộng thị trường, qua đó tăng khả năng cạnh tranh, thúc đẩy tiến bộ khoa học kĩ
thuật và công nghệ. Doanh nghiệp lúc này phát triển theo chiều sâu một cách bền vững
nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp từ đó nâng cao đời sống người lao
động, góp phần vào sự phát triển của xã hội và đất nước, thúc đẩy tiến bộ thương mại.
Hoạt động thương mại góp phần tạo nên sự cân đối cung cầu. Hoạt động
thương mại chính là hoạt động mua bán hàng hóa, dịch vụ vì vậy khi các doanh nghiệp
thực hiện các hoạt động thương mại đã góp phần làm cho hàng hóa, dịch vụ lưu thông
tạo nên sự cân đối cung cầu, có sự lưu thông giữa sản xuất và tiêu dùng, thực hiện
chức năng lưu thông, làm cho thị trường hoạt động hiệu quả, từ đó doanh nghiệp tồn
tại được trên thị trường mang lại hiệu quả hoạt động cho doanh nghiệp.
1.2.2. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả và HQHĐTM trong doanh nghiệp
Đối với doanh nghiệp, hiệu quả hoạt động thương mại không chỉ là thước đo
chất lượng phản ánh trình độ tổ chức quản lý hoạt động thương mại mà còn là vấn đề
sống còn của doanh nghiệp. Trong điều kiện kinh tế thị trường ngày cảng mở rộng, các
doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển được thì đòi hỏi doanh nghiệp hoạt động phải
có hiệu quả. Hiệu quả hoạt động càng cao, doanh nghiệp càng có điều kiện mở rộng và
phát triển hoạt động thương mại. Đối với doanh nghiệp hiệu quả kinh tế chính là lợi
nhuận thu được trên cơ sở không ngừng mở rộng hoạt động thương mại, tăng uy tín và
mở rộng quy mô của doanh nghiệp trên thị trường…
Tỷ suất lợi nhuận so với giá vốn hàng bán :
Tỷ suất LN so với giá vốn hàng bán =
Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích doanh nghiệp đầu tư 100 đồng giá vốn
hàng bán thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Tỷ suất lợi nhuận so với chi phí bán hàng :
Tỷ suất LN so với chi phí hàng bán =
Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích doanh nghiệp đầu tư 100 đồng chi phí
bán hàng thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận.
1.2.2.2. Chỉ tiêu hiệu quả bộ phận
• Hiệu quả sử dụng vốn
Hiêu quả sử dụng vốn =
Chỉ tiêu này phản ánh cứ 1 đồng vốn hoạt động bình quân dùng vào hoạt động
thương mại trong kỳ thì thu được bao nhiêu đồng kết quả đầu ra
- Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn :
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn kinh doanh =
Chỉ tiêu này phản ánh cứ 1 đồng vốn dùng vào hoạt động thương mại trong kỳ
thì doanh nghiệp thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận.
• Hiệu quả sử dụng lao động:
- Chỉ tiêu năng suất lao động bình quân:
15
NSLDBQ =
Chỉ tiêu này cho biết: Trong 1 thời kỳ, bình quân lao động của doanh nghiệp
tạo ra được giá trị là bao nhiêu. Qua đó thấy được trình độ sử dụng lao động ưu việt
chưa và từ đó doanh nghiệp có biện pháp điều chỉnh hợp lý.
- Chỉ tiêu lợi nhuận bình quân 1 lao động:
Lợi nhuận bình quân 1 LĐ =
Chỉ tiêu này cho biết: bình quân lao động của doanh nghiệp tạo ra bao
nhiêu đồng lợi nhuận, rút ra được mức lãi trong kinh doanh và khả năng tích luỹ
của doanh nghiệp
1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến HQHĐTM của doanh nghiệp
doanh nghiệp ở các địa điểm khác nhau và nó cũng tác động theo cả hai xu hướng: tích
cực và tiêu cực.
- Đối thủ cạnh tranh: Các đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp bao gồm toàn bộ các
doanh nghiệp đang kinh doanh cùng ngành và cùng khu vực thị trường với doanh
nghiệp. Số lượng, quy mô, sức mạnh của từng đối thủ cạnh tranh đều ảnh hưởng đến
hoạt động thương mại của doanh nghiệp, tuy nhiên mức độ ảnh hưởng của các đối thủ
còn gắn với thị trường bộ phận. Có nhiều hình thức cạnh tranh khác nhau như: Giá cả,
chất lượng, mẫu mã, dịch vụ…
- Nhà cung cấp: nhà cung ứng là người tổ chức nguồn hàng và đảm bảo cho hoạt động
thương mại của doanh nghiệp được tiến hành thường xuyên liên tục, góp phần thực
hiện chức năng mục tiêu của doanh nghiệp.Nhà cung ứng tổ chức tốt cung ứng nguồn
hàng sẽ đảm bảo tính thường xuyên đều đặn của hoạt động thương mại từ đó nâng cao
hiệu quả và khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp.
- Khách hàng và tiềm năng thị trường: Khách hàng là những người đang và sẽ mua
hàng của doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp khách hàng là yếu tố quan trọng nhất
quyết định đến sự thành công của doanh nghiệp. Khách hàng tạo nên thị trường và quy
mô của khách hàng tạo nên quy mô thị trường. Khách hàng của doanh nghiệp là những
người có cầu về sản phẩm do doanh nghiệp cung cấp. Khách hàng của doanh nghiệp
có thể là người tiêu dùng trực tiếp hoặc gián tiếp . Đối với mọi doanh nghiệp, khách
hàng không chỉ là khách hàng hiện tại mà phải tính đến cả các khách hàng tiềm ẩn,
khách hàng là người tạo ra lợi nhuận, tạo ra sự thắng lợi của doanh nghiệp.
• Các nhân tố chủ quan.
Đó là tập hợp các yếu tố bên trong mà doanh nghiệp có thể kiểm soát được và
điều chỉnh ảnh hưởng của chúng để thực hiện những mục tiêu nhất định. Các yếu tố đó
bao gồm:
- Tình hình tài chính của doanh nghiệp: Yếu tố này gắn liền với quy mô hoạt
động thương mại của doanh nghiệp bởi tài chính liên quan đến mọi kế hoạch chiến lược
của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có khả năng tài chính mạnh là điều kiện thuận lợi để
doanh nghiệp có thể độc lập tự chủ trong hoạt động thương mại, có điều kiện để cải tiến
kỹ thuật đầu tư đổi mới công nghệ, đón bắt được những thời cơ kinh doanh thuận lợi, tạo
Dựa trên quan hệ cung cầu trên thị trường: Cung cầu hàng hóa dịch vụ không
tồn tại độc lập, riêng rẽ mà thường xuyên tác động qua lại với nhau trên cùng một thời
gian cụ thể tạo thành một thể thống nhất thị trường.
Dựa trên năng lực hoạt động của nhà cung ứng: bao gồm nguồn lực tài chính,
nguồn lực vật chất, nguồn nhân lực, công nghệ, danh tiếng và các mối quan hệ.
Dựa trên lợi thế so sánh, hiệu quả kinh tế xã hội:
Lợi thế so sánh: Phát triển hoạt động thương mại đòi hỏi phải dựa trên lợi thế
so sánh của ngành và của quốc gia.
Hiệu quả kinh tế - xã hội: Đó là sự đóng góp của doanh nghiệp vào xã hội, nghĩa
là mang lại các lợi ích công cộng cho xã hội như: tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho
ngân sách, tăng năng suất lao động, phát triển sản xuất, thay đổi cơ cấu kinh tế.
Dựa trên đường lối, định hướng của Đảng và Nhà nước: nhằm tạo điều kiện cho
các doanh nghiệp hoạt động.
18
- Các chính sách nhằm nâng cao HQHĐTM của doanh nghiệp:
Chính sách lựa chọn và phát triển lợi thế mặt hàng : lựa chon và phát triển lợi
thế của ngành hàng liên quan các yếu tố về vốn, lao động, điều kiện môi trường kinh
doanh của các doanh nghiệp, metro tiếp tục phát triển lợi thế mặt hàng thực phẩm với
xây dựng các thương hiệu riêng của metro.
Chính sách khai thác, lựa chọn và sử dụng các nguồn nhân lực: khai thác nguồn
lực có thể theo nhiều hướng có thể là liên kết giữa các nhà sản xuất trong nước với các
nhà nhập khẩu, có thể là liên kết lỏng, hoặc mua trên thị trường tự do.
Đặc thù là doanh nghiệp hoạt động thương mại trong lĩnh vực phân phối hàng
hóa dịch vụ nên sử dụng liên kết giữa các nhà sản xuất trong nước với các nhà nhập
khẩu, kết hợp một cách hài hòa hiệu quả.Từ đó tiết kiệm được chi phí và tạo ra sản
phẩm có chất lượng cao để đưa tới khách hàng.
Chính sách tổ chức và phát triển nguồn hàng : việc tổ chức và phát triển nguồn
hàng của các nhà cung ứng chính là quá trình phát triển đầu ra cho các doanh nghiệp,
đảm bảo hàng hóa đưa ra thị trường đáp ứng đầy đủ và thỏa mãn nhu cầu của người sử
dụng. Chính sách về tổ chức và phát triển nguồn hàng như chính sách đa dạng hóa sản
hoạt động của doanh nghiệp được giảm bớt mà không ảnh hưởng quá nhiều đến hiệu
quả và cơ hội kinh doanh.
Thứ ba, nâng cao HQHĐTM phải trên cơ sở sử dụng có hiệu quả vốn. Trong
nền kinh tế thị trường hiện nay, các thành phần kinh tế cùng song song tồn tại, cạnh
tranh với nhau, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vào thị trường Việt Nam
ngày càng nhiều do chính sách mở cửa của nước ta. Chính vì vậy, muốn tồn tại và
đứng vững trong cạnh tranh, các doanh nghiệp phải đặc biệt quan tâm đến việc nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn trong hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động thương
mại nói riêng. Việc này có ý nghĩa hết sức quan trọng trong hoạt động thương mại
nhằm mang lại lợi nhuận cao cho doanh nghiệp, trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc tài
chính và chấp hành đúng pháp luật của nhà nước. Nó còn là điều kiện tiên quyết để
doanh nghiệp khẳng định chỗ đứng vững chắc của mình trên thị trường.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp phải đảm bảo tính toàn diện và tính bộ phận trong
quá trình nâng cao HQHĐTM. Nghĩa là việc nâng cao hiệu quả HĐTM phải là sự kết
hợp hài hòa giữa nâng cao hiệu quả của các bộ phận và sự tăng lên của hiệu quả
HĐTM chung của toàn doanh nghiệp. Hơn nữa, doanh nghiệp phải đảm bảo hài hòa
các lợi ích, lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể, lợi ích xã hội, lợi ích trước mắt và lợi ích
lâu dài. Nghĩa là thu nhập của người lao động cũng phải tăng, đồng thời mức nộp ngân
sách nhà nước cũng tăng. Cuối cùng, đánh giá hiệu quả HĐTM phải căn cứ cả mặt
hiện vật lẫn mặt giá trị. Việc này đòi hỏi việc đánh giá hiệu quả hoạt động thương mại
phải thực hiện trên cả hai mặt này.
20
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI CỦA
CÔNG TY TNHH METRO CASH & CARRY VIỆT NAM – CHI NHÁNH HÀ NỘI
( METRO THĂNG LONG)
2.1. Tổng quan tình hình và các nhân tố môi trường ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt
động thương mại của công ty TNHH metro cash & carry Việt Nam – chi nhánh Hà
Nội ( metro Thăng Long)
2.1.1. Tổng quan tình hình hoạt động thương mại và HQHĐTM của công ty TNHH
metro cash & carry Việt Nam – chi nhánh Hà Nội ( metro Thăng Long).
sương bảo quản thực phẩm, lò nướng theo tiêu chuẩn châu Âu luôn đảm bảo chất
lượng vệ sinh an toàn thực phẩm cho các sản phẩm của ngành hàng.
21
+ Hệ thống phân phối và quản lý chất lượng chuyên nghiệp
+ Hỗ trợ phát triển các nhà cung cấp
2.1.1.2. Thưc trạng kết quả hoạt động thương mại của công ty TNHH metro cash&
carry Việt Nam – chi nhánh Hà Nội ( metro Thăng Long)
Bảng 2.1: Bảng kết quả hoạt động thương mại theo cơ cấu mặt hàng của công ty
TNHH metro cash&carry Việt Nam- chi nhánh Hà Nội(metro Thăng Long)
(ĐVT : tỷ đồng)
Mặt hàng
2011 2012 2013
Doanh
thu
Tỷ trọng
(%)
Doanh
thu
Tỷ trọng
(%)
Doanh
thu
Tỷ trọng
(%)
Hóa mỹ phẩm 499,3 34.5 476.5 30.7 559,9 32,6
Thực phẩm
khô
366,2 25,3 448,4 28,9 474,1 27,6
Rượu bia
169,3 11,7 209,5 13,5 211,2 12,3
Số còn lại là các mặt hàng gia dụng : quần áo, các đồ dùng phục vụ nhà hàng khách
sạn, dụng cụ bếp …. Số còn cũng chiếm một tỷ trọng không cao trong đóng góp doanh thu
toàn công ty, chiếm 11,2% tỷ trọng toàn công ty năm 2011 tăng lên 11,7 % năm 2012, năm
2013 giảm xuống 10,4 %. Có sự giảm xuông này là do Metro theo chiến lược tập trung hóa
và cũng một phần do nhu cầu của khách hàng, tuy mặt hàng này chiếm tỷ trọng không cao
nhưng nó lại làm nên điểm riêng biết của Metro với các đối thủ, về sự đa dạng, và những
dịch vụ đi kèm, đến với Metro khách hàng có thể tha hồ mua sắm , lựa chọn. Nó cũng là
một chiến lược xúc tiến bán hàng, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động thương mại của
công ty.
Bảng 2.2 : Bảng kết quả hoạt động kinh doanh 2011-2013 của công ty
(ĐVT : tỷ đồng)
Năm
2011 2012 2013
Chỉ tiêu
Tổng doanh thu từ hoạt động thương mại
1477,3 1551,7 1717,5
Chi phí 1199,6 1232,5 1349,3
Lợi nhuận từ hoạt động thương mại 277,7 319,2 368,2
( nguồn BCTC chi nhánh Hà Nội – Metro Thăng Long)
Nhìn vào bảng trên ta thấy doanh thu của công ty không ngừng tăng lên qua các
năm. Trong 3 năm từ năm 2011 đến năm 2013 đã có sự tăng lên đáng kể về doanh thu
thuần, doanh thu của công ty tăng qua các năm và đạt doanh thu cao nhất vào năm 2013 là
1717.5 tỷ đồng tăng 10.68% so với năm 2012, tuy nhiên tốc độ tăng doanh thu giữa các
năm có xu hướng giảm.
Về lợi nhuận qua các năm cũng tăng lên một cách rõ rệt. Lợi nhuận năm 2012 so với
2011 tăng lên 41.5 tỷ đồng, tăng 14.94% so với năm 2011. Điều này cho thấy công ty đang
hoạt động có hiệu quả, trong giai đoạn này có thể thấy công ty hoạt động ổn định và phát
huy được lợi thế của mình.
Bên cạnh việc doanh thu và lợi nhuận tăng thì kéo theo đó là chi phí cũng tăng. Chi
phí cao nhất là 1349.3 tỷ đồng năm 2013, tăng 8.81% so với năm 2012.Chi phí năm 2012 là
thác thị trường này còn rất lớn. Sáu tháng đầu năm 2013, doanh số của doanh nghiệp
sản xuất hàng tiêu dùng nhanh đã giảm 10%-15% so với cùng kỳ năm trước. Những
khó khăn của nền kinh tế cộng với tỷ lệ lạm phát cao, sức mua của thị trường đã giảm
sút một cách đáng kể, điều này gây ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường bán sỉ và lẻ của
Việt Nam, trong đó có Metro.
- Môi trường cạnh tranh
Đây là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động thương mại của công ty với
mặt hàng kinh doanh. Thị trường Việt Nam hiện có khoảng 130 trung tâm thương mại,
700 siêu thị, hơn 1.000 cửa hàng tiện lợi. Có tên tuổi lớn trên thị trường bán lẻ Việt
Nam đang có đến 21 doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, ngoài ra còn có các
24
hệ thống siêu thị trong nước, các chợ và cửa hàng bán lẻ….Một môi trường cạnh tranh
được đánh giá là khốc liệt, nhất là trong giai đoạn hiện nay người dân thắt chặt chi
tiêu, sự lựa chọn thì ngày càng đa dạng nhưng lại rất khắt khe trong việc tiêu dùng
hàng hóa. Đòi hỏi Metro phải có những chiến lược, chính sách để có thể cạnh tranh
đứng vững trên thị trường.
Đứng trước các đối thủ cạnh tranh lớn như Big C – cạnh tranh về giá, Coopmart
là một đối thủ trong nước được sự hỗ trợ của Chính phủ, ưu thế về hàng Việt Nam và
các đối thủ khác như LotteMart, Parkson, Ocenmart Metro phải có một chiến lược
nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thương mại của mình để không làm mất đi thị phần
và nâng cao được lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ.
- Nhà cung cấp :
Metro kinh doanh chủ yếu các ngành hàng thực phẩm và phi thực phẩm, để có
thể phân phối hiệu quả, thì nguồn nguyên liệu phải đảm bảo, đặc biệt là với tình hình
cạnh tranh gay gắt như hiện nay cùng với yêu cầu ngày càng cao của khách hàng thì
cần có những nhà cung cấp có thể tổ chức tốt nguồn hàng đảm bảo tính thường xuyên
liên tục của hoạt động sản xuất kinh doanh, có như vậy thì công ty mới có thể hoạt
động hiệu quả và tổ chức tốt nguồn hàng phân phối cho khách hàng, không bị ngắt
quãng trong quá trình tiêu thụ hàng hóa từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động thương mại
của công ty.