Nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng tại NHCTtỉnh Nam Định. - Pdf 26

ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của kinh tế thế giới, nền kinh
tế nước ta cũng đang có những bước chuyển mình và thu được những thành tựu đáng
kể. Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm đạt mức tương đối cao. Đóng góp một phần quan trọng
vào những thành tựu đó phải kể đến hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam. Với
nhiệm vụ chính là cung ứng vốn và các dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế, hệ thống
ngân hàng thương mại Việt Nam đã từng bước phát triển, hoàn thành tốt nhiệm vụ của
mình và tạo đà để nền kinh tế phát triển cũng như hội nhập với nền kinh tế thế giới.
Hiện nay, các ngân hàng thương mại Việt Nam đang hướng theo mô hình hoạt
động đa năng. Nhưng hoạt động tín dụng luôn là một trong những hoạt động chính của
các ngân hàng, giữ vai trò quan trọng trong việc tạo ra lợi nhuận cho mỗi ngân hàng nói
riêng cũng như thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nói chung. Thực tế, lợi nhuận thu
được từ hoạt động tín dụng chiếm từ 70% đến 90% tổng lợi nhuận của ngân hàng và
chính hoạt động tín dụng của ngân hàng cũng đáp ứng phần lớn nhu cầu vốn trong xã
hội.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, hoạt động tín dụng trong thời
gian qua đã để lại cho ngành ngân hàng nói chung và Ngân hàng Công thương tỉnh Nam
Định nói riêng những tồn tại không nhỏ. Trong bối cảnh nền kinh tế nước ta chịu ảnh
hưởng của nhiều nhân tố, từ những ảnh hưởng của môi trường kinh tế quốc tế và khu
vực cho đến những vấn đề của bản thân nền kinh tế đang gây cản trở rất lớn và chứa
đựng nhiều rủi ro cho hoạt động ngân hàng. Rủi ro tín dụng không chỉ gây thiệt hại về
tài sản cho mỗi ngân hàng mà còn ảnh hưởng đến uy tín của bản thân ngân hàng đó
cũng như của toàn hệ thống ngân hàng. Nếu những rủi ro này không được xử lý kịp
thời, có thể dẫn tới hiện tượng dây chuyền mất khả năng thanh toán đó là sự sụp đổ
hàng loạt của các ngân hàng và doanh nghiệp trong toàn nền kinh tế. Chính vì vậy, một
trong những nhiệm vụ quan trọng của hệ thống ngân hàng thương mại là bên cạnh việc
SV : TRẦN VĂN PHONG 1 LỚP : TCDN46Q
mở rộng tín dụng phải có các biện pháp hữu hiệu để nhận biết, phòng ngừa và hạn chế
các rủi ro trong hoạt động tín dụng, làm lành mạnh hoá các hoạt động của ngân hàng.
Tháng 8/1998, Ngân hàng Công thương tỉnh Nam Định tiền thân từ Ngân hàng

Đề tài được chia làm ba chương:
Chương 1: Rủi ro tín dụng trong hoạt động của ngân hàng thương mại

Chương 2: Thực trạng quản lý rủi ro tín dụng trong hoạt động của Ngân
hàng Công thương tỉnh Nam Định
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nâng cao hiệu quả hoạt động
quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Công thương tỉnh Nam Định
SV : TRẦN VĂN PHONG 3 LỚP : TCDN46Q
CHƯƠNG 1:
RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM
Ngân hàng thương mại là một trung gian tài chính tiền tệ trong nền kinh tế với các
hoạt động kinh doanh chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng, trên cơ sở đó tiến hành
các hoạt động cho vay và cung cấp dịch vụ cho khách hàng. Thực tế hoạt động cho vay
là nghiệp vụ đem lại nhiều lợi nhuận nhất cho ngân hàng thương mại.
1.1. TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG TRONG NỀN KINH TẾ
THỊ TRƯỜNG
1.1.1. Khái niệm tín dụng ngân hàng
Tín dụng là hoạt động kinh tế ra đời từ rất sớm dưới hình thức tín dụng nặng lãi
trong điều kiện sản xuất thấp kém. Cùng với sự phát triển của xã hội, tín dụng có
các bước phát triển vượt bậc. Trong nền kinh tế thị trường, các tổ chức kinh tế hoạt
động độc lập và giữa chúng có mối quan hệ với nhau thông qua trao đổi, mua bán
để hình thành một hệ thống kinh tế thống nhất. Ở mỗi tổ chức kinh tế có lúc thừa,
có lúc thiếu vốn, nhưng đứng trên góc độ toàn bộ nền kinh tế thì tại một thời điểm
nhất định sẽ có một nhóm tổ chức kinh tế có vốn tạm thời chưa sử dụng, một nhóm
khác lại có nhu cầu bổ sung vốn.
Đây là hiện tượng khách quan tồn tại trong quá trình sản xuất xã hội, đồng thời
đó là mâu thuẫn của quá trình tuần hoàn chu chuyển vốn. Chính điều này đòi hỏi
tín dụng phải làm cầu nối giữa nơi thừa và nơi thiếu vốn.
Tín dụng và sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang
người sử dụng và sau một thời gian nhất định sẽ thu hồi được một lượng giá trị lớn

trường, nó giúp cho việc nâng cao hiệu quả kinh tế của nhà sản xuất kinh doanh.
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là người cần vốn có thể tìm kiếm vốn tín dụng theo con
đường nào cho có lợi nhất. Có hai cách để bổ sung vốn tín dụng:
- Theo con đường tài chính trực tiếp: Nguồn vốn có thể vận động thẳng từ
người tích luỹ - là người cho vay cuối cùng đến người đi vay - người chi tiêu cuối
cùng.
- Theo con đường tài chính gián tiếp: Nguồn vốn vận động từ người cho vay
đến người đi vay thông qua sự hoạt động có hiệu quả của các trung gian tài chính
mà ngân hàng là tổ chức trung gian đóng vai trò quan trọng.
SV : TRẦN VĂN PHONG 5 LỚP : TCDN46Q
Thông qua các nghiệp vụ nợ và nghiệp vụ có mà ngân hàng có khả năng chuyển
các nguồn vốn tích luỹ sang tiêu dùng để đem lại hiệu quả hơn. Nghiệp vụ nợ là
nghiệp vụ tạo vốn. Thông qua các hình thức huy động này ngân hàng tập trung
được những khoản tiền nhàn rỗi không sinh lời và tiến hành phân phối lại các
nguồn vốn đó qua việc thực hiện cho vay đối với nền kinh tế.
Quá trình huy động vốn diễn ra liên tục, nên ngân hàng có khả năng thoả mãn
nhu cầu vay của mọi đối tượng vào bất cứ lúc nào và trong một chừng mực nhất
định, vốn vay không bị hạn chế về mặt thời gian và không bị hạn chế về mặt số
lượng. Ở đây, với tư cách là trung gian tài chính, ngân hàng đã khắc phục được
nhược điểm của hình thức tín dụng trực tiếp là sự không phù hợp về mặt số lượng
cho vay và nhu cầu cần vốn, giữa thời gian tiền tệ được nhàn rỗi với thời gian cần
vốn của người đi vay. Như vậy, thông qua con đường tín dụng ngân hàng, nhu cầu
vốn trong nền kinh tế được đáp ứng một cách linh hoạt, kịp thời và đầy đủ nhất.
1.1.2. Hoạt động tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trường
Trước khi chuyển dịch sang cơ chế thị trường, toàn bộ nền kinh tế nước ta hoạt
động theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp, hoạt động của hệ thống ngân
hàng cũng chịu sự chi phối của cơ chế đó. Ngân hàng hoạt động theo cơ chế một
cấp. Ngân hàng Nhà nước vừa đảm nhiệm chức năng quản lý nhà nước về lưu
thông tiền tệ và tín dụng, vừa đảm nhiệm chức năng kinh doanh. Trên thực tế, ngân
hàng thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh của mình hoàn toàn theo sự chỉ đạo bằng

đó cũng thể hiện kinh doanh trong nền kinh tế thị trường luôn tiềm ẩn những rủi
ro, thất bại. Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế luôn phải đương đầu với áp
dụng của cạnh tranh và hoạt động của nó chứa đựng khả năng xảy ra rủi ro. Rủi ro
có thể xảy ra trong bất cứ loại hình hoạt động nào của ngân hàng thương mại như
rủi ro về tín dụng, rủi ro về thanh toán, rủi ro về lãi suất, rủi ro về tỷ giá hối đoái...
Trong đó, rủi ro tín dụng là rủi ro mà hậu quả do nó gây ra có thể tác động nặng nề
đến các hoạt động kinh doanh khác, thậm chí đe doạ sự tồn tại của chính ngân
hàng thương mại đó.
1.1.3. Đặc trưng của tín dụng
SV : TRẦN VĂN PHONG 7 LỚP : TCDN46Q
- Lòng tin: Là sự tin tưởng vào khả năng hoàn trả đầy đủ và đúng hạn của người
đi vay đối với người cho vay.
- Tính thời hạn: Là thời gian người đi vay sử dụng tiền vay.
- Tính hoàn trả: Đây là đặc trưng cơ bản nhất và sự hoàn trả là tiêu chuẩn phân
biệt quan hệ tín dụng với các quan hệ tài chính khác. Mặt khác, nếu không có sự
hoàn trả thì đó là một quan hệ tín dụng không hoàn hảo.
1.1.4. Vai trò của tín dụng ngân hàng
- Thứ nhất: Tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn để duy trì quá trình tái sản xuất
đồng thời góp phần đầu tư phát triển kinh tế.
Vấn đề thiếu vốn thường xuyên xảy ra ở các doanh nghiệp, do đó việc cấp vốn
tín dụng đã góp phần điều hoà vốn trong toàn bộ nền kinh tế, tạo điều kiện cho quá
trình sản xuất được liên tục.
Trong nền sản xuất hàng hoá, tín dụng là một trong những nguồn hình thành vốn
lưu động hay vốn cố định của doanh nghiệp. Vì vậy, tín dụng đã góp phần động
viên vật tư hàng hoá đi vào sản xuất, thúc đẩy ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật
để đẩy nhanh quá trình tái sản xuất xã hội.
- Thứ hai: Tín dụng thúc đẩy quá trình tập trung vốn và tập trung sản xuất.
Hoạt động của ngân hàng là huy động vốn tạm thời chưa sử dụng thường nằm
phân tán ở khắp nơi như trong các doanh nghiệp, các cơ quan nhà nước, trong dân
cư để thực hiện cho các doanh nghiệp vay. Đầu tư tập trung là quá trình tất yếu của

- Thứ sáu: Tín dụng là công cụ tài trợ vốn cho các ngành kinh tế kém phát
triển và ngành kinh tế mũi nhọn.
Thông qua hệ thống ngân hàng mà cụ thể là hoạt động tín dụng, Nhà nước sẽ tài
trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển bằng việc cho vay ưu đãi với lãi suất thấp,
thời hạn dài, mức vốn lớn. Bên cạnh đó, Nhà nước còn tập trung vốn tín dụng để
tài trợ cho các ngành kinh tế mũi nhọn, các ngành này phát triển sẽ tạo cơ sở và lôi
cuốn các ngành kinh tế khác phát triển theo.
- Thứ bảy: Tín dụng ngân hàng góp phần điều chỉnh cơ cấu kinh tế, điều
chỉnh chiến lược kinh tế, góp phần chống lạm phát.
SV : TRẦN VĂN PHONG 9 LỚP : TCDN46Q
Tín dụng ngân hàng sẽ tạo nên các nguồn vốn từ việc huy động các nguồn tiền
nhàn rỗi trong nền kinh tế thông qua lãi suất linh hoạt và đầu tư vào các công trình
trọng điểm mà chiến lược kinh tế đã đề ra. Hình thức huy động vốn bằng tín dụng
không làm tăng khối lượng tiền tệ trong lưu thông nên không ảnh hưởng đến lưu
thông tiền tệ và giá cả. Ngược lại, nếu Nhà nước dùng biện pháp phát hành tiền để
tạo nguồn vốn đầu tư cho các công trình kinh tế thì sẽ làm tăng khối lượng tiền
trong lưu thông, gây nên sự mất cân đối trong quan hệ hàng hoá - tiền tệ, ảnh
hưởng trực tiếp đến giá cả và đời sống kinh tế xã hội.
1.2. RỦI RO VÀ NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN
DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1. Khái niệm rủi ro tín dụng và các loại rủi ro tín dụng trong hoạt động
kinh doanh của ngân hàng thương mại
Rủi ro và đặc biệt là rủi ro tín dụng là nỗi lo thường trực của các ngân hàng và
các tổ chức tài chính .Trong thời đại toàn cầu hoá, các mối quan hệ kinh tế, đầu tư
thương mại thế giới ngày càng trở nên tinh vi, nhạy cảm, phức tạp và ngày càng
gắn kết phụ thuộc lẫn nhau. Hoạt động tài chính – ngân hàng cũng bị ràng buộc
chặt chẽ bởi xu thế của những quan hệ này. Mỗi sự thành công hay thất bại hoặc
chỉ một sự cố nghiêm trọng nào đó xảy ra đối với một hoặc một số ngân hàng- tổ
chức tài chính của một quốc gia thì lập tức sẽ có ảnh hưởng dây chuyền tới các tổ
chức ngân hàng- tài chính khác của quốc gia đó. Trong hoạt động tín dụng ngân

hậu quả làm giảm khả năng thanh toán, thậm chí mất khả năng thanh toán của ngân
hàng thương mại. Mặt khác, ngân hàng thương mại hoạt động theo nguyên tắc "đi
vay để cho vay", nghĩa là nguồn vốn cấp tín dụng cho khách hàng được thực hiện
trên cơ sở vốn huy động được trong xã hội, nên ngân hàng thương mại phải có
trách nhiệm cân đối hoạt động cho vay sao cho có thể đảm bảo thực hiện được
nghĩa vụ hoàn trả gốc và lãi với các chủ nợ của mình.
Các khoản nợ quá hạn, một mặt làm kéo dài thời hạn của các khoản tín dụng,
mặt khác có khả năng dẫn đến việc mất vốn của ngân hàng thương mại và do đó có
thể làm cho ngân hàng thương mại rơi vào tình trạng đến hạn phải trả cho người
gửi tiền nhưng vẫn chưa nhận được nợ từ người vay, làm giảm khả năng thanh toán
và thậm chí có thể làm mất khả năng thanh toán của ngân hàng thương mại. Việc
SV : TRẦN VĂN PHONG 11 LỚP : TCDN46Q
bị mất khả năng thanh toán tạm thời của ngân hàng thương mại sẽ làm giảm uy tín
kinh doanh của ngân hàng một cách nghiệm trọng, có thể dẫn đến hiện tượng
những người gửi tiền đồng loạt đòi rút tiền, đẩy ngân hàng đến bờ vực sụp đổ phá
sản.
- Rủi ro mất vốn:
Rủi ro không thu được nợ tức là ngân hàng mất vốn, lợi tức và cả chi phí trong
kinh doanh. Điều này có thể dẫn đến kinh doanh thua lỗ, ngân hàng mất khả năng
thanh toán và thậm chí phá sản. Mặt khác, khi các doanh nghiệp không trả được nợ
thì các ngân hàng buộc phải sử dụng các biện pháp đảm bảo để thu hồi nợ vay.
Tuy nhiên, rủi ro cũng tiềm ẩn ngay cả trong các đảm bảo nợ vay như:
+ Rủi ro do đánh giá tài sản thế chấp và cầm cố không đúng giá trị thực,
nghĩa là đánh giá giá trị của tài sản lớn hơn giá trị thực của tài sản đó.
+ Tài sản đảm bảo không đáp ứng nhu cầu của thị trường và khó chuyển
nhượng nên muốn thanh lý tài sản thế chấp hoặc cầm cố cũng rất khó. Mặt khác,
một số tài sản càng để càng bị mất giá và có thể bị hao mòn vô hình hay hữu hình,
hơn nữa trong khi không bán được ngân hàng còn mất thêm chi phí bảo quản, làm
tăng thêm chi phí của ngân hàng.
Do vậy, rủi ro tín dụng gây ra tình trạng đọng vốn hay mất vốn, mất khả năng

tế. Vì vậy, khi rủi ro tín dụng xảy ra làm phá sản một vài ngân hàng, khi đó có khả
năng phát sinh lây lan sang các ngân hàng khác,có thể dẫn đến phá sản toàn bộ hệ
thống ngân hàng, do đó ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế.
1.2.3. Các chỉ tiêu đo lường rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng
thương mại
Có thể đo lường rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại thông qua một số
chỉ tiêu sau:
- Chỉ tiêu 1: Dư nợ tín dụng trên tổng tài sản có.
Dư nợ tín dụng
Tổng tài sản có
Các ngân hàng xem xét, phân tích chỉ số này nhằm mục đích tính toán hiệu quả
tín dụng của một đồng tài sản có và quy mô hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Trường hợp chỉ số Dư nợ tín dụng/ Tổng tài sản có của ngân hàng so với chỉ số 1
SV : TRẦN VĂN PHONG 13 LỚP : TCDN46Q
Tổng dư nợ/Nguồn vốn huy động có độ chênh lệch tương đối lớn (chỉ số 1 lớn gấp
đôi chỉ số 2) thì điều đó có nghĩa là ngân hàng đang có nguồn vốn huy động khá
cao so với vốn tự có. Trong trường hợp ngân hàng có chỉ số này so với chỉ số 1
Tổng dư nợ / Nguồn vốn huy động không chênh lệch lắm (chỉ số 2 không nhỏ hơn
nhiều chỉ số 1) thì có thể khẳng định nguồn vốn huy động của ngân hàng tương đối
thấp, ngân hàng đã sử dụng nhiều nguồn vốn hỗ trợ khác như vốn chiếm dụng và
vốn tự có... để kinh doanh.
- Chỉ tiêu 2: Tỷ lệ nợ quá hạn/ Tổng dư nợ cho vay.
Nợ quá hạn
Tổng dư nợ
Các ngân hàng xem chỉ tiêu này như là một chỉ tiêu cơ bản trong việc đánh giá
chất lượng của hoạt động tín dụng. Chỉ tiêu này càng nhỏ càng tốt, song không
phải chỉ tiêu này cao là khả năng không thu hồi được nợ lớn. Theo quy định của
Ngân hàng Nhà nước, ngân hàng thương mại có tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ
lớn hơn 7% được xem là ngân hàng yếu kém; nếu chỉ số này dưới 3% thì ngân
hàng đó được đánh giá là ngân hàng có nghiệp vụ tín dụng tốt, có mức độ rủi ro tín

Để hạn chế tới mức tối đa khả năng xảy ra rủi ro, biện pháp được coi là quan
trọng nhất và mang tính thiết yếu là thực hiện việc theo dõi giám sát và quản lý
chặt chẽ việc sử dụng vốn vay.Trong hoạt động tín dụng, các ngân hàng thương
mại có thể căn cứ vào một số dấu hiệu sau để nắm bắt được những khó khăn về tài
chính của người đi vay:
- Thu nhập của người vay không ổn định, công việc thay đổi thường xuyên.
- Khách hàng chậm trễ trong việc nộp các báo cáo tài chính cho ngân hàng như
báo cáo luân chuyển vốn, báo cáo kết quả kinh doanh...
- Khi cán bộ tín dụng ngân hàng có yêu cầu khảo sát thực tế, người đi vay cố
tình chậm trễ trong việc dàn xếp các cuộc viếng thăm trụ sở, cơ sở sản xuất của
mình đối với cán bộ tín dụng, có biểu hiện thiếu thiện chí trong mối quan hệ tin
cậy, hợp tác đối với ngân hàng.
SV : TRẦN VĂN PHONG 15 LỚP : TCDN46Q
- Khách hàng sử dụng vốn sai mục đích như dùng tiền vay cho vay lại, sử dụng
sản xuất kinh doanh sai với phương án kinh doanh trình với ngân hàng.
- Khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích nhưng nhận vốn trong tình trạng
chậm trễ so với kế hoạch, có thể do khách hàng tìm kiếm được nguồn vốn khác rẻ
hơn; hoặc cũng có thể do hoạt động sản xuất kinh doanh có chiều hướng phát triển
không lành mạnh xuất phát từ hai nguyên nhân: Do ngành nghề kinh doanh của
doanh nghiệp đang gặp rủi ro, do khách hàng bị cơ quan báo chí thông tin đưa tin
không lành mạnh về tình hình tài chính khiến uy tín trên thị trường giảm sút, quan
hệ giao dịch với các đối tác không thuận lợi...
- Có sự gia tăng bất thường của lượng hàng tồn kho. Nếu dự trù nguyên vật liệu
tăng, có thể do máy móc doanh nghiệp bị hỏng, không sản xuất được. Nếu thành
phẩm tăng, có thể do sản phẩm doanh nghiệp sản xuất không phù hợp thị hiếu
người tiêu dùng, chất lượng kém, mẫu mã xấu...
- Số dư trên tài khoản tiền gửi của người vay tại ngân hàng giảm sút, hiện tượng
rút séc quá số dư hoặc séc thanh toán bị trả lại.
- Khách hàng có ý xin hoãn nợ hoặc khất nợ.
- Hoàn trả nợ vay ngân hàng chậm hoặc quá kỳ hạn hoặc không đầy đủ như cam

tăng giá trị tài sản thế chấp để vay được tiền của ngân hàng, sau đó bán tài sản thế
chấp rồi bỏ trốn.
- Do khách hàng chiếm dụng vốn. Đây là một hiện tượng phổ biến trong nền
kinh tế nước ta, công nợ dây dưa, không quyết toán dứt điểm, lý do người bán thì
muốn bán hàng, người mua thì muốn chiếm dụng vốn, không trả, chấp nhận trả lãi
vay ngân hàng... hoặc do trượt tỷ giá ngoại tệ, không bù đắp được nên phải treo
công nợ. Nguyên nhân này làm cho nhiều khách hàng có vốn làm ăn tốt, có uy tín
với ngân hàng mà vẫn không thu hồi được nợ từ đối tác, dẫn đến tình trạng chậm
trả nợ cho ngân hàng.
b) Nguyên nhân khách quan
* Môi trường kinh tế không ổn định:
Nền kinh tế nước ta hiện nay đang ở trong giai đoạn của quá trình đổi mới, các
chính sách và cơ chế quản lý vĩ mô của Nhà nước đang trong quá trình điều chỉnh,
đổi mới do đó có nhiều vấn đề còn dang dở, chưa hoàn thiện. Sản xuất kinh doanh
SV : TRẦN VĂN PHONG 17 LỚP : TCDN46Q
trong nước phải cạnh tranh gay gắt với hàng nhập lậu và hàng ngoại. Các doanh
nghiệp chuyển hướng và điều chỉnh phương án kinh doanh không theo kịp với sự
thay đổi của cơ chế và chính sách kinh tế vĩ mô.
* Môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng chưa đầy đủ, đồng bộ:
Môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng của ngân hàng chưa đầy đủ, đồng
bộ. Một số văn bản pháp lý có liên quan tới vấn đề thế chấp vốn vay ngân hàng, ở
khía cạnh này hay khía cạnh khác quy định chưa đồng bộ, đầy đủ, nhất là thiếu các
văn bản hướng dẫn, hoặc có hướng dẫn chung nhưng chưa phù hợp, không kịp
thời, nên quá trình thực hiện gặp nhiều khó khăn, cụ thể là:
- Về cơ sở pháp lý của tài sản thế chấp:
Theo quy định của pháp luật thì cơ sở đảm bảo cho việc thế chấp tài sản là bản
hợp đồng được ký kết giữa hai bên thế chấp và nhận thế chấp, cùng bản gốc giấy
tờ chứng minh cùng sở hữu tài sản do bên thế chấp giao cho bên nhận thế chấp.
Thực tế các cơ quan quản lý nhà nước chịu trách nhiệm cấp chứng thư nhận quyền
sở hữu tài sản cho các chủ sở hữu chưa được rộng khắp. Do đó, thế chấp và xử lý

đội ngũ am hiểu trong lĩnh vực kinh doanh nào thì nên tập trung vào mở rộng
cho vay lĩnh vực đó. Nếu trình độ cán bộ tín dụng của ngân hàng không chuyên
sâu thì nên mở rộng các hoạt động bán lẻ, có thể dễ dàng kinh doanh hơn.
- Lĩnh vực lựa chọn để đầu tư : xuất phát từ kinh nghiệm của ngân hàng, khả
năng tiếp cận thị trường của ngân hàng. Chẳng hạn, các ngân hàng có thế mạnh về
thị trường thanh toán quốc tế có thể đẩy mạnh hoạt động cho vay phục vụ xuất
nhập khẩu, cho vay bằng ngoại tệ. Vì khi kết hợp hai hoạt động này có thể tạo
thuận lợi cho khách hàng và giảm chi phí cho bản thân ngân hàng.
- Căn cứ vào những phân tích dự báo về rủi ro có thể xảy ra với hoạt động sản
xuất kinh doanh nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng. Đây là các phân tích về
tình hình kỹ thuật, chính trị, xã hội trong và ngoài nước, các chính sách vĩ mô ảnh
hưởng đến hoạt động của ngân hàng, đặc biệt là tình hình tài chính tiền tệ và các biến
động về lãi suất, giá ngoại tệ và chỉ số lạm phát.
SV : TRẦN VĂN PHONG 19 LỚP : TCDN46Q
- Chính sách lãi suất của ngân hàng cần thể hiện sự linh hoạt, năng động để bảo
đảm khả năng cạnh tranh, vừa bù đắp được chi phí, bảo đảm tạo lợi nhuận cao cho
ngân hàng.
Như vậy, chất lượng tín dụng chịu sự ảnh hưởng trực tiếp của chính sách tín
dụng. Vì vậy, các ngân hàng thương mại muốn nâng cao chất lượng tín dụng, giảm
thiểu rủi ro tín dụng thì phải có một chính sách tín dụng phù hợp định hướng.
1.3.2. Thực hiện tốt việc phân tích tín dụng
Thực hiện phân tích đánh giá khách hàng một cách đầy đủ và toàn diện nhằm
đánh giá chính xác khách hàng trước khi cho vay. Dựa vào các phân tích này trả lời
câu hỏi: Khách hàng có khả năng hoàn trả các khoản vay hay không và họ có sẵn
lòng hoàn trả hay không nhằm mục đích loại bỏ các yếu tố rủi ro từ phía khách
hàng mang lại.
Việc phân tích và thẩm định khách hàng được thực hiện trước, trong và sau khi
cho vay:
- Thẩm định trước khi cho vay: Đây là công việc đầu tiên của cán bộ tín dụng
ngân hàng và là khâu quan trọng đầu tiên để quyết định cho vay hay không. Vì vậy,

- Kiểm tra sau khi cho vay và thu hồi nợ: Đây là khâu quan trọng để bảo đảm
vốn vay có hoàn trả cho ngân hàng, phải kiểm tra hiệu quả của việc sử dụng vốn
vay. Nếu phát hiện việc sử dụng vốn vay sai mục đích phải kịp thời thu hồi nợ vay.
Định kỳ sáu tháng đến một năm phải phân tích tài chính của bên vay. Đến hạn
trả nợ, khách hàng không trả được nợ do nguyên nhân khách quan thì ngân hàng có
thể xem xét để gia hạn nợ theo quy định.
1.3.3. Thực hiện các hình thức bảo đảm tín dụng một cách chắc chắn, phù hợp
với yêu cầu đòi hỏi về mức độ an toàn
Việc đưa ra các yêu cầu bảo đảm tín dụng và thực hiện đầy đủ các yêu cầu đó
cũng giúp cho ngân hàng đạt được mục tiêu giảm thiểu rủi ro vì các bảo đảm có thể
được sử dụng như một nguồn thu nợ thứ cấp trong trường hợp người vay không có
khả năng trả nợ theo quy định. Tuy nhiên, việc sử dụng hình thức nào là bảo đảm
SV : TRẦN VĂN PHONG 21 LỚP : TCDN46Q
cũng đòi hỏi ngân hàng phải tùy thuộc vào thực trạng của đơn vị vay vốn để quyết
định chấp nhận hình thức bảo đảm nào.
Vấn đề bảo đảm tín dụng ngân hàng cần lưu ý các vấn đề sau để giảm rủi ro do
các khoản bảo đảm gây ra cho mình:
- Đối với cho vay có bảo đảm tiền vay bằng tài sản:
+ Cần đánh giá tính sở hữu của tài sản xem tài sản đó thuộc sở hữu của
người đi vay hay không, có thuộc dạng bị tranh chấp hay không.
+ Đánh giá tính thị trường của tài sản, cụ thể ngân hàng phải biết được tài
sản có được pháp luật thừa nhận trong lưu thông và có được thị trường chấp nhận
khi đem phát mại trong tương lai hay không.
+ Đánh giá xác định chính xác giá trị tài sản bởi vì hạn mức vay sẽ phụ
thuộc vào giá trị của tài sản bảo đảm, trong đó phải tính đến hao mòn vô hình. Đây
là một vấn đề khó đối với cán bộ tín dụng trong quá trình đánh giá tài sản.
+ Xác định được sự tồn tại bền vững của tài sản trong thời hạn bảo đảm.
+ Trình tự thủ tục tiến hành phải phù hợp với quy định của luật pháp.
- Đối với cho vay có bảo lãnh:
+ Đánh giá năng lực pháp lý của người bảo lãnh để bảo đảm sự ràng buộc

phải thực hiện tốt các quy định về bảo đảm an toàn vốn như: Dư nợ của một khách
hàng tối đa không được phép vượt 15% vốn tự có và không vượt quá tối đa 70%
giá trị tài sản bảo đảm (đối với khách hàng vay vốn có tài sản bảo đảm).
- Đa dạng hoá danh mục đầu tư: Điểm mấu chốt của lý thuyết đầu tư hiện đại
là lợi dụng lợi thế về quy mô hoạt động, các tổ chức tài chính có thể đa dạng hoá
danh mục đầu tư và giảm đáng kể mức rủi ro khi sự biến động thu nhập từ mỗi
khoản mục đầu tư có mối liên quan với nhau. Nếu nhiều khoản vay có mối tương
quan ngược chiều về thu nhập, nghĩa là khi khoản đầu tư này có rủi ro thì khoản
đầu tư kia lại thành công. Thực tế, các ngân hàng thường tìm kiếm những khoản
cho vay hợp vốn, hợp tác liên kết và quản lý một số dự án đầu tư lớn để nâng cao
chất lượng tín dụng và san sẻ rủi ro.
- Một biện pháp nữa có thể phân tán rủi ro là ngân hàng yêu cầu khách hàng
mua bảo hiểm cho các tài sản hình thành từ vốn vay và các tài sản dùng làm thế
chấp cho khoản vay nếu các tài sản đó pháp luật quy định.
SV : TRẦN VĂN PHONG 23 LỚP : TCDN46Q
1.3.6. Nâng cao trình độ của cán bộ tác nghiệp và cán bộ quản lý
Con người luôn đóng vai trò quyết định. Với việc nâng cao trình độ của cán bộ
tác nghiệp và cán bộ quản lý, các món vay sẽ thẩm định, xem xét một cách chính
xác trước khi đưa ra quyết định cho vay.
1.3.7. Sử dụng các nghiệp vụ phát sinh để phòng ngừa và hạn chế rủi ro
Ngân hàng có thể thực hiện các hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn
(các nghiệp vụ ngoại bảng) để phòng ngừa rủi ro mang tính hệ thống do những
biến động của chu kỳ kinh tế gây ra.
Trường hợp có dự đoán rằng nền kinh tế sẽ suy giảm trong thời gian tới và có
những ảnh hưởng tiêu cực tới mức sinh lời của các khoản cho vay và danh mục
đầu tư, ngân hàng có thể ký các hợp đồng về chỉ số cổ phiếu (thực chất là ký hợp
đồng bán cổ phiếu trong tương lai cho các nhà đầu tư với số cổ phiếu hiện tại). Tất
nhiên, đó là trong trường hợp dự đoán của ngân hàng là chính xác; ngược lại, ngân
hàng phải gánh chịu hậu quả là vừa chịu rủi ro tín dụng, vừa phải thanh toán số
tiền chênh lệch do dự đoán sai cho nhà đầu tư.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status