Khoá luận tốt nghiệp Lịch sử Một số làng thủ công truyền thống ven sông Gianh tỉnh Quảng Bình - Pdf 26

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, trước hết em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu
sắc đến cô giáo Th.s Lại Thị Hương – người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và
động viên em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận.
Em cũng xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến các thầy cô giáo ở Khoa
Khoa học – Xã hội trường Đại học Quảng Bình, trung tâm Học liệu trường Đại
học Quảng Bình, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Bình, Sở Công thương
tỉnh Quảng Bình, Phòng Công thương UBND huyện Quảng Trạch, Phòng Văn
hóa thông tin huyện Bố Trạch, UBND xã Quảng Thuận, UBND xã Quảng Thanh,
UBND xã Quảng Thọ. Cảm ơn các cụ, các bà, các bác tại địa bàn nghiên cứu đã
tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian làm khóa luận.
Trong quá trình thực hiện, do bước đầu làm quen với đề tài nghiên cứu,
kinh nghiệm và thời gian còn có nhiều hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu
sót. Rất mong nhận được sự quan tâm, đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn.
Đồng Hới, tháng 5 năm 2014
Sinh viên: Nguyễn Thị Mỹ Trinh
BẢN CHỮ VIẾT TẮT
CNH : Công nghiệp hóa
HĐH : Hiện đại hóa
HTX : Hợp tác xã
TTCN : Tiểu thủ công nghiệp
NNNT : Ngành nghề nông thôn
UBND : Ủy ban nhân dân

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Lịch sử biết đến dòng sông Gianh như là một đường biên giới ở đồng bằng
và là ranh giới chia cách đất nước trong thời kỳ chiến tranh Trịnh – Nguyễn.
Mảnh đất ven sông Gianh còn có tầng văn hóa lâu đời, mà một trong những biểu
hiện của nó là các làng nghề truyền thống: làng nghề mộc, nghề rèn, nghề chạm,
nghề đan lát, làm nón

Đồ đan Thọ Đơn
Hàng may Pháp Kệ
Hành chiếu Thanh Sơn
Ngọa Cương làng gốm
Giấy bổn Diên Trường
Nón Kinh chợ Ngọa
Mắm cá Cảnh Dương
Hà Khương thao lụa
Thanh Lạng tre nứa
Dao búa Hòa Ninh
Bánh tráng Lộc Điền
Lệ Sơn ngô lạc
Hàng quạt Trung Thuần
Thuận Bài vải sợi
Lối sống tốt đẹp đó cho đến nay vẫn còn được những người nông dân mộc
mạc trân trọng gìn giữ. Tuy nhiên, thực trạng hiện nay là sự phát triển các làng
nghề vùng ven bờ sông Gianh có nhiều bước thăng trầm, có những làng nghề đã
tồn tại và phát triển khá mạnh, đồng thời còn có mở rộng lan tỏa sang các khu
vực lân cận, tạo nên một cụm các làng nghề. Ngược lại có những làng nghề phát
triển cầm chừng, không ổn định, gặp nhiều khó khăn. Thậm chí, có những làng
nghề đã và đang bị mai một, dần suy vong và có khả năng bị mất đi. Các nghề
truyền thống ở đây hiện nay đang dần bị thất truyền, do sự cạnh tranh của những
đồ gia dụng hiện đại.
Không thể giới thiệu được hết các làng nghề truyền thống ở ven sông
Gianh, trong phạm vi khóa luận, tác giả chỉ xin điểm qua vài làng nghề nổi bật
2
nhất như làng Thọ Đơn với nghề đan lát, Thuận Bài, Thổ Ngọa với nghề làm
nón, nghề bánh đa ở Lộc Điền, nghề đóng thuyền ở Thanh Trạch.
Trong sự phát triển và chuyển hóa của các làng nghề, nhất là các làng nghề
trong tiến trình công nghiệp hóa ở nông thôn Việt Nam hiện nay thì những làng

đan lát, chạm gỗ, làm bánh đa… nhưng chỉ mang tính giới thiệu.
Năm 2011, có Luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Hậu với đề tài
“Một số làng thủ công truyền thống ven sông Gianh tỉnh Quảng Bình” đã đề đến
một số làng thủ công truyền thống ven sông Gianh như nghề làm nón ở làng Thổ
Ngọa, làm bánh đa ở Tân An, rèn đúc Hòa Ninh, đóng thuyền truyền thống
Thanh Trạch.
Tuy nhiên, vẫn chưa có một công trình nghiên cứu diện rộng, tập hợp nhiều
nguồn tư liệu để trình bày về quá trình hình thành, phát triển, các nhân tố ảnh
hưởng đến sự hình thành và phát triển của các làng nghề, tác động của các làng
nghề truyền thống với vai trò của nó trên nhiều mặt: kinh tế, văn hóa, xã hội
3. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu về những làng nghề thủ công truyền thống ven sông Gianh,
mục đích của tác giả nhằm giới thiệu một số làng thủ công truyền thống nổi tiếng
ở đây.
Qua tìm hiểu về sự hình thành và phát triển của các làng nghề, tác giả cố
gắng tái hiện lại một phần lịch sử, văn hóa của cư dân vùng sông nước Linh
Giang trong dòng chảy lịch sử dân tộc. Đề tài cũng nhằm làm nổi bật đặc trưng
của các làng nghề ở đây so với các làng nghề thủ công truyền thống ở những nơi
khác trong cả nước.
Với việc phân tích mang tính định lượng thực trạng phát triển của các làng
nghề tác giả cố gắng đưa ra những giải pháp góp phần giữ gìn, thúc đẩy sự phát
triển của các làng nghề tại địa bàn nghiên cứu. Qua việc nghiên cứu lịch sử, văn
hóa làng nghề, đề tài nhằm khơi dậy những nét đẹp văn hóa dân tộc ở các làng
xã, góp phần củng cố tình yêu quê hương đất nước cũng như góp thêm một số cơ
sở khoa học cho việc quản lý, phục hồi và quy hoạch phát triển ngành nghề nông
thôn ở vùng lưu vực sông Gianh
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Một số làng thủ công nổi tiếng vùng lưu vực sông Gianh bao gồm: Thanh
Trạch, Lộc Điền, Thọ Đơn, Thổ Ngọa.

Vùng ven sông Gianh là nơi hội tụ khá nhiều nghề thủ công truyền thống, nơi
bảo lưu những nét đẹp văn hóa của quê hương, do đó việc nghiên cứu còn có ý
5
nghĩa khơi dậy tình cảm gắn bó quê hương, giữ gìn những nét đẹp văn hóa truyền
thống trong mỗi người dân.
7. Bố cục của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, khóa luận
gồm 3 chương chính:
Chương 1: Khái quát về làng xã và sự phát triển thủ công nghiệp ven sông
Gianh tỉnh Quảng Bình
Chương 2: Sự hình thành và phát triển một số làng nghề thủ công truyền
thống ven sông Gianh
Chương 3: Thực trạng và giải pháp phát triển của các làng nghề thủ công
truyền thống ven sông Gianh.
6
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT VỀ LÀNG XÃ VÀ SỰ PHÁT TRIỂN
THỦ CÔNG NGHIỆP VEN SÔNG GIANH TỈNH QUẢNG BÌNH
1.1. Khái quát về làng xã ven sông Gianh tỉnh Quảng Bình
1.1.1. Đặc điểm địa lý tự nhiên và nguồn gốc dân cư
1.1.1.1. Đặc điểm địa lý tự nhiên
Sông Gianh chảy qua địa phận tỉnh Quảng Bình, bắt nguồn từ khu vực ven
núi Phu Cô Pi cao 2.017m thuộc dãy Trường Sơn, chảy qua địa phận các huyện
Minh Hóa, Tuyên Hóa, Quảng Trạch và một phần của huyện Bố Trạch để đổ ra
biển Đông ở cửa biển cùng tên – cửa Gianh. Sông Gianh dài khoảng 160km, cắt
qua quốc lộ 1 ở tây bắc cửa Gianh 5km. Tổng diện tích lưu vực 4.680km, độ cao
trung bình 360m, độ dốc trung bình 19,2%, lượng nước năm 7,95km
3
ứng với lưu
lượng nước trung bình năm 252m

khu lòng chảo Lam Lang, Nam lạc Sơn, Uyên Phong và Vòi Moi mà hình thành
vực Cao Mại, sử Trung Quốc gọi là Vô Lao (vì quá sâu, thuyền bè không thể
chống sào được), một hồ chứa nước không bao giờ cạn, để tiếp thủy cho Linh
Thủy, rồi đổ ra sông Thọ Linh, đến ngã ba sông Chợ Mới ở Minh Lệ thì kết hợp
với Rào Son từ Phù Kinh đổ về, hợp lưu thành Linh Giang, chảy ra Thuận Bài,
kết lưu với Rào Nậy, hình thành sông Gianh để đổ ra biển cửa Gianh, tục gọi là
“Cựa” ở Mỹ Hòa, Quảng Khê.
Nguồn Son (rào của nước đỏ như son) là chi lưu cực nam của sông Linh
Giang, bắt nguồn từ khe suối triền Đông của dãy Trường Sơn chảy đến Chà Nòi
đổ vào Vực Tró đổ ra kết hợp với sông Ngọn Rào từ phía bắc đổ đến và hình
thành sông Troóc, còn gọi là Rào Son, chảy qua động Phong Nha, kết hợp với
Rào Bồn từ thác Ba Rền ở phía nam đổ đến, chảy qua Cù Lạc, Cổ Giang,
Khương Hà, Cự Nẫm, Phù Mỹ, Cao Lao Thượng, chia thành hai nhánh, một
nhánh chảy dọc theo Cao Lao đến Tân Định, một nhánh chảy ra Chợ Mới (Minh
Lễ) để hợp lưu với Rào Nan mà hình thành Linh Giang, chảy đến Thuận Bài thì
kết hợp với Rào Nậy ở phía bắc và Rào Son ở Tân Định phía nam, mà hình thành
vũng Cao Lao rồi chảy ra cửa Gianh ở Quảng Khê.
Tất cả 3 lưu vực của sông Gianh đều hợp lưu cộng tác bồi đắp phù sa cho
Quảng Trạch, Bố Trạch mãnh đất phì nhiêu nhưng cũng đón nhận không ít
những khó khăn từ lũ lụt ở vùng này.
Địa hình đồi núi chiếm hầu hết diện tích lưu vực, địa hình đồng bằng rất
hẹp, giáp biển là các cồn cát di động ảnh hưởng lớn đến việc thoát nước của cửa
sông. Hướng chủ yếu các dãy núi trên lưu vực là tây bắc – đông nam, riêng dãy
Hoành Sơn ở phía bắc có hướng tây – đông.
Đất ở trên lưu vực sông Gianh được tạo thành do nhiều nguồn gốc, chủ yếu
là đất phù sa bị nhiễm mặn hằng năm, ít màu mỡ và đất thềm dốc cao cấu tạo bởi
sản phẩm phong hóa của các đá Feratic, sét, sa diệp thạch. Rừng sông lưu vực
sông Gianh còn nhiều, chiếm khoảng 55 % diện tích lưu vực, là nơi cung cấp
8
nguyên liệu cho sự phát triển thủ công nghiệp nhất là các ngành chạm khắc gỗ,

9
lưu vực sông Gianh được định hình thì xuất hiện “Cửa Hác” nằm giữa Ba Đồn,
Hòa Ninh và La Hà là điểm giao lưu hội tụ của các sông nguồn Nậy, Kinh Kịa,
Hòa Giang chưa lấp lại (lấp vào năm 1954) và sông La Hà, tạo nên một dòng
xoáy khơi sâu khu vực này, nên còn gọi là cửa Tứ Hội [29; 26].
Thời ấy, Cửa Hác không phải như ngày nay mà là một “cái phá” rộng lớn
gọi là Đại Hác, chạy dài từ Hói Đồng đến Phù Trạch, băng qua Lộc Điền, đến
Trung Thuần, Phù Lưu để bắt tay với vũng Tú Loan, hình thành một dải nước
rộng như Phá Tam Giang ở Thừa Thiên Huế. Có hình dung đúng đắn như thế
mới lí giải được nguyên nhân vùng đất từ Chợ Mới qua Hoà Ninh đến Hạ Thôn,
Cồn Giữa (hay Cồn Sẽ), Vân Lôi, Lộc Điền, Phù Ninh đều không có “nước
ngọt”, vì lẽ thời ấy tất cả nơi này đều tiếp giáp trong 400 năm liền với dòng nước
mặn do biển tiến đợt H3 dâng lên, kết hợp trầm tích địa tầng pha muối khá dày,
nên phải đợi một thời gian khá lâu mới “lợ hóa” được [ 3; 26].
Như chúng ta thấy, không có sông ngòi nào trên đất nước Việt Nam có
nhiều cồn như sông Gianh: La Hà, Văn Phú là một cồn; Di Luân, Thọ Đơn, Mỹ
Hòa cũng là một cồn, Lũ Phong, Tân Phong cũng là một cồn, Vĩnh Phước, Vĩnh
Lộc và Phủ Trạch khi sông Hòa Giang chảy từ Hạ Thôn (Nguồn Nậy) về Hói Nại
(còn gọi là Hói Bần) để đổ ra Cửa Hác thì cũng là một cồn hiện hữu trên sông
Gianh… Dần dà, thời gian và thời tiết cưỡng bất “biển thoái” để lũ lụt và phù sa
từ thượng nguồn Hương Khê, Thanh Lãng chảy về bồi đắp, nước ngọt đẩy lùi
nước mặn ra biển, phù sa liên kết với các cồn chìm và các đầm lầy thành một dải
đất phì phiêu cho canh tác của làng xã ven sông Gianh mà ngày xưa, cách đây
2000 năm còn tiếp giáp với biển [29; 27]. Môi trường địa lý cách đây 2000 năm
đã không cho phép các làng xã nơi đây sớm phát triển vì đang ở trong thời kì
“nước mặn đồng chua” đợi đến thời kì “lợ hóa”, do đó vùng đất ven sông này
thiếu hẳn những điều kiện phát triển như là: không có đất cao ráo để ở, không có
đất phì nhiêu, tài nguyên để canh tác, không có nước ngọt để uống, không có
đường giao thông để sinh hoạt…
Ngày nay, phù sa vĩnh viễn đẩy lùi các đợt biển tiến, đã bồi đắp nên ở đây

với họ Nguyễn hoặc vì bất mãn với chính quyền Mạc, Lê - Trịnh mà tìm đến. Họ
đã trở thành những người tập hợp, nhóm họp các dân nghèo tự nguyện hoặc
cưỡng bức vào đây lao động khai phá đất đai, tạo dựng xóm làng. Ngoài ra, cũng
11
phải kể đến một bộ phận nông dân, quan lại ở miền ngoài “nổi loạn” chống lại
các triều đình phong kiến thối nát. Sau khi bị đàn áp đã tìm đường ẩn náu vào
đây lập nghiệp, có nhiều dòng họ khi mới vào đây đã thay tên, đổi chữ lót để
tránh sự truy tìm tung tích như họ Nguyễn Viết, họ Trần, họ Đoàn ở Hòa Ninh,
họ Phạm ở Thuận Bài (Quảng Trạch).
Như vậy, nguồn cư dân đến vùng đất ven sông Gianh tỉnh Quảng Bình làm
ăn lập nghiệp qua các thời kỳ khác nhau bao gồm nông dân, binh lính, tướng
lĩnh, quan lại, tội nhân, kẻ lưu vong… trong đó tuyệt đại bộ phận là nông dân. Họ
di cư đến đây với nhiều lý do và trong những hoàn cảnh khác nhau. Có thể là tự
nguyện nhưng cũng có thể là bị lưu đày, cưỡng ép. Mặt khác, bản thân cư dân ở
đây cũng là những nhóm người đang sống trong các thế kỷ đầy biến động, phần
lớn từ miền ngoài vào mang theo một tâm lý khá phức tạp. Có thể lúc đầu các gia
đình họ có cùng một quê hương bản quán tập hợp lại thành xóm làng để giúp đỡ,
nương tựa vào nhau trong những điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt. Về sau, cùng
với sự phát triển lịch sử, làng xã không ngừng được bổ sung vào cơ cấu của mình
những thành phần dân cư khác nhau. Một điều đáng lưu ý là, cư dân ở các làng
xã ven sông Gianh có nguồn gốc xuất thân không thuần nhất. Họ làm nhiều nghề
khác nhau, từ nhiều địa phương khác nhau ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ di chuyển
vào đây (đông đảo nhất là vùng Thanh - Nghệ - Tĩnh) và ở những thời điểm khác
nhau kéo dài suốt cả thời kỳ trung cận đại của lịch sử Việt Nam từ nửa cuối thế
kỷ XI cho đến nửa đầu thế kỷ XIX. Lúc đầu có thể là một dòng họ, về sau có
nhiều dòng họ kế tiếp vào đây, do đó ở một số làng rất khó để xác định dòng họ
nào là “tiền khai canh, hậu khai khẩn”, dòng họ nào là “dân chính cư và dân ngụ
cư”. Mặc dù phải trải qua những thử thách cam go, khó khăn thiếu thốn trong
buổi đầu khai phá nhưng họ đã sớm chung lưng đấu cật, vật lộn với cuộc sống,
chống chọi với thiên nhiên để cải tạo nhiều vùng đất hoang dại, núi đồi hiểm trở,

Năm 1069, ba châu Bố Chính, Địa Lý, Ma Linh trở về Đại Việt. Năm 1075,
Lý Nhân Tông đổi châu Địa Lý thành châu Lâm Bình; châu Bố Chính thành
Châu Nam Bố Chính. Sách “Đại Nam nhất thống chí” viết: “Vua Nhân Tôn hiệu
Thái Ninh thứ 4 (1075) đổi Địa Lý làm châu Lâm Bình, Bố Chính làm châu Nam
Bố Chính… chiêu mộ dân đến ở”.
Năm 1407, thời nhà Minh đô hộ nước ta, châu Bố Chính đổi thành Chính
Bình. Thời Lê Thánh Tông (1460 - 1497) châu Bố Chính thuộc Thuận Hóa thừa
13
tuyên. Trước năm 1627, Hy Tông Hiếu Văn Hoàng đế lấy được Nam Bố Chính,
đặt dinh Bố Chính (tục gọi là Dinh Ngói), lấy sông Gianh làm giới hạn. Từ sông
Gianh trở ra là Bố Chính ngoại châu hay Bắc Bố Chính châu của vua Lê, chúa
Trịnh; từ sông Gianh trở vào là Bố Chính nội châu hay châu Nam Bố Chính
thuộc chúa Nguyễn, đặt tại dinh Võ Xá (đạo lưu bồn, tục gọi là Dinh Mười).
Vào năm 1802, sau khi lật đổ vương triều Tây Sơn của Quang Toản, lập ra
nhà Nguyễn, Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi lấy niên hiệu là Gia Long, Gia Long trở
lại vùng đất Quảng Bình hiện nay là Bố Chính nội, Bố Chính ngoại nhằm phân
biệt giữa Đàng Trong, Đàng Ngoài trong việc phong tước phẩm, định mức thuế
đối với nhân dân hai bờ sông Gianh.
Năm 1825, Minh Mạng đem đất tam Dũng ở châu Quy Hợp (Hà Tĩnh) sáp
nhập vào Bố Chính. Năm 1827, Minh Mạng cải Bố Chính thành huyện Bình
Chính (nghĩa là ổn định phân tranh, Linh Giang thái bình), đến năm 1838 đổi
Bình Chính và thành lập phủ Quảng Trạch trong đó bao gồm cả huyện Bố Trạch,
xóa hết mọi tàn tích cổ danh Chiêm Thành. Năm 1875, thời vua Tự Đức thì lấy
tổng thượng du Minh Cầm và một số man sách thượng nguồn sông Gianh mà lập
thành huyện Tuyên Hóa [29; 36]. Như vậy, các địa danh vùng lưu vực sông
Gianh được định hình kể từ đây.
Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, do có địa
bàn chiến lược quan trọng nên nhiều cuộc chiến tranh đã đi qua mảnh đất này.
Thế kỷ XVIII, giặc Nguyên xâm lược nước ta. Tướng giặc Nguyên là Toa
Đô đánh vào Chăm - pa rồi tiến quân ra Bắc phối hợp với đại quân do Thoát

dân khắp nơi đã nổi dậy đấu tranh chống lại ách áp bức, bóc lột, giành lại độc lập
cho dân tộc. Tuy nhiên các phong trào đấu tranh đều bị thực dân Pháp đàn áp.
Phải đến khi Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời (3-2-1930), đảm đương sứ mệnh
của một Đảng lãnh đạo thì lúc đó phong trào chống Pháp ở Quảng Bình nói
chung và các làng xã ven sông Gianh nói riêng mới có người lãnh đạo, phát triển
ngày càng mạnh mẽ hơn. Các tổ chức cơ sở Đảng lần lượt ra đời ở Kẻ Rấy (Bố
Trạch), Lũ Phong (Quảng Trạch). Dưới sự lãnh đạo của Đảng, các cuộc đấu tranh
đòi dân sinh, dân chủ, chống sưu cao, thuế nặng ở các làng xã ven sông Gianh
liêp tiếp nỗ ra.
15
Ngày 23 tháng 8 năm 1945 là mốc son chói lọi trong lịch sử đấu tranh cách
mạng của nhân dân Quảng Bình. Chỉ trong vòng chưa đầy một ngày đêm, quần
chúng nhân dân khắp tỉnh nhất tề nổi dậy lật đổ ách thống trị của đế quốc, phong
kiến giành chính quyền về tay nhân dân. Cuộc khởi nghĩa nổ ra nhanh gọn và thu
thắng lợi to lớn.
Nhưng thực dân Pháp vẫn nuôi âm mưu xâm lược nước ta lần 2. Cùng
chung với nhân dân cả nước, nhân dân làng xã vùng ven sông Gianh lại bắt tay
vào công cuộc vừa kháng chiến vừa kiến quốc. Trong suốt thời kì kháng chiến
chống Pháp và chống Mỹ, vùng đất ven sông Gianh phải gánh chịu nhiều tổn
thất, là nơi điểm đầu chi viện cho kháng chiến của dân tộc nên luôn bị đế quốc
Mỹ tàn phá. Tuy nhiên, với tinh thần chống giặc ngoại xâm, người dân nơi đây
đã cùng cả nước đấu tranh đánh đuổi quân xâm lược giành độc lập thống nhất đất
nước và bình yên cho quê hương xứ sở.
Có thể nói, Quảng Bình nói chung, vùng đất ven sông Gianh nói riêng là nơi
gánh chịu những hậu quả của chiến tranh. Mặt khác sự thống trị của nhiều thế lực
thay đổi nhau từ các thế lực phong kiến đến đế quốc xâm lược đã làm cho con người
ở vùng đất này có một thích ứng đặc biệt và khả năng đối phó cao. Tính chất tương
tranh hỗn chiến giữa các thế lực phong kiến, đế quốc qua các thời kì lịch sử đã biến
vùng này thành một chiến trường khốc liệt lâu dài, luôn bị xô đẩy bởi những biến
cố, sự kiện bi hùng của dân tộc. Chính hoàn cảnh lịch sử ấy tạo nên những dấu ấn,

của dân tộc, chúng ta sẽ bắt gặp những nét đẹp được lưu giữ nơi các làng nghề
truyền thống với những sản phẩm đặc trưng của người dân nơi đây đã tích lũy từ
bao đời. Mặc dầu trải qua bao biến cố của thời gian và lịch sử nhưng những
phong tục tập quán, nếp sống của cư dân vùng ven sông Gianh rất ít thay đổi.
Từ hình ảnh cây đa, bến nước, sân đình đến những món ăn dân dã, các lễ hội
dân gian, các nghi lễ tôn giáo, nghề nghiệp mang tính tâm linh Sự tồn tại của
nền văn hóa làng phải chăng đã tự nó trở thành cái hướng tìm về cội nguồn, tìm
tới bản sắc văn hóa dân tộc nói chung, cũng như văn hóa địa phương nói riêng.
Bởi lẽ văn hóa làng xã là nơi tiềm ẩn bản sắc văn hóa dân tộc rõ nét nhất, đa dạng
nhất!
Bên cạnh tính bản địa của văn hóa, vùng làng xã mà lưu vực sông Gianh là
nơi đan xen, hội nhập do giao thoa văn hóa mà có. Bởi văn hóa Quảng Bình nói
chung, văn hóa cư dân vùng lưu vực sông Gianh nói riêng là kết quả giao thoa
17
của hai trung tâm văn hóa lớn ở hai đầu đất nước. Ở đó có sự kết hợp các xu
hướng và sắc thái văn hóa vốn có từ thời đồ đá mới được đắp đổi bằng sự hội
nhập từ hai miền, hai quốc gia cổ đại song lập (Văn Lang - Âu Lạc). Ở giai đoạn
sau này, vùng lưu vực sông Gianh là nơi pha trộn của nhiều luồng văn hóa khác
nhau: văn hóa Đàng Trong - văn hóa Đàng Ngoài, văn hóa Phú Xuân - văn hóa
Thăng Long. Có thể tìm thấy rất nhiều loại hình văn hóa làng ở các tỉnh Bắc Bộ,
Nghệ Tĩnh, Thừa Thiên Huế. Hơn nữa, sự du nhập của văn hóa Trung Hoa và Ấn
Độ cũng tạo nên tính đa dạng của văn hóa vùng sông nước Linh Giang. Thực ra,
trong quá trình "Chăm- pa hóa" và "Đại Việt hóa" cư dân ở đây đã tiếp nhận
những tinh hoa văn hóa của hai nền văn hóa nói trên. Xét về mặt văn hóa, trừu
tượng hóa các mặt chính trị, quân sự, kinh tế thì văn hóa phương Bắc tràn
xuống phương Nam theo con đường lục địa vào bắc Đông Dương, văn hóa Ấn
Độ theo con đường biển đến nam Đông Dương. Văn hóa Hán muốn vươn vào
phía Nam, văn hóa Ấn Độ cũng vươn ra phía Bắc. Các yếu tố giao lưu tiếp biến,
hội nhập đan xen giữa các nền văn hóa ấy từ nhiều tuyến qua các thời kì đã tạo
nên những giá trị văn hóa phong phú, đa dạng, độc đáo. Trong sinh hoạt và sáng

đã xuống chiếu chiêu mộ quan lại, binh lính, nhân dân đến khai phá, lập làng ở
vùng đất Bố Chính.
Bố Chính là đất rộng, ít dân cư, chạy đến châu Hoan, các quan lại hoặc dân
chúng muốn khai phá thì thu lợi lớn. Hưởng ứng chiếu dụ của nhà vua, nhiều
quan lại, binh lính, dân tự do đến đây khai hoang lập làng. Ngoài các thành phần
trên còn có những người lưu đày ở ngoại châu (phái bắc sông Gianh) và viễn
châu (nam sông Gianh) cũng được tham gia khai phá đất đai. Khác với vùng nam
trước đây, việc lập làng theo họ tộc thì lúc này thành phần dân cư lập làng đa
dạng hơn và vì thế công cuộc khẩn hoang vùng đất Bố Chính diễn ra nhanh
chóng hơn. Theo gia phả một số dòng họ, dưới thời vua Lê Thánh Tông việc di
dân lập làng đầu tiên tập trung ở hai bên bờ sông Gianh. Từ phía thượng nguồn
có thể kể đến Lệ Sơn (Văn Hóa), Vĩnh Phước (Quảng Trường), Lũ Phong,
Quảng Lộc, Hòa Ninh Phía nam sông Gianh là các làng Bồ Khê, Cao Lao, Cự
Nẫm Những nhóm người định cư dưới thời nhà Lê thường tập trung các vùng
có đất canh tác, bãi bồi ven sông, nhưng cũng có những làng được lập nên trên
các cửa sông, vùng ven biển thuận lợi cho nghề chài lưới. Từ những vùng cư dân
19
này, địa bàn cư trú dần lan tỏa lên phía tây và phủ kín địa bàn Bố Chính [8; 13].
Những dòng họ đến khai phá lập làng vùng đôi bờ sông Gianh bao gồm họ Đoàn,
họ Phạm, họ Trần, họ Nguyễn, họ Mai Cho đến nay, vẫn chưa xác định họ nào
đến trước, họ nào đến sau, làng nào ra đời sớm nhất. Do làng được hình thành
bởi nhiều dòng họ khác nhau cùng chung sức, cố kết để khai khẩn đất hoang,
biến đồng hoang nên vùng ven sông Gianh, không có làng nào được đặt tên theo
dòng họ như Phan Xá, Hoàng Xá ở vùng nam Quảng Bình mà do họ tự đặt
hoặc là do Nhà nước phong kiến đặt theo sự phân định ranh giới lãnh thổ. Làng
xã ven sông Gianh hình thành chủ yếu phân theo địa vực cư trú và nghề nghiệp.
Việc lập làng theo địa vực cư trú là hình thức tổ chức của những người sống gần
nhau, có quan hệ chặt chẽ với nhau hình thành thôn, xóm. Họ cố kết với nhau để
cùng giúp đỡ nhau trong sản xuất, trong đời sống, trong chống với thiên tai, địch
họa.

những nơi khác. Những nghề truyền thống này nằm rải rác các nơi (có nơi chỉ
hành nghề khi nông nhàn), cũng có làng nghề chuyên làm nghề thủ công, tỷ lệ
cao so với dân trong xã như: Quảng Hòa, Quảng Thuận thuộc Quảng Trạch.
Vùng ven sông Gianh từ xưa nổi tiếng với các làng nghề sau:
Nghề dệt vải: từ xưa đã có nghề dệt vải bông tại Lũ Phong (Ba Đồn), những
người thợ dệt của Thuận Bài sản xuất ra một thứ lụa gọi là tơ. Nhưng nghề dệt
quan trọng nhất là ở Bố Trạch, vải thao Khương Hà, Thanh Lãng, Gia Hưng, Cao
Lao Thượng, Cao Lao Hạ trông dâu nuôi tằm, dệt thao đũi.
Nghề dệt chiếu ở Thanh Sơn (Quảng Trạch), nghề mộc và đồ tre ở Quảng
Cư, Thọ Đơn đan thúng mũng. Trung Thuần làm quạt, làng Pháp Kệ làm gối mây
và Diên Trường đan rổ bát đĩa và rế để nồi niêu.
Vùng ven sông Gianh còn là nơi có bề dày của nghề nấu sắt và rèn đúc.
Theo sách “Ô Châu cận lục”, “Vùng Lệ Thủy, Tư Vinh, Bố Chính sẵn nhiều
quặng, các xã Phù Tông, Cao Lao đã có lò nấu sắt” [1; 37]. Sắt từ xưa ở vùng
Quảng Bình nói chung trở thành sản phẩm quý để cống nộp cho triều đình, giống
như một sản vật nộp thuế. Lê Quý Đôn chép: “Qua xã Cao Lao, vượt núi Lê Đệ
mười mấy dặm, độ một canh rưỡi thì đến trang Điển Phúc, gọi là xứ Mục
Dưỡng. Trang này trước nộp thuế sắt. Hỏi lấy sắt ở đâu thì nói là lấy sắt ở núi
Lệ Đệ, một trang 50 lò, mỗi năm mỗi lò phải nộp 2 thỏi, cộng là 100 thỏi, nộp tại
Dinh Ngói” [10; 132]. Do nấu sắt phát triển nên nghề rèn rất phổ biến. Thường
21
có 3 hoặc 4 làng có một thợ rèn và làng rèn khá nổi tiếng ở vùng ven sông Gianh
là Hòa Ninh (thuộc xã Quảng Hòa, huyện Quảng Trạch). Mặc dù nghề rèn ở đây
chưa đạt đến mức chuyên môn hóa như hai làng Hoàng Giang và Phan Xá ở
huyện Lệ Thủy song sự xuất hiện hàng loạt các lò rèn dọc sông Hòa Giang cho
thấy nghề rèn ở đây khá phát triển. Họ hầu như chỉ sản xuất các công cụ cầm tay.
Các sản phẩm làm ra thường bán cho những người buôn bán sỉ, những người này
lại bán tại chợ Ba Đồn hoặc khắp các vùng trong tỉnh, một số sản phẩm được bán
sang Lào.
Nghề sản xuất hàng thực phẩm: ở đâu người ta cũng làm miến, bánh, bún các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status