Khóa luận tốt nghiệp 2007-2011 GVHD: Th.S Nguyễn Tương Tri
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việc dạy và học Tin học đạt được hiệu quả cao khi giáo viên và học sinh nắm
được chuẩn chương trình, kỹ năng, hiểu được ý đồ của tác giả đối với mỗi bài, biết
khai thác hết khả năng ứng dụng của CNTT vào dạy học, thiết kế nội dung website
và sử dụng chúng trong việc thiết kế giờ học, tổ chức các hoạt động học tập của học
sinh. Đồng thời học sinh biết cách sử dụng chúng trong việc tự học, tự nghiên cứu,
giải quyết các vấn đề học tập một cách tích cực, góp phần nâng cao chất lượng dạy
và học môn Tin học ở trường trung học phổ thông.
Việc vận dụng PPDH với chương trình Tin học 12 là một vấn đề khó, đòi hỏi
phải có thời gian (vì cơ bản PPDH chịu ảnh hưởng của kinh nghiệm và phải được
kiểm chứng bằng thực nghiệm).
Xác định vai trò quan trọng của việc vận dụng phương pháp phù hợp sẽ tác
động tích cực đến quá trình dạy học và góp phần nâng cao chất lượng giáo dục. Có
sự đầu tư đúng mức trong việc trang bị kiến thức về cách thức tổ chức các hình thức
dạy học song song với việc trang bị kiến thức chuyên môn.
Thực trạng cho thấy rằng việc dạy học với các phương pháp truyền thống và
những nội dung hiện nay còn một số mặt hạn chế khó khắc phục. Quá trình dạy học
cung cấp cho HS những kiến thức có sẵn, hoạt động nhận thức mang tính thụ động,
không tích cực, sáng tạo. Để khắc phục tình trạng này, Nghị quyết TW 2, khóa VIII,
BCH Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra nhiệm vụ: “Đổi mới mạnh mẽ
phương pháp giáo dục, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư
duy sáng tạo cho người học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và
phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu
cho HS”.
Bộ trưởng BCVT Đỗ Trung Tá nhận định để phát triển ứng dụng nhanh và
hiệu quả công nghệ tin học trong các lĩnh vực nói chung và trong nhà trường nói
riêng cần có 4 yếu tố quan trọng, đó là: Nhận thức (trước hết là nhận thức các ngành
phải được nâng cao), nhân lực (phải chuẩn bị nguồn nhân lực tương ứng trình độ),
SVTH: Nguyễn Thị Song Hải
SVTH: Nguyễn Thị Song Hải
2
Khóa luận tốt nghiệp 2007-2011 GVHD: Th.S Nguyễn Tương Tri
- Nghiên cứu và đề xuất một số biện pháp tổ chức dạy học hiệu quả chương
trình Tin học 12.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu trên, chúng tôi đề ra một số nhiệm vụ
nghiên cứu sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn việc dạy học Tin học THPT.
- Nghiên cứu nội dung chương trình SGK Tin học 12.
- Xác định một số khó khăn trong hệ thống kiến thức Tin học 12.
- Phân tích nguồn gốc của những khó khăn đó (HS, GV, SGK, chương trình
học, )
- Nghiên cứu, đề xuất một số biện pháp tổ chức dạy học hiệu quả chương trình
Tin học 12.
- Xây dựng Website để trao đổi, hỗ trợ học sinh tự học, tăng cường khả năng
tự học, tự nghiên cứu của học sinh.
- Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính khoa học và tính khả thi của đề tài.
5. Phương pháp nghiên cứu
• Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
- Nghiên cứu SGK, internet, báo, tạp chí, tài liệu, giáo trình, các văn bản, chỉ
thị, nghị quyết, cơ bản liên quan đến nội dung đề tài. Trên cơ sở đó phân tích,
tổng hợp, khái quát rút ra những vấn đề cần thiết cho đề tài.
- Nghiên cứu chương trình SGK Tin học 12 và các tài liệu khác liên quan.
• Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Tìm hiểu tâm sinh lý và tính tích cực của HS lớp 12.
- Tìm hiểu thực tiễn dạy học của môn Tin học 12 thông qua: Tham gia dự giờ,
lấy ý kiến của các HS, các GV phụ trách giảng dạy môn Tin học ở trường phổ
thông, nhận sự góp ý của bạn bè và giảng viên hướng dẫn. Từ đó xác định được
những thuận lợi và khó khăn trong việc đề xuất các biện pháp tổ chức dạy học hiệu
nhìn vào chương trình giáo dục của Việt Nam hiện nay và theo dõi báo động của các
nhà giáo dục trong nước, khó có thể phủ nhận một thực tế là giáo dục tại Việt Nam
đang có vấn đề, ở mức độ khủng hoảng. Khủng hoảng hiện diện trong rất nhiều lãnh
vực khác nhau của giáo dục. Tình trạng bất cập, yếu kém trong chất lượng giáo dục
và việc xem nhẹ hình thành nhân cách cũng đã được ghi nhận trong một báo cáo
thẩm tra của Quốc hội. Vấn đề còn lại là làm sao giải quyết những khủng hoảng đó
dựa trên điều kiện thực tế của Việt Nam.
Một số khó khăn cơ bản như sau:
- Khó khăn về nhận thức
Nhận thức là một quá trình phức tạp, nó được bắt đầu từ việc xem xét hiện
tượng một cách trực tiếp, tích cục, sáng tạo và dựa trên cơ sở thực tiễn. Theo đó,
nhận thức không phải là một quá trình thuần tuý trừu tượng hay thuần tuý cụ thể.
Nó là sự phản ánh vào ý thức những hoạt động thực tiễn của con người, dưới dạng ý
niệm và biểu tượng. Vượt ra ngoài giới hạn của hoạt động thực tiễn sẽ không có quá
trình nhận thức.
SVTH: Nguyễn Thị Song Hải
5
Khóa luận tốt nghiệp 2007-2011 GVHD: Th.S Nguyễn Tương Tri
Tuy nhiên, để hình thành các khái niệm, phạm trù, quá trình nhận thức phải trải
qua những khó khăn, phức tạp nhất định. Sự phức tạp, khó khăn đó là ở chỗ:
1) Tư duy con người không thể bao quát hết toàn bộ bản chất của đối tượng,
không theo sát một cách đầy đủ toàn bộ quá trình phát triển của nó, mà chỉ phản ánh
đối tượng một cách cục bộ, đứt đoạn, chỉ tiếp cận được một số đặc điểm nào đó của
nó. Vì vậy nếu không hiểu được tính chất này của nhận thức thì rất dễ rơi vào quan
điểm siêu hình hoặc bất khả tri luận;
2) Nếu không hiểu đúng bản chất biện chứng của quá trình nhận thức thì chúng
ta rất dễ sa vào quan điểm duy tâm, tuyệt đối hoá vai trò của khái niệm, phạm trù -
coi chúng như là sản phẩm sáng tạo thuần tuý của tư duy, quy định sự vận động,
phát triển của thế giới. Điều này đã được Ph.Ăngghen lưu ý trong Chống Đuyrin và
Lênin nhắc lại trong Bút ký triết học.
Đôi khi, lĩnh vực quản lý nhân sự còn bị coi là vấn đề “nhạy cảm”, thuộc nội
dung không thể chia sẻ với bên ngoài. Đối với các chuyên gia làm công tác nhân sự,
để điều chỉnh hoạt động quản trị nguồn nhân lực, không bao giờ quá muộn để làm
lại từ đầu…
- Khó khăn về tài chính
Thị trường tài chính là sản phầm tất yếu của nền kinh tế thị trường, sự xuất
hiện và tồn tại của thị trường tài chính xuất phát từ yêu cầu khách quan của việc
giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu và khả năng cung ứng vốn to lớn trong nền kinh
tế phát triển cao. Trong nền kinh tế thị trường, quá trình điều hòa các nguồn vốn
nhàn rỗi từ nơi “thừa vốn” đến “nơi thiếu” vốn được diễn ra chủ yếu tại các thị
trường tài chính. Cơ sở khách quan cho sự ra đời của thị trường tài chính là sự giải
quyết mâu thuẫn giữa cung và cầu về vốn trong nền kinh tế thông qua các công cụ
tài chính, đặc biệt là các loại chứng khoán, làm nảy sinh nhu cầu mua bán, chuyển
nhượng chứng khoán giữa các chủ thể khác nhau trong nền kinh tế. Chính sự phát
triển của nền hàng hóa và tiền tệ mà đỉnh cao của nó là kinh tế thị trường đã làm
nảy sinh một loại thị trường mới là thị trường tài chính.
1.1.2. Những khó khăn trong dạy và học ở nhà trường PT
* Khó khăn trong nhận thức
- Trong những năm qua, đất nước ta chuyển mình trong công cuộc đổi mới sâu
sắc và toàn diện, từ một nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế
nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Với
SVTH: Nguyễn Thị Song Hải
7
Khóa luận tốt nghiệp 2007-2011 GVHD: Th.S Nguyễn Tương Tri
công cuộc đổi mới, chúng ta có nhiều thành tựu to lớn rất đáng tự hào về phát triển
kinh tế - xã hội, văn hóa - giáo dục.
- Tuy nhiên, mặt trái của cơ chế mới cũng ảnh hưởng tiêu cực đến sự nghiệp
giáo dục, trong đó sự suy thoái về đạo đức và những giá trị nhân văn tác động đến
đại đa số thanh niên và học sinh như: có lối sống thực dụng, thiếu ước mơ và hoài
bão, lập thân, lập nghiệp; những tiêu cực trong thi cử, bằng cấp, chạy theo thành
đất nước đi lên từ nghèo nàn lạc hậu để sánh vai ngang tầm với các cường quốc ấy,
phụ thuộc phần lớn vào công tác giáo dục nước nhà, vào việc đào tạo nguồn nhân
lực và vào sự nghiệp trồng người của đội ngũ những người làm giáo dục, vào vai trò
quan trọng của thầy, cô giáo.
- Trong bối cảnh hiện tại đặt ra cho ngành giáo dục, đội ngũ thầy, cô giáo, cán
bộ quản lí và nhà trường trách nhiệm nặng nề. Trong việc thực hiện sứ mệnh nặng
nề nhưng cao cả đó, mỗi trường học phải là một tập thể đoàn kết, phấn đấu nâng
cao chất lượng giáo dục đạo đức, chất lượng dạy học đích thực, đào tạo thế hệ trẻ
trở thành công dân yêu nước, có văn hóa, có trình độ kiến thức, có kỹ năng khoa
học, có ý chí hoài bão vươn lên, không cam chịu nghèo hèn, làm giàu cho đất nước,
làm giàu cho bản thân. Để làm được điều đó, mỗi trường học, đặc biệt là các trường
phổ thông phải xây dựng cho được môi trường sư phạm tích cực, thân thiện giữa
thầy với thầy, trò với trò, thân thiện giữa thầy với trò, giữa nhà trường và cộng đồng
theo nguyên lý: " Giáo dục nhà trường gắn liền với giáo dục gia đình và xã hội".
- Đội ngũ nhà giáo thiếu về số lượng và nhìn chung thấp về chất lượng, chưa
đáp ứng được yêu cầu vừa phải tăng nhanh quy mô vừa phải đảm bảo và nâng cao
chất lượng, hiệu quả giáo dục.
- Ở các trường PT, số giáo viên có trình độ thạc sỹ còn quá ít. Tình trạng trình
độ chuyên môn và nghiệp vụ của bộ phận giáo viên chưa đáp ứng được yêu cầu
nâng cao chất lượng.
* Khó khăn về nội dung kiến thức
- Chương trình giáo dục còn mang nặng tính hàn lâm, kinh viện, nặng về thi
cử, chưa chú trọng đến tính sáng tạo, năng lực thực hành.
- Nội dung kiến thức chưa gắn với nhu cầu thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội,
nhu cầu người học.
- Chương trình, phương pháp giáo dục chậm đổi mới, chậm hiện đại hóa.
SVTH: Nguyễn Thị Song Hải
9
Khóa luận tốt nghiệp 2007-2011 GVHD: Th.S Nguyễn Tương Tri
- Một số bài do nội dung kiến thức dài nên việc tổ chức nhiều hoạt động sẽ dấn
SVTH: Nguyễn Thị Song Hải
10
Khóa luận tốt nghiệp 2007-2011 GVHD: Th.S Nguyễn Tương Tri
nhất khi giảng dạy lý thuyết cũng như hướng dẫn thực hành cho học sinh. Thông tin
trong các tài liệu giáo khoa chỉ mang tính pháp lý về kiến thức môn học chứ không
áp đặt qui trình thao tác trên máy tính. Với mỗi bài học cụ thể, tùy vào các điều kiện
thực tế mà giáo viên có thể hoàn toàn chủ động trong việc trình bày khái niệm,
minh họa thao tác trên máy tính sao cho dễ hiểu nhất đối với học sinh.
- Trong hoàn cảnh thực tế của nhà trường Việt Nam rất khó để có được một
mô hình lý tưởng về điều kiện thực hành trên máy tính.
* Những khó khăn trong kiểm tra và đánh giá
- Theo Phó GS TS Trần Kiều, một trong những điểm yếu kém nhất của hệ
thống giáo dục nước ta là đánh giá năng lực của người học. Để đánh giá học sinh,
giáo viên gần như chỉ dùng một phương pháp: ra đề kiểm tra.
- Với đa số giáo viên, việc ra đề kiểm tra cho học sinh chỉ đơn giản là có điểm
số ghi vào sổ điểm. Nhưng theo xu thế quốc tế hiện nay, ra đề kiểm tra chỉ là một
trong những phương pháp đánh giá mà thông qua đó chất lượng hoạt động dạy học
được nâng cao.
- Trước khi là giáo viên, họ đều đã được đào tạo cơ bản ở các trường ĐH, CĐ
Sư phạm. Hiện nay, phần lớn trong số họ đang tham gia quản lý.
Vậy nhưng, lần đầu họ được biết những điều đại loại như, một đề thi phải đạt
được những tiêu chí nào mới đảm bảo căn cứ khoa học, ý nghĩa của điểm số…
- Theo Phó giáo sư Tiến sĩ Trần Kiều, một trong những điểm yếu kém nhất của
hệ thống giáo dục nước ta là đánh giá các loại năng lực của người học. Từ mấy chục
năm nay, quan niệm, hiểu biết, cách làm đánh giá của cán bộ quản lý giáo dục cũng
như các giáo viên ít thay đổi, còn thiên về kinh nghiệm.
- Để đánh giá học sinh, giáo viên gần như chỉ dùng một phương pháp: ra đề
kiểm tra. Đã vậy, cách ra đề kiểm tra còn phiến diện, đơn điệu, thiếu cơ sở khoa
học. Kết quả đánh giá còn nhiều sai số hệ thống.
- Kiểm tra không chỉ là để cho điểm.
- Đầu tư cho giáo dục và đào tạo được coi là quốc sách của nhiều quốc gia trên
thế giới cũng như tại Việt Nam. Tuy nhiên, mỗi nước tuỳ theo điều kiện và đặc
điểm của mình có hình thức đầu tư khác nhau. Ở một số nước ngân sách quốc gia
đầu tư trực tiếp cho giáo dục phổ thông, giáo dục đại học, hỗ trợ trực tiếp cho các
trường đại học, hay hỗ trợ trực tiếp cho người đi học.
SVTH: Nguyễn Thị Song Hải
12
Khóa luận tốt nghiệp 2007-2011 GVHD: Th.S Nguyễn Tương Tri
- Do khó khăn về tài chính, chính sách, hạ tầng cơ sở… nên chất lượng dạy tin
học còn bất cập, việc xây dựng và thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng giáo viên
còn lúng túng.
- Ở một số trường, điều kiện học tập của học sinh là hết sức khó khăn, hầu hết
học sinh không có góc học tập riêng, sách giáo khoa phụ thuộc vào việc cấp phát
của Nhà trường, không có các phương tiện bỗ trợ như sách tham khảo, máy tính
cho học tập.
- Nhìn chung, cơ sở vật chất của nhà trường còn nhiều thiếu thốn, thư viện
trang thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập còn thiếu và lạc hậu.
1.2. Cơ sở lý luận về biện pháp
1.2.1. Những biện pháp tổ chức dạy học hiệu quả ở nhà trường PT
- Đưa tri thức và công nghệ đến với vùng sâu.
- Đưa internet vào trường học là một trong những chương trình lớn của Bộ
GD&ĐT được triển khai từ năm 2008, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho công tác
quản lý, truy cập thông tin phục vụ dạy và học.
- Cần đầu tư cơ sở vật chất.
- Giáo viên xây dựng kế hoạch giảng dạy bộ môn, kế hoạch bài học cụ thể, chi
tiết, bám chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình bộ môn.
- Tùy từng nội dung, từng đơn vị kiến thức giáo viên có thể chọn các hình thức
tổ chức dạy học cho phù hợp nhằm khai thác có hiệu quả nội dung bài học.
- Trong một giờ học, tùy vào các bài cụ thể giáo viên có thể chọn một hình
thức tổ chức mang tính chất chủ đạo nhưng ít nhất phải sử dụng từ hai hình thức trở
gia đình và với mọi người.
- Đối với học sinh THPT, đây là lứa tuổi có nhiều thay đổi về mặt tâm sinh lý,
thích tìm tòi, học hỏi cái mới, điều lạ. Có bạn chưa phân biệt được cái gí tốt, cái gì
xấu, điều gì nên làm, điều gì không nên làm, nên đôi khi còn lẫn lộn. Do đó thầy, cô
giáo không chỉ là người "lái chuyến đò tri thức cập bến bờ tương lai" mà còn có thể
"lái con đò lạc lối cập bến hoàn lương". Thầy, cô sẽ dẫn dắt chúng em vượt qua
những khó khăn, thử thách để giúp chúng em nhận thức sâu sắc về những việc phải
làm đối với cuộc sống của bản thân và của mọi người.
- Giáo dục học sinh, tự phân tích tổng hợp và giải quyết tình huống cụ thể,
luôn tạo điều kiện, động viên các em tham gia các hoạt động của đoàn với những
sân chơi bổ ích: câu lạc bộ toán học, văn học, tiếng anh Tổ chức các chuyến về
SVTH: Nguyễn Thị Song Hải
14
Khóa luận tốt nghiệp 2007-2011 GVHD: Th.S Nguyễn Tương Tri
nguồn thực tế ở địa phương để học sinh có thêm kiến thức về vốn sống, giáo dục
tình yêu quê hương đất nước.
- Ngoài giờ lên lớp giáo viên cần tranh thủ thời gian tìm hiểu học sinh để kịp
thời chia sẻ, giúp đỡ, động viên các em vượt qua khó khăn, lắng nghe tâm tư,
nguyện vọng của các em Trong quá trình tìm hiểu thầy, cô phải chân thành, chủ
động xóa bỏ khoảng cách giữa thầy với trò, luôn lựa chọn những ngôn ngứ thích
hợp bổ ích nhằm giáo dục học sinh có thêm kiến thức trong đời sống.
- Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh: Trong
phương pháp tổ chức, người học - đối tượng của hoạt động “dạy”, đồng thời là chủ
thể của hoạt động “học” - được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ
chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứ không
phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp đặt. Được đặt vào những
tình huống của đời sống thực tế, người học trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí
nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó nắm được kiến
thức kĩ năng mới, vừa nắm được phương pháp “làm ra” kiến thức, kĩ năng đó, không
rập theo những khuôn mẫu sẵn có, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo.
bắt một số khái niệm khá trừu tượng mà muốn HS hiểu rõ các khái niệm này chúng
ta cần bám vào các ví dụ cụ thể có ở chương 2. Để thực hiện được PPDH dự án đối
với chương trình Tin học 12, chúng ta cần xây dựng một hệ thống quản lý thực và
gần gũi đối với học sinh như Quản lý điểm của học sinh, Quản lý sách thư viện,
- Đổi mới PPDH phải gắn với khai thác các phương tiện DH: Việc đổi mới
PPDH cần được quan tâm khai thác và phát huy tối đa các chức năng của các PTDH
hiện có để góp phần tăng hiệu quả quá trình dạy học. Trong dạy học Tin học, việc
khai thác các PTDH là một yêu cầu bắt buộc (trong điều kiện hiện có của nhà
trường), đòi hỏi mỗi giáo viên phải biết và thực hiện được một tiết giảng với những
trang thiết bị hỗ trợ, cụ thể như: Máy tính, Máy chiếu Projector, máy chiếu
Overhead, Mạng máy tính, Hệ thống HiClass/HiShare và hệ thống các phần mềm
điều khiển, mô phỏng như NetOpSchool, PowerPoint, Flash, Adobe Presenter,
LectureMaker, Acrobat, MindMap,
Phương tiện, thiết bị dạy học là điều kiện không thể thiếu được cho việc triển
khai chương trình, sách giáo khoa nói chung và đặc biệt cho việc triển khai đổi mới
phương pháp dạy học hướng vào hoạt động tích cực, chủ động của học sinh. Đáp
ứng yêu cầu này phương tiện thiết bị dạy học phải tạo điều kiện thuận lợi cho học
sinh thực hiện các hoạt động độc lập hoặc các hoạt động nhóm.
SVTH: Nguyễn Thị Song Hải
16
Khóa luận tốt nghiệp 2007-2011 GVHD: Th.S Nguyễn Tương Tri
- Cơ sở vật chất của nhà trường cũng cần hỗ trợ đắc lực cho việc tổ chức dạy
học được thay đổi dễ dàng, linh hoạt, phù hợp với dạy học cá thể, dạy học hợp tác.
- Trong quá trình biên soạn sách giáo khoa, sách giáo viên, các tác giả đã chú ý
lựa chọn danh mục thiết bị và chuẩn bị các thiết bị dạy học theo một số yêu cầu để
có thể phát huy vai trò của thiết bị dạy học. Những yêu cầu này rất cần được các cán
bộ chỉ đạo quản lí quán triệt và phối hợp cùng triển khai trong phạm vi mình phụ
trách. Cụ thể như sau :
+ Đảm bảo tính đồng bộ, hệ thống và có chất lượng cao của thiết bị dạy
học, tạo điều kiện đẩy mạnh hoạt động của học sinh trên cơ sở tự giác, tự khám phá
- Blog có thể áp dụng trong giảng dạy một số môn học cần sự tương tác giữa
những người học và hoạt động nhóm trong và ngoài lớp ở tất cả các cấp học. Ở
những khu vực đã có Internet thì có thể khai thác blog phục vụ cho giảng dạy rất
dễ dàng.
- Học sinh rất cần có sự đánh giá từ nhiều đối tượng và nhiều góc độ khác nhau
để hiểu sâu hơn về cái đúng, cái sai trong bài làm của mình. Việc tranh luận với
thầy cô và bạn bè về bài viết của mình sẽ giúp học sinh rút kinh nghiệm để phát huy
khả năng tự học.
- Thời gian 45 phút trên lớp chỉ đủ để giáo viên truyền dạy những kiến thức
trọng tâm. Sử dụng blog có thể phát huy tính tích cực hoạt động hóa của học sinh.
Việc đăng kiến thức bài học lên blog và những yêu cầu cần chuẩn bị cho học sinh
trước giờ học sẽ giúp học sinh tích cực hơn, hoạt động nhiều hơn. Ở trên lớp giáo
viên sẽ khai thác được nhiều kiến thức hơn.
- Nhiều học sinh tự ti khi biết mình yếu kém thì sẽ không hỏi bài giáo viên trên
lớp, tuy nhiên những học sinh tự ti có thể trao đổi hỏi bài giáo viên một cách thoải
mái thông qua blog dưới một nickname nào đó.
- Trong quá trình giảng dạy, xuất hiện một vấn đề thảo luận, hoặc các kiến
thức bên ngoài mà thời gian bị giới hạn. Việc dùng blog sẽ mở rộng không gian và
thời gian đê học sinh và giáo viên có thể cùng nhau thảo luận, trao đổi, tranh cãi để
làm rõ vấn đề.
- Sử dụng blog có thể giúp giáo viên nhận được những phản hồi từ học sinh, từ
đó giáo viên có thể điều chỉnh phương pháp dạy học của mình cho thích hợp, nâng
cao chất lượng dạy học.
SVTH: Nguyễn Thị Song Hải
18
Khóa luận tốt nghiệp 2007-2011 GVHD: Th.S Nguyễn Tương Tri
1.3.2.2. Hạn chế
- Việc tạo ra blog dạy học đòi hỏi giáo viên phải có thời gian để có thể đưa các
bài giảng, tài liệu lên blog để học sinh tham khảo, trao đổi, thảo luận.
- Sử dụng blog hỗ trợ dạy học cũng gặp khó khăn nếu như nhiều học sinh
tỏ ý kiến độc lập của mình. Nhờ vậy mà giáo viên có thể dựa vào đặc điểm này để đặt
ra những tình huống có vấn đề trong dạy học, hướng dẫn và kích thích các em độc lập
suy nghĩ để giải quyết các vấn đề liên quan đến thực tiễn. Đây là một trong những
điều kiện thuận lợi nhằm rèn luyện kỹ năng thực hành cho học sinh.
Tóm lại: Đặc điểm tâm sinh lý và nhận thức của học sinh lớp 12 đã có những
biến đổi mạnh mẽ so với học sinh các lớp dưới; năng lực quan sát sâu sắc, nhạy bẹn
hơn, khả năng tư duy trìu tượng cao hơn, đặc biệt là khả năng phân tích tổng hợp,
so sánh, trìu tượng hóa, khái quát hóa, học sinh rất năng động, sáng tạo… đặc điểm
này rất thuận lợi để giáo viên vận dụng các phương pháp dạy học theo hướng tích
cực nhằm rèn luyện có hiệu quả các kỹ năng cho học sinh.
SVTH: Nguyễn Thị Song Hải
20
Khóa luận tốt nghiệp 2007-2011 GVHD: Th.S Nguyễn Tương Tri
CHƯƠNG 2
MỘT SỐ KHÓ KHĂN CỦA HỌC SINH VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP TỔ
CHỨC DẠY HỌC HIỆU QUẢ CHƯƠNG TRÌNH TIN HỌC LỚP 12
2.1. Giới thiệu sách giáo khoa Tin học 12
2.1.1. Các định hướng chính
SGK đã bám sát mục tiêu đề ra, bảo đảm đúng, đủ các yêu cầu, nội dung cần
chuyển tải. Do thời lượng được điều chỉnh tăng và qua thời gian thí điểm, SGK Tin
học 12 đã có một số bổ sung sửa đổi theo hướng:
- SGK sẽ được sử dụng tương đối lâu dài;
- Thuận tiện cho việc cập nhật kiến thức công nghệ mới;
- Tiếp thu các kinh nghiệm, đánh giá, góp ý qua việc sử dụng SGK thí điểm,
chú trọng cách trình bày phù hợp hơn với đối tượng học sinh phổ thông;
- Giảm tải, tăng cường rèn luyện kĩ năng bằng cách tăng thêm bài tập và thực
hành, bổ sung giờ bài tập trên lớp;
- Liên thông với SGK Tin học 10 và Tin học 11.
2.1.2. Cấu trúc và nội dung
Các nội dung
biểu). Trong phụ lục 3 có rất nhiều hình để tham khảo thêm đồng thời
giáo viên có thể sử dụng để xây dựng sẵn các bảng biểu như là đồ dùng
dạy học, nhất là đối với những trường còn thiếu máy tính, máy chiếu để
trình bày bài giảng.
2.2. Chuẩn chương trình Tin học lớp 12
2.2.1. Mục tiêu
Mục tiêu chung của Tin học 12:
Về kiến thức
Cung cấp cho học sinh các kiến thức ban đầu về:
- Hệ cơ sở dữ liệu
- Hệ quản trị cơ sở dữ liệu ( HQTCSDL ) quan hệ.
- Kiến trúc hệ CSDL và bảo mật hệ CSDL.
SVTH: Nguyễn Thị Song Hải
22
Khóa luận tốt nghiệp 2007-2011 GVHD: Th.S Nguyễn Tương Tri
Về kĩ năng
Rèn luyện cho học sinh bước đầu có kĩ năng làm việc với một hệ QTCSDL
quan hệ cụ thể.
Về thái độ
Có ý thức bảo mật thông tin và sử dụng máy tính để khai thác thông tin, phục
vụ công việc hàng ngày.
2.2.2. Chương trình và chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ
SGK được biên soạn dựa trên chuẩn chương trình ban hành kèm theo Quyết
định số 16/2006/QĐ-BGD&ĐT ngày 05 tháng 05 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo
dục và Đào tạo.
Chủ đề Mức độ cần đạt Ghi chú
Khái niệm cơ sở dữ liệu và hệ quản trị cơ sở dữ liệu
1. Khái niệm
cơ sở dữ liệu
Kiến thức
Tạo lập bảng, thiết lập mối liên kết giữa
các bảng, cập nhật và kết xuất thông tin.
- Biết bốn đối tượng chính: bảng, mẫu hỏi,
biểu mẫu và báo cáo.
- Biết hai chế độ làm việc: Chế độ thiết kế
(làm việc với cấu trúc) và chế độ làm việc
với dữ liệu.
Kĩ năng
Thực hiện được khởi động và ra khỏi
Access, tạo CSDL mới, mở CSDL đã có.
Cần xây dựng các bài
thực hành và tổ chức
thực hiện tại phòng
máy để học sinh đạt
được những kĩ năng
theo yêu cầu.
2. Cấu trúc
bảng
Kiến thức
- Hiểu các khái niệm chính trong cấu trúc
dữ liệu bảng:
+ Cột (Thuộc tính): tên, miền giá trị.
+ Hàng (Bản ghi): bộ các giá trị của
thuộc tính.
+ Khóa.
- Biết tạo và sửa cấu trúc bảng.
- Hiểu việc tạo liên kết giữa các bảng.
Kĩ năng
- Thực hiện được tạo và sửa cấu trúc bảng,
nạp dữ liệu vào bảng, cập nhật dữ liệu.
tìm kiếm đơn giản, tạo biểu mẫu bằng
thuật sĩ, định dạng và in trực tiếp.
này.
- Sử dụng thích hợp
hai chế độ: Tự thiết
kế và dùng thuật sĩ.
4. Truy xuất dữ
liệu
Kiến thức
- Biết khái niệm và vai trò của mẫu hỏi.
- Biết các bước chính để tạo ra một mẫu
hỏi.
Kĩ năng
- Viết đúng biểu thức điều kiện đơn giản.
- Tạo được mẫu hỏi đơn giản.
Cần xây dựng các bài
thực hành và tổ chức
thực hiện tại phòng
máy để HS đạt được
những kĩ năng theo
yêu cầu.
5. Báo cáo
Kiến thức
- Biết khái niệm báo cáo và vai trò của nó.
- Biết các bước lập báo cáo.
Kĩ năng
- Tạo được báo cáo bằng thuật sĩ.
- Thực hiện được lưu trữ và in báo cáo.
Cần xây dựng các bài
thực hành và tổ chức