GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG CỤ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM - Pdf 26

ĐỀ ÁN MÔN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
Giáo viên hướng dẫn: Ths. Đoàn Phương Thảo
ĐỀ ÁN MÔN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
Đề tài:
“GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG CỤ CHÍNH SÁCH
TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM”
Sinh viên thực hiện: Trịnh Chiêu Minh
Mã sinh viên: BH191527
Trịnh Chiêu Minh - BH191527
1
ĐỀ ÁN MÔN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
MỤC LỤC
LỜI GIỚI THIỆU 3
Chương 1: Chính sách tiền tệ và các công cụ của chính sách tiền tệ 4
1.1. Chính sách tiền tệ 4
1.2. Các mục tiêu của chính sách tiền tệ 5
1.3. Công cụ của chính sách tiền tệ 9
1.3.1. Công cụ tái cấp vốn 9
1.3.2. Công cụ dự trữ bắt buộc 10
1.3.3. Công cụ nghiệp vụ thị trường mở 11
1.3.4. Công cụ hạn mức tín dụng 12
1.3.5. Công cụ lãi suất 14
1.3.6. Công cụ tỷ giá 15
Chương 2: Thực trạng sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam 16
2.1. Những đổi mới về điều hành chính sách tiền tệ từ năm 1986 đến nay 16
2.2. Thực trạng sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước 18
2.2.1. Công cụ tái cấp vốn 20
2.2.2. Công cụ dự trữ bắt buộc 21
2.2.3. Công cụ nghiệp vụ thị trường mở 22
2.2.4. Công cụ hạn mức tín dụng 23

Chính sách tiền tệ là một chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô cực kỳ quan trọng của
nhà nước trong nền kinh tế thị trường vì nó ảnh hưởng lớn đến các biến số vĩ mô như:
công ăn việc làm, tốc độ tăng trưởng, lạm phát… Để đạt được các mục tiêu của chính
sách tiền tệ thì việc sử dụng các công cụ của nó có vai trò cơ bản, quyết định.
Đối với nước ta, ngay từ khi chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập
trung sang cơ chế thị trường, Đảng và Nhà nước đã nhận thức được vai trò của chính sách
tiền tệ trong phát triển kinh tế. Vì vậy ngay từ những ngày đầu Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam đã chú trọng trong việc xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ sao cho phù hợp
với nền kinh tế. Việt Nam đã thu được những kết quả đáng khích lệ như đẩy lùi lạm phát,
tạo công ăn việc làm, nâng cao mức sống của người dân góp phần không nhỏ vào sự
phát triển kinh tế của đất nước.
Tuy vậy nền kinh tế thị trường luôn biến động nên các mục tiêu của chính sách tiền
tề cũng phải luôn biến đổi theo cho phù hợp với các giai đoạn phát triển của đất nước.
Việc xây dựng một chính sách tiền tệ linh hoạt là cần thiết cho sự phát triển kinh tế.
Nhưng trên thực tế chính sách tiền tệ của nước ta sau một thời gian dài thực thi vẫn còn
bộc lộ nhiều thiếu sót và hạn chế. Việc tìm ra những thiếu sót và hạn chế đó để khắc phục
và xây dựng hoàn thiện chính sách tiền tệ là điều quan trọng nhất cần phải làm.
Với mục đích trau dồi kiến thức đã học và góp phần nghiên cứu, tìm hiểu về chính
sách tiền tệ, em quyết định chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả công cụ chính
sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam”. Em xin chân thành cảm ơn sự hướng
dẫn, chỉ bảo tận tình của Thạc sỹ Đoàn Phương Thảo đã giúp em hoàn thành đề án này.
Vì sự hiểu biết còn hạn chế, em rất mong nhận được sự góp ý và chỉ bảo của cô giáo và
bạn đọc.
Một lần nữa, xin chân thành cảm ơn!
Trịnh Chiêu Minh - BH191527
3
ĐỀ ÁN MÔN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
Chương 1
CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ CÁC CÔNG CỤ CỦA CHÍNH SÁCH TIỂN TỆ
1.1. Chính sách tiền tệ

ngoại…
Ngân hàng Trung ương sử dụng chính sách tiền tệ nhằm gây ra sự mở rộng hay
thắt chặt lại trong việc cung ứng tiền tệ, để ổn định giá trị đồng bản tệ, đưa sản lượng và
việc làm của quốc gia đến mức mong muốn.
Trong một quãng thời gian nhất định nào đó, chính sách tiền tệ của một quốc gia
có thể được hoạch định theo một trong hai hướng sau đây:
- Chính sách tiền tệ mở rộng nhằm tăng lượng tiền cung ứng, khuyến khích đầu tư,
mở rộng sản xuất kinh doanh, tạo việc làm. Trong trường hợp này, chính sách tiền tệ
nhằm chống suy thoái kinh tế, chống thất nghiệp.
- Chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm giảm lượng tiền cung ứng, hạn chế đầu tư, kìm
hãm sự phát triển quá đà của nền kinh tế. Trường hợp này, chính sách tiền tệ nhằm chống
lạm phát.
Chính sách tiền tệ là hoạt động cơ bản, chủ yếu nhất của Ngân hàng Trung ương.
Có thể coi chính sách tiền tệ là linh hồn, xuyên suốt trong mọi hoạt động của Ngân hàng
Trung ương. Các hoạt động khác của Ngân hàng Trung ương đều nhằm thực thi chính
sách tiền tệ đạt được các mục tiêu của nó.
1.2. Các mục tiêu của chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ cũng như mọi chính sách kinh tế vĩ mô khác đều có mục tiêu
riêng của nó, đó là mục tiêu: ổn định giá cả, ổn định lãi suất, ổn định hệ thống tài chính,
thị trường ngoại hối, tăng trưởng kinh tế
Mỗi quốc gia đều có chính sách tiền tệ riêng, phù hợp với nền kinh tế đặc thù của
mình. Nhưng các chính sách tiền tệ đều hướng vào những mục tiêu chủ yếu giống nhau.
Tuy nhiên tuỳ từng giai đoạn khác nhau và tuỳ điều kiện thực tế của nền kinh tế để lựa
chọn mục tiêu trọng tâm.
* Kiểm soát lạm phát, ổn định giá trị đồng bản tệ
Các nhà kinh tế học cho rằng, lạm phát là căn bệnh kinh niên của nền sản xuất
hàng hoá, đặc biệt là nên sản xuất hàng hoá phát triển ở mức độ cao (nền kinh tế thị
trường).
Trịnh Chiêu Minh - BH191527
5

Trịnh Chiêu Minh - BH191527
6
ĐỀ ÁN MÔN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
tế được mở rộng, sẽ có tác dụng chống suy thoái, nhất là suy thoái chu kỳ, để đạt được
mức tăng trưởng ổn định.
Nhìn tổng quát, giữa các mục tiêu vĩ mô: lạm phát, tăng trưởng kinh tế và việc làm
có mâu thuẫn đối nghịch nhau, đó là:
Khi kiềm chế được lạm phát thì có nguy cơ tăng trưởng kinh tế giảm, dễ đẫn đến
suy thoái và thất nghiệp.
Ngược lại, khi mở rộng đầu tư, khắc phục suy thoái kinh tế, tạo việc làm và
khuyến khích tăng trưởng kinh tế thì lại khó kiềm chế được lạm phát.
Rõ ràng công ăn việc làm cao là điều ai cũng mong muốn. Thông qua chính sách
tiền tệ có thể tác động đến công ăn việc làm, tức đến tỷ lệ thất nghiệp trong nền kinh tế.
Nếu chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương nhằm mở rộng cung ứng tiền tệ thì tạo
điều kiện mở rộng đầu tư sản xuất, các doanh nghiệp và nền kinh tế cần nhiều lao động
hơn, công ăn việc làm cao, tỷ lệ thất nghiệp thấp. Ngược lại, cung ứng tiền tệ giảm xuống
sẽ thu hẹp các hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp và Nhà nước cần ít lao
động hơn, công ăn việc làm giảm, tỷ lệ thất nghiệp tăng.
Tuy nhiên, theo đuổi mục tiêu công ăn việc làm cao không đồng nghĩa với tỷ lệ
thất nghiệp bằng không, mà ở mức tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên. Bởi lẽ, trong thực tế có một
số người thất nghiệp là có lợi cho nền kinh tế. Đó là khi người lao động quyết định đi tìm
một công việc khác tốt hơn, phù hợp hơn, thì người lao động đó bị thất nghiệp trong thời
gian đang tìm việc làm. Hoặc một số người lao động tự nguyện rời bỏ công việc của mình
để theo đuổi các hoạt động khác như học tập, du lịch… và khi họ quyết định gia nhập trở
lại thị trường lao động, họ phải mất một thời gian để tìm đúng công việc mà họ mong
muốn. Mặt khác, thông thường để có một tỷ lệ công ăn việc làm cao thì phải chấp nhận
một tỷ lệ lạm phát gia tăng nhất định nào đó. Hai mục tiêu này luôn triệt tiêu nhau trong
quá trình thực thi chính sách tiền tệ.
* Tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là mục tiêu vĩ mô của bất kỳ một quốc gia nào. Tuy nhiên thực

thể chuyển nền kinh tế sang giai đoạn phục hưng, rồi từ phục hưng lại có khả năng
chuyển qua giai đoạn tăng trưởng mạnh…
Vấn đề đặt ra là đối với từng giai đoạn cụ thể, chính sách tiền tệ phải tìm giải pháp
để vừa có thể đạt được mục tiêu trọng tâm, vừa dung hoà được các mục tiêu trên.
Mối quan hệ giữa các mục tiêu, có mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ nhau không tách
rời. Nhưng xem xét trong thời gian ngắn hạn thì các mục tiêu này có thể mâu thuẫn với
Trịnh Chiêu Minh - BH191527
8
ĐỀ ÁN MÔN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
nhau thậm chí triệt tiêu lẫn nhau. Vậy để đạt được các mục tiêu trên một cách hài hoà thì
Ngân hàng Trung ương trong khi thực hiện chính sách tiền tệ cần phải có sự phối hợp với
các chính sách kinh tế vĩ mô khác.
Chính vì vậy, nghiên cứu chính sách tiền tệ và những công cụ của nó để hướng tới
mục tiêu nào trong nền kinh tế hiện nay là vấn đề cần được quan tâm, chúng ta đã nghiên
cứu chính sách tiền tệ và những mục tiêu chính sách tiền tệ. Vậy hoạt động của các công
cụ chính sách tiền tệ đó như thế nào để dẫn tới những mục tiêu phù hợp với tình hình của
mỗi quốc gia. Ngày nay hoạt động của các công cụ đó như thế nào, thực trạng của việc
vận dụng các công cụ của chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong
thời gian qua và các giải pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng công cụ đó. Chúng ta sẽ
nghiên cứu ở các chương tiếp theo.
1.3. Công cụ của chính sách tiền tệ
Trên cơ sở dự án chính sách tiền tệ đã được phê chuẩn và điều kiện thực tiễn của
nền kinh tế, Ngân hàng Trung ương sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ để điều
tiết lượng tiền cung ứng. Nghĩa là, Ngân hàng Trung ương sẽ thực hiện việc đưa tiền vào
lưu thông là thiếu hụt hay dư thừa. Các công cụ mà Ngân hàng Trung ương thường sử
dụng là: Tái cấp vốn; Dự trữ bắt buộc; Nghiệp vụ thị trường mở; Hạn mức tín dụng; Lãi
suất và Tỷ giá.
1.3.1. Công cụ tái cấp vốn
Tái cấp vốn là hình thức cấp tín dụng của Ngân hàng Trung ương đối với các tổ
chức tín dụng. Khi cấp một khoản tín dụng cho tổ chức tín dụng, một mặt, Ngân hàng

Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là tỷ lệ giữa số lượng phương tiện thanh toán cần vô hiệu hoá
trên tổng số tiền gửi huy động, nhằm điều chỉnh khả năng thanh toán (cho vay) của các tổ
chức tín dụng. Nếu khả năng thanh toán quá lớn (tổ chức tín dụng đang dư thừa tiền) thì
việc tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc nhằm giảm quy mô tín dụng từ đó giảm khối lượng tiền tệ.
Ngược lại, nếu khả năng thanh toán thấp thì giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc nhằm tăng khả
năng cho vay của các tổ chức tín dụng (bành trướng khối tiền tệ)
Ưu điểm:
Tác động đầy quyền lực đến lượng tiền cung ứng.
Tạo nên mối quan hệ máy móc giữa tạo tiền do tổ chức tín dụng thực hiện và nhu
cầu tái cấp vốn tại Ngân hàng Trung ương.
Tăng cường quyền lực cho Ngân hàng Trung ương vì tuỳ theo mục đích của chích
sách tiền tệ và tuỳ theo mức vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng, Ngân hàng Trung
Trịnh Chiêu Minh - BH191527
10
ĐỀ ÁN MÔN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
ương có quyền điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc và các tổ chức tín dụng có trách nhiệm
thực hiện.
Tôn trọng sự cạnh tranh giữa các tổ chức tín dụng vì nó áp dụng không phân biệt
mọi tổ chức tín dụng trong toàn hệ thống tài chính.
Đảm bảo khả năng thanh toán cho tổ chức tín dụng, giúp tổ chức tín dụng tránh
được rủi ro do mất khả năng thanh toán.
Nhược điểm:
Mặc dù có thể đạt những thay đổi trong cung ứng tiền tệ bằng những thay đổi nhỏ
trong dự trữ bắt buộc nhưng lại khá tốn kém về phí quản lý.
Việc tăng dự trữ bắt buộc có thể gây nên vấn đề khả năng thanh khoản ngay đối
với một tổ chức tín dụng có dự trữ vượt mức thấp.
Việc không ngừng thay đổi dự trữ bắt buộc cũng gây ra tình trạng kém ổn định cho
các tổ chức tín dụng và làm cho việc quản lý khả năng thanh khoản của những tổ chức tín
dụng đó khó khăn hơn.
1.3.3. Công cụ nghiệp vụ thị trường mở

- Việc thực hiện có thể được hoàn thành nhanh chóng, không gây nên những chậm
trễ về mặt hành chính. Khi muốn thay đổi cơ số tiền tệ hoặc dự trữ, Ngân hàng Trung
ương có thể quyết định và thực hiện ngay trong phiên giao dịch.
Nhược điểm:
Ngân hàng Trung ương có thể không đạt được mục tiêu đã đề ra do nghiệp vụ thị
trường mở chỉ thực sự hữu hiệu khi nền kinh tế đã phát triển rất cao, cơ chế thanh toán
không dùng tiền mặt đã phát triển.
1.3.4. Công cụ hạn mức tín dụng
Hạn mức tín dụng được sử dụng khống chế tổng dự nợ tín dụng, qua đó khống chế
tổng lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế. Do vậy có chế tác động của nó mang tính áp
đặt đối với hệ thống tài chính.
Qua sử dụng hạn mức tín dụng, Ngân hàng Trung ương nhằm điều chỉnh khả năng
tạo tiền của các tổ chức tín dụng phù hợp với trình độ phát triển của nền kinh tế. Tránh
tình trạng tổng khối lượng tiền tăng quá mức trong lưu thông, Ngân hàng Trung ương quy
định hạn mức tín dụng tối đa cho từng tổ chức tín dụng. Trong phần lớn các trường hợp
những hạn mức riêng được xác định căn cứ vào tỷ trọng cho vay của nó trong quá khứ so
Trịnh Chiêu Minh - BH191527
12
ĐỀ ÁN MÔN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
với tổng mức cho vay của hệ thống tài chính, tổ chức tín dụng chỉ được cấp tín dụng cho
nền kinh tế tối đa bằng hạn mức tín dụng quy định. Lúc này, Ngân hàng Trung ương phải
theo dõi hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng, nếu tổ chức tín dụng cho vay vượt
quá hạn mức tín dụng quy định sẽ bị xử phạt.
Ưu điểm:
Hạn mức tín dụng là một công cụ trực tiếp điều tiết lượng tiền trong lưu thông.
Bằng việc quy định hạn mức tín dụng, Ngân hàng Trung ương có thể kiểm soát khá chặt
chẽ tổng lượng tiền cung ứng. Công cụ này thực sự phát huy hiệu quả khi tổng phương
tiện thanh toán trong nền kinh tế tăng cao. Khi đó, nó được Ngân hàng Trung ương sử
dụng nếu các công cụ gián tiếp khác tỏ ra kém hiệu quả.
Nhược điểm:

Khi sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương (nghiệp vụ
thị trường mở, tái cấp vốn, dự trữ bắt buộc, hạn mức tín dụng) đề có tác động đến lãi suất
cho vay của các tổ chức tín dụng đối với nền kinh tế. Trong đó, đặc biệt là lãi suất chiết
khấu của Ngân hàng Trung ương tác động mạnh đến lãi suất cho vay của các tổ chức tín
dụng. Song khi các công cụ trên đây hoạt động chưa có hiệu quả, thì Ngân hàng Trung
ương có thể trực tiếp quy định khung lãi suất hoặc trần lãi suất cho vay của các tổ chức tín
dụng. Để tránh rủi ro, bảo vệ quyền lợi của các tổ chức tín dụng, Ngân hàng Trung ương
thường quy định mức lãi suất “sàn” tối đa cho tiền gửi và lải suất “trần” tối thiểu cho
tiền vay. Nếu nhằm bảo đảm quyền lợi cho khách hàng của tổ chức tín dụng, thì Ngân
hàng Trung ương thường quy định ngược lạị: mức lãi suất tối thiểu cho tiền gửi và mức
tối đa cho tiền vay. Ngân hàng Trung ương muốn kiểm soát được lãi suất, bời vì lãi suất
có tác động mạnh đến tiết kiệm và đầu tư, qua đó tác động vào tăng trưởng kinh tế và giá
cả.
Tuy nhiên, kiểm soát lãi suất của các tổ chức tín dụng sẽ triệt tiêu cạnh tranh trong
quá trình hoạt động của nó. Hiện nay, các nước phát triển đã và đang chuyển sang qúa
trình tự do hoá lãi suất.
Ưu điểm:
Biện pháp này có ưu điểm là giúp các tổ chức tín dụng lựa chọn dự án kinh tế tối
ưu để cho vay, loại bỏ các dự án kém hiệu quả.
Trịnh Chiêu Minh - BH191527
14
ĐỀ ÁN MÔN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
Nhược điểm:
Tuy nhiên quy định khung lãi suất tiền gửi hay quy định lãi suất trần và sàn làm
cho tính linh hoạt của thị trường tiền tệ bị suy giảm, các tổ chức tín dụng bị động trong
kinh doanh, hạn chế đầu tư.
Trong bối cảnh đó đòi hỏi phải có sự linh động hơn trong việc sử dụng công cụ của
chính sách tiền tệ và đòi hỏi có sự sáng tạo về công cụ tiền tệ để hoàn thành các mục tiêu
kinh tế.
1.3.6. Công cụ tỷ giá

2.1. Những đổi mới về điều hành chính sách tiền tệ từ năm 1986 đến nay
Để phù hợp với quá trình đổi mới nền kinh tế đất nước, đòi hỏi phải đổi mới việc
xây dựng chính sách tiền tệ. Trước hết việc xác định và lựa chọn mục tiêu điều hành
chính sách tiền tệ đã được thực hiện phù hợp với đường lối phát triển kinh tế xã hội của
Đảng và Nhà nước. Mục tiêu của chính sách tiền tệ đã hướng vào kiểm soát lạm phát, ổn
định giá trị đồng tiền để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đảm bảo sự ổn định hệ thống tài
chính. Thực tế cho thấy sự ổn định của hệ thống tài chính là điều kiện hàng đầu cho sự
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Mặt khác, nền kinh tế Việt Nam trước những năm
1990 đã nằm trong tình trạng lạm phát gia tăng với tốc độ phi mã. Đồng tiền Việt Nam
mất giá trầm trọng, nền kinh tế suy thoái. Thêm vào đó, sự đổ vỡ hàng loạt quỹ tín dụng
nhân dân đã làm giảm lòng tin của dân chúng vào hệ thống tài chính và giá trị của Việt
Nam đồng. Đó chính là lý do giải thích cho việc lựa chọn các mục tiêu trên của chính
sách tiền tệ. Đồng thời, chính việc lựa chọn mục tiêu cho việc điều hành chính sách tiền tệ
là bằng chứng cho sự hoà nhịp của hệ thống tài chính với tiến trình đổi mới đất nước.
Nhằm thực hiện các mục tiêu chính sách tiền tệ đã lựa chọn, một trong những
nhiệm vụ trọng tâm của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là quản lý và điều hành khối
lượng tiền cung ứng. Đối với Việt Nam, việc quản lý, vận hành cơ chế cung ứng tiền, điều
hành, kiểm soát tiền tệ đã được đổi mới từng bước theo nội dung và nguyên tắc hoàn toàn
khác với cơ chế kế hoạch hoá tập trung. Trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung, chỉ tiêu
phát hành tiền do Chính phủ quy định và thường xuyên được dùng bù đắp cho thâm hụt
chi tiêu của Chính phủ. Do đó tổng mức cung ứng tiền vượt quá tổng cầu trong nền kinh
tế dẫn đến vòng xoáy lạm phát gía - lương - tiền. Việc không kiểm soát chặt chẽ khối
lượng tiền cung ứng qua kênh tín dụng; chất lượng thanh toán không dùng tiền mặt qua
ngân hàng thấp làm cho nhu cầu tiền mặt lớn, gây khó khăn cho Ngân hàng Nhà nước
trong việc điều hoà tiền mặt.
Từ năm 1990, Ngân hàng Nhà nước đã cải cách mạnh mẽ việc xây dựng và điều
hành chính sách tiền tệ. Đã xác định được khối lượng tiền cung ứng hàng năm phù hợp
Trịnh Chiêu Minh - BH191527
16
ĐỀ ÁN MÔN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ

Trịnh Chiêu Minh - BH191527
17
ĐỀ ÁN MÔN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
hơn nữa để sử dụng chính sách tiền tệ là vấn đề sử dụng và thu hút nguồn vốn trong và
ngoài nước. Từ đó để hỗ trợ đầu tư, phát triển kinh tế Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
phải thực thi chính sách tiền tệ sao cho đảm bảo các nguồn tích luỹ, tiết kiệm nguồn vốn
nhàn rỗi khác trong nền kinh tế được khai thác, huy động tối đa và sử dụng có hiệu quả
mọi nguồn vốn. Chiến lược huy động vốn được phát động mạnh mẽ liên tục trong suốt
thời kỳ 1993 -1997. Phương châm là hạn chế, giảm thiểu dần cung ứng tiền cơ bản qua
kênh tín dụng, buộc các tổ chức tín dụng phải đi vay để cho vay làm tốt vai trò trung gian
tài chính của nền kinh tế. Các hình thức huy động vốn cũng được đa dạng hoá, có cơ cấu
hợp lý nhằm đáp ứng yêu cầu đầu tư trung và dài hạn. Mặt khác, Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam cũng chính thức khai thông quan hệ với các tổ chức tài chính tiền tệ khác trên
thế giới như IMF, WB, ADB Qua đó tranh thủ được sự giúp đỡ về mặt tổ chức, điều
hành của các tổ chức này. Kể từ cuối năm 1993 khi Ngân hàng Nhà nước tổ chức hình
thành thị trường nội tệ liên ngân hàng và sau đó gần một năm là thị trường ngoại tệ liên
ngân hàng. Ngân hàng Nhà nước con phối hợp với hệ thống tài chính đến tháng 6 năm
1995, Ngân hàng Nhà nước chính thức tổ chức bán đấu giá tín phiếu kho bạc tạo nên công
cụ huy động vốn mới trên thị trường tiền tệ, góp phần lành mạnh hoá ngân sách. Ngân
hàng Nhà nước còn mở rộng đối tượng cho vay sang nhiều thành phần kinh tế khác trong
nền kinh tế làm cho nền kinh tế có sự phát triển đồng đều. Bên cạnh việc cung ứng tiền tệ
cho nền kinh tế thông qua con đường tín dụng, hàng năm Ngân hàng Nhà nước còn phải
bổ sung phần tiền cung ứng khi chuyển đổi ngoại tệ ròng kết dư nhằm phục vụ mục tiêu
ổn định sức mua đối với đồng tiền Việt Nam.
Như vậy, chính sách tiền tệ và đặc biệt là các công cụ của chính sách tiền tệ đã góp
phần rất quan trọng vào công cuộc đổi mới kinh tế ở nước ta. Nó góp phần tạo ra các định
hướng làm ổn định công ăn việc làm, chống lạm phát, ổn định tỷ giá từ đó làm cho nền
kinh tế phát triển.
2.2. Thực trạng sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước
Trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay, chính sách tiền tệ của một quốc gia,

Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại. Trong đó, Ngân hàng Nhà nước là cơ
quan quản lý Nhà nước trên lĩnh vực tiền tệ - tín dụng - ngân hàng; trực thuộc Chính phủ.
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước có quyền chủ động hơn và chịu trách nhiệm trực tiếp
trong việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia.
Trịnh Chiêu Minh - BH191527
19
ĐỀ ÁN MÔN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang đi đúng hướng. Lãi
suất đã được thay đổi linh hoạt và kịp thời. Lãi suất của dự trữ bắt buộc cũng được thay
đổi linh hoạt. Tính thanh khoản của thị trường cũng được tăng lên thông qua việc Ngân
hàng Nhà nước mua lại trái phiếu đã phát hành.
Sự “chênh” giữa cung và cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối đã cản trở rất
nhiều đến sự vận hành thông suốt và việc mở rộng lĩnh vực ngoại thương một cách ổn
định. Ngân hàng Nhà nước cần phải xem lại việc quản lý hệ thống tiền tệ hiện nay để duy
trì tính thông suốt trong các giao dịch hàng ngày.
2.2.1. Công cụ tái cấp vốn
Để nâng cao hiệu quả sử dụng của công cụ này, Ngân hàng Nhà nước đã từng bước
đổi mới theo hướng tỷ trọng tái cấp vốn theo hình thức thế chấp các chứng từ có giá tăng
dần, còn tỷ trọng tái cấp vốn theo mục tiêu chỉ định ngày càng giảm. Trên thực tế, bên
cạnh hai hình thức tái cấp vốn trên, Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện cho vay thanh toán
bù trừ, một hình thức tái cấp vốn ngắn hạn để bù đắp nhiều thiếu hụt thanh toán tạm thời
của các tổ chức tín dụng từ năm 1991. Với hình thức cho vay thế chấp chứng từ, chứng từ
thế chấp cũng được mở rộng. Từ ban đầu, chứng từ thế chấp chỉ bao gồm tín phiếu kho
bạc chưa đến hạn thanh toán, khế ước cho vay ngắn hạn (theo Quyết định số 285/QĐ-
NH14 ngày 10/11/1994 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước). Đến năm 1997, Ngân hàng
Nhà nước bổ sung thêm hình thức cho vay thế chấp bằng ngoại tệ trên tài khoản tiền gửi
của tổ chức tín dụng tại Ngân hàng Nhà nước. Hiện nay, theo quy định của luật Ngân
hàng Nhà nước, hoạt động tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước đối với các tổ chức tín
dụng gồm: cho vay theo hồ sơ tín dụng; chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các
giấy tờ có giá ngắn hạn khác; cho vay có bảo đảm cầm cố các giấy tờ có giá ngắn hạn.

Ngân hàng Nhà nước trong kỳ duy trì. Với cách tính dự trữ bắt buộc mới, các tổ chức tín
dụng có thể điều hành vốn linh hoạt hơn trước đây, đồng thời Ngân hàng Nhà nước có thể
dự đoán được nhu cầu dự trữ của các tổ chức tín dụng, tăng khả năng kiểm soát tiền tệ của
Ngân hàng Nhà nước. Đặc biệt, trong năm 2000 và 2001, công cụ dự trữ bắt buộc tiếp tục
được điều hành phù hợp với diễn biến tiền tệ và mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ,
quản lý ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước. Việc điều chỉnh tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối
với tiền gửi bằng ngoại tệ, đồng thời giảm dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng Việt Nam
đồng đã có tác dụng lớn trong việc điều hành lãi suất và tỷ giá, góp phần thu hẹp chênh
Trịnh Chiêu Minh - BH191527
21
ĐỀ ÁN MÔN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
lệch giữa lãi suất tiền gửi ngoại tệ và tiền gửi Việt Nam đồng, do đó hạn chế dòng chuyển
đổi từ Việt Nam đồng sang đô la Mỹ. Để phù hợp với diễn biến thị trường trong nước và
quốc tế, đặc biệt là xu hướng giảm mạnh lãi suất trên thị trường quốc tế tháng 12 năm
2001, Ngân hàng Nhà nước đã quyết định điều chỉnh giảm dự trữ bắt buộc đối với tiền
gửi bằng ngoại tệ xuống còn 10% năm nhằm tăng khả năng huy động ngoại tệ của các tổ
chức tín dụng.
Nhìn chung, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sử dụng công cụ dự trữ bắt buộc thực
sự chưa được sử dụng linh hoạt, nhạy bén nên đã hạn chế chức năng vốn có của nó. Khi
nghiên cứu về bản chất của dự trữ bắt buộc thì dự trữ bắt buộc là công cụ mang tính chất
hành chính của Ngân hàng Nhà nước nhằm điều tiết mức cung tiền tệ của tổ chức tín dụng
cho nền kinh tế, thông qua hệ số tạo tiền đối với lượng tín dụng của các tổ chức tín dụng
cung ứng cho nền kinh tế. Dự trữ bắt buộc là biện pháp kiểm soát cung ứng tiền tệ không
phải là cách để cho tiền ổn định.
2.2.3. Công cụ nghiệp vụ thị trường mở
Để đáp ứng yêu cầu đổi mới trong điều hành chính sách tiền tệ, sau một quá trình
chuẩn bị, ngày 12 tháng 7 năm 2000, Ngân hàng Nhà nước đã chính thức khai trương
nghiệp vụ thị trường mở. Đây là một bước tiến mới trong điều hành chính sách tiền tệ
theo hướng từ sử dụng các công cụ trực tiếp sang các công cụ gián tiếp để phù hợp với
thông lệ quốc tế và xu thế phát triển của nền kinh tế đất nước. Hiện nay, nghiệp vụ thị

nghiệp vụ thị trường mở, Ngân hàng Nhà nước đã sử dụng công cụ hạn mức tín dụng để
hạn chế hệ số nhân tiền tệ, qua đó kiểm soát sự gia tăng tổng phương tiện thanh toán.
Trên thực tế, việc áp dụng công cụ hạn mức tín dụng trong các năm từ 1994 đến 1997 đã
góp phần kiểm soát mức độ gia tăng tổng phương tiện thanh toán, góp phần kiềm chế lạm
phát. Tuy nhiên, hạn mức tín dụng chỉ được phân bổ đối với một số các ngân hàng thương
mại nên phần nào hạn chế tính công bằng trong cạnh tranh. Nhất là trong các năm từ 1998
đến nay, trong điều kiện nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển ở Việt Nam rất lớn, lạm phát
có xu hướng giảm thấp, việc áp dụng công cụ này phần nào ảnh hưởng đến việc đáp ứng
vốn cho nền kinh tế. Do đó từ quý II năm 1998, Ngân hàng Nhà nước đã quyết định
không sử dụng công cụ hạn mức tín dụng như là một công cụ thường xuyên trong điều
hành chính sách tiền tệ mà chỉ dùng đến hạn mức tín dụng khi cần phải hạn chế sự gia
tăng tín dụng nhanh chóng có nguy cơ lạm phát cao.
Trịnh Chiêu Minh - BH191527
23
ĐỀ ÁN MÔN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
2.2.5. Công cụ lãi suất
Năm 1992, Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện bước chuyển đổi quan trọng chuyển
từ chính sách lãi suất thực âm sang lãi suất thực dương tạo đòn bẩy cho các ngân hàng
thương mại chuyển từ hoạt động kinh doanh thua lỗ sang có lãi.
Năm 1996, Ngân hàng Nhà nước thực hiện tự do hoá lãi suất tiền gửi và quy định
trần lãi suất cho vay nhằm hoàn thiện công cụ lãi suất dần tiến tới mục tiêu tự do hoá lãi
suất.
Tháng 8 năm 2000, Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện bước đổi mới oơ bản về
điều hành lãi suất. Thay thế cơ chế điều hành trần lãi suất cho vay bằng lãi suất cơ bản đối
với cho vay bằng Việt Nam đồng và cơ chế lãi suất thị trường có quản lý đối với cho vay
bằng ngoại tệ. Với cơ chế điều hành lãi suất này được coi là phù hợp với mức độ phát
triển của thị trường tiền tệ và khả năng kiểm soát của Ngân hàng Nhà nước.
Năm 2001, để khuyến khích các tổ chức tín dụng mở rộng tín dụng, thực hiện chủ
trương kích cầu của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước đã bốn lần điều chỉnh lãi suất cơ
bản từ mức 0,75% /tháng xuống 0,6%/tháng.

Mỹ trên thị trường quốc tế và cung cầu ngoại tệ trên thị trường trong nước. Ngày 08 tháng
9 năm 2001, Ngân hàng Nhà nước đã quyết định mở rộng kỳ hạn thực hiện các giao dịch
kỳ hạn, hoán đổi của tổ chức tín dụng và điều chỉnh mức gia tăng tỷ giá hoán đổi, kỳ hạn
với trần tỷ giá giao ngay. Điều này đã giúp cho các tổ chức tín dụng có điều kiện thực
hiện linh hoạt giao dịch ngoại hối, các tổ chức tín dụng được chủ động hơn trong kinh
doanh nhưng vẫn đảm bảo vai trò kiểm soát của Ngân hàng Nhà nước.
Trong bối cảnh diễn biến thị trường quốc tế có nhiều biến động, việc điều hành tỷ
giá linh hoạt và can thiệp kịp thời của Ngân hàng Nhà nước trên thị trường ngoại tệ liên
ngân hàng đã góp phần ổn định tỷ giá, có tác dụng khuyến khích xuất khẩu, kiểm soát
nhập khẩu.
Với cơ chế điều hành tỷ giá mới, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã tiến tới gần tỷ
giá thị trường tự do, do đó phản ánh chính xác hơn cung - cầu trên thị trường ngoại tệ,
phù hợp với điều kiện một nền kinh tế mở như ở nước ta hiện nay. Để ổn định được tỷ
giá, Ngân hàng Nhà nước phải kiểm soát được các luồng ngoại tệ di chuyển, thu hút thêm
ngoại tệ làm tăng nguồn dự trữ ngoại tệ quốc gia, ổn định tỷ giá thực hiện chính sách tiền
tệ quốc gia, không nên vội vã áp dụng thả nổi tỷ giá khi chưa đủ các điều kiện. Mặt khác,
những biến động tỷ giá giúp cho Ngân hàng Nhà nước quan sát được cung - cầu ngoại tệ
để từ đó có những quyết định kip thời. Vì vậy, khi sử dụng chính sách tỷ giá, Ngân hàng
Trịnh Chiêu Minh - BH191527
25

Trích đoạn Kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công cụ chính sách tiền tệ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status