BÁO CÁO
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO
ASEAN-TRUNG QUỐC: PHÂN TÍCH ĐỊNH TÍNH VÀ ĐỊNH LƯỢNG
MÃ HOẠT ĐỘNG: FTA-1
Nhóm chuyên gia:Ông Paolo R. Vergano
Ông Daniel Linotte Ông Đinh Văn Ân
Ông Lê Quang Lân
Ông Nguyễn Hồng Thanh
Bà Nguyễn Thị Lan Hương Hà Nội, 11/2010
Báo cáo này được xây dựng với sự hỗ của Liên minh châu Âu. Quan điểm trong báo cáo này là
của các tác giả, không phải là ý kiến chính thức của Liên minh châu Âu hay Bộ Công Thương
2
SL Danh mục hàng nhạy cảm
SITC Danh mục phân loại thương mại quốc tế tiêu chuẩn
SMEs Doanh nghiệp vừa và nhỏ
SOE Doanh nghiệp Nhà nước
TIG Thương mại hàng hóa
TIS Thương mại dịch vụ
UN Liên hợp quốc
UNCTAD Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển
UNIDO Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên hợp quốc
US Hoa Kỳ
WTO Tổ chức Thương mại thế giới
3 MỤC LỤC
TÓM LƯỢC 4
GIỚI THIỆU 8
CHƯƠNG I. BỐI CẢNH KINH TẾ VÀ PHÁP LÝ CỦA ACFTA 9
1. CƠ CẤU CHUNG CỦA FTA 9
2. HIỆP ĐỊNH KHUNG VÀ CHƯƠNG TRÌNH THU HOẠCH SỚM 10
3. BỐI CẢNH KINH TẾ 12
CHƯƠNG II. TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA THEO ACFTA 18
1. HIỆP ĐỊNH VỀ THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA 18
1.1. Tự do hóa thuế quan 18
1.2. Quy tắc xuất xứ 21
1.3. Yêu cầu về đối xử quốc gia và minh bạch hóa 23
1.4. Hạn chế định lượng và rào cản phi thuế 23
TÓM LƯỢC
Các nội dung phân tích định tính và định lượng trong Hoạt động FTA-1 của MUTRAP III
nhằm cung cấp cho các cán bộ Chính phủ, các nhà đàm phán thương mại, doanh nghiệp và
các bên có lợi ích liên quan những ý tưởng, lập luận pháp lý, cách diễn giải và công cụ khác
phục vụ cho công tác hiện tại cũng như trong tương lai (liên quan đến Hiệp định ACFTA hay
các FTA khác). Vì thế, Báo cáo này không chỉ đánh giá khuôn khổ pháp lý tạo lập bởi
ACFTA mà cả tác động của Hiệp định này đối với kinh tế Việt Nam.
Tổng quan về quan hệ kinh tế Việt Nam-Trung Quốc cho thấy Việt Nam là một nước đang
phát triển với tốc độ nhanh trong khi Trung Quốc đã là nền kinh tế lớn thứ ba thế giới chỉ sau
EU và Hoa Kỳ (trên cơ sở so sánh sức mua – PPP). Phân tích kinh tế dự báo rằng GDP của
Trung Quốc có thể vượt qua Hoa Kỳ trong thập kỷ tới. Sự phát triển mau lẹ của quốc gia này
có thể thấy được qua sự cải thiện rất nhanh về Chỉ số Cạnh tranh toàn cầu. Việt Nam cũng đạt
được thành tựu tương tự về Chỉ số Cạnh tranh toàn cầu và sự tiến bộ của Việt Nam có thể
nhanh hơn nữa nếu tiếp tục cải cách. Ngoại thương của Việt Nam đang mở rộng nhanh chóng.
Bảo hộ thuế quan của Việt Nam đối với các sản phẩm công nghiệp cao gấp 3 lần mức của
Trung Quốc.
Trong bối cảnh đó, Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA) là một hiệp
định được xây dựng tương đối chặt chẽ và đầy tham vọng. Từ góc độ pháp lý và phân tích
định tính, về cơ bản ACFTA là một công cụ được xây dựng chặt chẽ, đầy đủ và xuất phát từ
nhu cầu hội nhập, góp phần tác động tích cực đối với phát triển kinh tế, mở rộng thương mại
(cả thương mại nội bộ ASEAN và thương mại với Trung Quốc), đầu tư trực tiếp nước ngoài
và giảm nghèo.
Xét về lộ trình cắt giảm thuế quan và tự do hóa thương mại trong khuôn khổ ACFTA, dường
như các công cụ pháp lý đưa ra đều phù hợp với nhu cầu phát triển bền vững, mở cửa thị
trường, cải cách cơ cấu kinh tế, sản xuất và nhu cầu quản lý kinh tế xã hội của Việt Nam. Đặc
biệt, Chương trình Thu hoạch sớm (Early Harvest Program) ngay lập tức đưa ra các nhượng
bộ quan trọng về tiếp cận thị trường, trong khi vẫn đảm bảo sự bảo hộ cần thiết cho những sản
phẩm chọn lọc thông qua Danh mục loại trừ và Lộ trình cắt giảm thuế quan. Lộ trình cắt giảm
thuế quan được thiết kế phù hợp với nhu cầu bảo hộ của các nước theo 2 danh mục: Danh
bị và bán thành phẩm từ Trung Quốc vì các mặt hàng này thiết yếu cho sản xuất để phục vụ
nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Ngoài ra, tính nhạy cảm dường như giảm dần theo thời
gian.
Phân tích độ nhạy cảm tiền kỳ cho thấy tự do hóa thương mại với Trung Quốc ảnh hưởng đến
nguồn thu của Chính phủ, GDP và thương mại. Về ảnh hưởng đối với nguồn thu của Chính
phủ và GDP, 2 tình huống được đưa ra: (i) trường hợp cắt giảm thuế đầy đủ, nhập khẩu sẽ
tăng khoảng 9% (1,67% GDP) và thu ngân sách của Chính phủ sẽ giảm 11,3% trong tổng thu
từ trao đổi thương mại các sản phẩm không bao gồm dầu khí (1,88% GDP); (ii) trường hợp tự
do hóa thương mại một phần, cụ thể là cắt giảm thuế từ 12,5% xuống 10%, mức độ ảnh
hưởng sẽ giảm đi khoảng 80%.
Về hệ số mở trong thương mại song phương giữa Việt Nam - Trung Quốc, nếu thực hiện tự
do hóa đầy đủ [cắt giảm thuế đầy đủ] đối với các ngành sản xuất, hệ số này sẽ tăng 1,59%,
tương đối nhỏ so với mức tăng gần 11% trong giai đoạn từ 2001 đến 2007. Dệt may, dầu thô,
máy móc thiết bị là 3 lĩnh vực có độ mở tăng cao nhất. Tác động của tự do hóa đầy đủ trong
thương mại sản phẩm công nghiệp với Trung Quốc đến nhập khẩu và thu ngân sách tương đối
hạn chế, đặc biệt khi tự do hóa diễn ra nhanh trong giai đoạn 5-10 năm. Giữa hệ số mở và
tăng trưởng thực có mối quan hệ tích cực. Vì thế, đối với hầu hết các ngành, sự phát triển
thương mại giữa Trung Quốc và Việt Nam không ngăn cản sự phát triển của các ngành trong
nước. Mở cửa nền kinh tế đi đôi với tăng trưởng nhanh về việc làm trong các ngành sản xuất.
Thương mại có thể gây ảnh hưởng đến môi trường, tuy nhiên mức độ ảnh hưởng sẽ giảm dần
theo thời gian cùng với sự phát triển của đất nước, sự nâng cao nhận thức trong nước và quốc
tế. FDI từ Trung Quốc khá hạn chế, tuy nhiên nếu tính gộp cùng đầu tư từ Hồng Kông thì lại
ở mức tương đối cao.
Sự phát triển của ngành dệt may trong nước phụ thuộc chủ yếu vào nhập khẩu vải sợi từ
Trung Quốc. Ngành dệt may không coi Trung Quốc là một thị trường chính và tập trung hơn
vào các thị trường phương Tây.
Ngành thép dường như đầu tư quá mức trong thời gian qua. Tuy nhiên, FDI sẽ giúp nâng cao
công nghệ và tính hiệu quả của ngành này.
Trong ngành ô tô, mức độ tự do hóa sẽ vẫn hạn chế (chỉ giảm 50% mức thuế tối đa áp dụng
kể từ năm 2018).
Tình huống thứ nhất là khi các cam kết cắt giảm thuế trong ACFTA tác động tiêu cực đối với
một số ngành trong nước đến mức độ Việt Nam không thể chấp nhận được về mặt thương
mại, chính trị, kinh tế và xã hội. Thay cho việc tiếp tục thực hiện cam kết cắt giảm thuế quan
(theo lộ trình tự do hóa ACFTA) rồi sau đó giải quyết các tác động tiêu cực bằng cách vận
dụng biện pháp tự vệ hoặc các cơ chế khác với phí tổn lớn, Việt Nam có thể cân nhắc khả
năng đối thoại (tức là đàm phán lại) với Trung Quốc và các thành viên ASEAN khác để hoãn
hoặc giảm tốc độ cắt giảm thuế. Cách xử lý này có thể áp dụng cho các ngành hàng chọn lọc,
trên cơ sở bằng chứng cụ thể về việc gia tăng nhập khẩu (do cam kết theo ACFTA) gây tổn
thất hoặc đe dọa gây ra tổn thất đối với các ngành hàng này. Bằng cách này, Việt Nam có thể
tránh được thiệt hại về mặt chính trị, thương mại hoặc ngoại giao của việc áp dụng biện pháp
tự vệ hoặc chống bán phá giá (tránh đối đầu với Trung Quốc), đáp ứng được nhu cầu cụ thể.
Đây có lẽ cũng là lý do có tính chính trị và pháp lý giải thích tại sao ACFTA không công
nhận nhu cầu đặc biệt và khác biệt (S&D) của các nước CLMV.
Tình huống thứ hai là việc phát sinh nhu cầu đàm phán các hướng và ‘cơ chế sáng tạo’ mà các
nước khác đã đưa ra đàm phán hoặc đưa vào FTA và/hoặc thỏa thuận ưu đãi thương mại của
họ. Các hướng và ‘cơ chế sáng tạo’ này có thể trở thành những công cụ hiệu quả mà Việt
Nam cần đưa vào FTA của mình với các bên thứ ba. Ví dụ gần đây là việc Hoa Kỳ đưa vào
FTA Hoa Kỳ – Hàn Quốc một công cụ liên quan đến trao đổi thương mại các loại xe có động
cơ. Công cụ này được gọi là “thoái lui - snap back”, cho phép Hoa Kỳ được “thoái lui” về
cam kết thuế nhập khẩu đối với các loại ô tô của Hàn Quốc nếu Hàn Quốc áp dụng các biện
pháp làm suy giảm lợi ích dự kiến của Hiệp định dành cho Hoa Kỳ. Ý tưởng nêu ra là Việt
Nam cần đàm phán được công cụ tương tự trong các FTA liên quan đến các sản phẩm nhạy
7
cảm để có thể “thoái lui” về cam kết thuế nếu đối tác FTA của Việt Nam áp dụng biện pháp
ảnh hưởng đến lợi ích dự kiến dành cho Việt Nam hoặc nếu ngành trong nước bị tổn thất
nghiêm trọng và không dự kiến trước được từ việc cắt giảm thuế theo cam kết FTA. Trong
những trường hợp này, FTA cần cho phép Việt Nam có biện pháp cứu trợ thương mại - trade
remedies (nghĩa là “thoái lui” cam kết để tăng thuế nhập khẩu) mà không phải vận dụng đến
các cơ chế tự vệ hay chống bán phá giá nhiêu khê về thủ tục và mất nhiều phí tổn. Việt Nam
toàn diện giữa ASEAN và Trung Quốc ngày 14/01/2007 (sau đây gọi là “Hiệp
định TIS”); và
Hiệp định về Đầu tư dưới Hiệp định khung về Hợp tác kinh tế toàn diện giữa
ASEAN và Trung Quốc ngày 15/08/2009 (sau đây gọi là “Hiệp định ACFTA
về Đầu tư”).
Phân tích định tính trong Báo cáo được thực hiện trên cơ sở rà soát cấu trúc ACFTA, các hiệp
định, công cụ của ACFTA, với phương pháp luận mô tả dưới đây. Phân tích định tính căn cứ
theo trọng tâm đặt ra tại Điều khoản tham chiếu (TOR) và theo kế hoạch triển khai của Hoạt
động FTA-1. Cụ thể, Báo cáo tập trung vào thương mại các mặt hàng, sản phẩm phi nông
nghiệp với mục đích phân tích định lượng và đánh giá tác động. Vì thế, phân tích định tính
tập trung vào tất cả các công cụ pháp lý liên quan, bao gồm: Hiệp định TIG, Hiệp định
ACFTA DSM và (ở mức độ phân tích thấp hơn) Hiệp định ACFTA về Đầu tư.
9
CHƯƠNG I. BỐI CẢNH KINH TẾ VÀ PHÁP LÝ CỦA ACFTA
1. CƠ CẤU CHUNG CỦA FTA
Hiệp định khung xây dựng nền tảng cho ACFTA bằng cách thiết lập cơ sở pháp lý cho việc
đàm phán các nội dung: thương mại hàng hóa, dịch vụ, tự do hóa đầu tư và giải quyết tranh
chấp, đồng thời xác lập quy tắc cho Chương trình Thu hoạch sớm (sau đây gọi là “EHP”) để
cắt giảm thuế ngay lập tức cho một số chủng loại sản phẩm cụ thể (chủ yếu là sản phẩm nông
nghiệp).
Mục tiêu của Hiệp định khung là:
a. Hoàn thành việc thiết lập khu vực thương mại tự do cho 6 nước ASEAN (bao gồm
Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan), Trung Quốc vào
năm 2010, các nước CLMV (bao gồm Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam) vào
năm 2015;
b. Thúc đẩy tự do hóa và xúc tiến thương mại hàng hóa, dịch vụ; thiết lập cơ chế đầu tư
tự do, minh bạch, thuận lợi;
c. Tìm kiếm những lĩnh vực mới và triển khai các biện pháp phù hợp để hợp tác kinh tế
chặt chẽ hơn nữa giữa các Bên; và
DSM xác lập một hệ thống hoạt động trên cơ sở quy tắc để giải quyết các tranh chấp, bao
gồm quy tắc cho việc rà soát các khiếu nại, tố cáo của bên thứ ba độc lập, các phán quyết có
tính chất ràng buộc và các cơ chế thực hiện. Hệ thống các quy tắc và thủ tục của Hiệp định
cùng với cơ quan ‘quản lý’ được thiết lập được coi là tham vọng và tiến bộ nhất so với cơ chế
giải quyết tranh chấp của các FTA song phương khác.
2. HIỆP ĐỊNH KHUNG VÀ CHƯƠNG TRÌNH THU HOẠCH SỚM
Như đã nêu ở trên, Hiệp định khung thiết lập cơ sở pháp lý cho đàm phán về tự do hóa thương
mại hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, giải quyết tranh chấp và cho chương trình EHP (chương trình
thu hoạch sớm).
Phạm vi Hiệp định khung đặt ra cho các lĩnh vực đàm phán tùy thuộc từng lĩnh vực. Chẳng
hạn, các nội dung chính về tự do hóa thuế quan và các khía cạnh khác thuộc lĩnh vực thương
mại hàng hóa được quy định cụ thể tại Điều 3 Hiệp định khung. Đối với các lĩnh vực khác
(dịch vụ và đầu tư) Hiệp định khung chỉ quy định các mục tiêu chính để đàm phán và mục
tiêu về tự do hóa.
2
Về giải quyết tranh chấp, Hiệp định khung quy định các Bên phải xác lập
thủ tục giải quyết tranh chấp chính thức trong vòng 1 năm kể từ khi Hiệp định khung bắt đầu
hiệu lực. Trong thời gian chưa có thủ tục giải quyết tranh chấp chính thức, mọi tranh chấp
phát sinh liên quan đến việc diễn giải, thực hiện hoặc áp dụng Hiệp định khung sẽ được giải
quyết thông qua tham vấn và trung gian hòa giải.
Cùng với việc xác lập cơ sở cho đàm phán về thương mại hàng hóa, dịch vụ, đầu tư và giải
quyết tranh chấp, Hiệp định khung còn đề ra chương trình tự do hóa sớm đối với nhiều sản
phẩm - Chương trình EHP. Cụ thể, tất cả các sản phẩm ở cấp độ 8/9 số thuộc Chương 1 đến
Chương 8 của Hệ thống HS (tức là toàn bộ các sản phẩm nông nghiệp) là đối tượng tự do hóa
thuế quan theo các lộ trình cụ thể tùy thuộc vào chủng loại sản phẩm.
3
Mục tiêu của Chương
trình EHP là đạt được nhân nhượng ngay với việc cắt giảm thuế quan sớm kể từ ngày
01/01/2006.
Danh mục loại trừ cho phép các Bên không áp dụng EHP đối với các sản phẩm nhất định.
trường cho Trung Quốc) và không có giá trị tích cực (bảo hộ cho ngành trong nước).
Như đã nêu ở trên, EHP cho phép các sản phẩm của ASEAN thuộc Chương 1-8 HS xuất khẩu
sang Trung Quốc được hưởng mức thuế ưu đãi trong khi không phải tất cả các sản phẩm của
Trung Quốc thuộc các chương này xuất khẩu sang ASEAN đều được hưởng ưu đãi. Ngoài ra,
Trung Quốc còn nhân nhượng về một số loại sản phẩm phi nông nghiệp thông qua Danh mục
bao gồm. Trên thực tế, các Thành viên ASEAN được hưởng lợi lớn từ EHP vì Chương trình
này cho phép các sản phẩm của ASEAN được xuất khẩu sang Trung Quốc với mức thuế ưu
đãi trước khi Hiệp định TIG được hoàn tất đàm phán.
6
EHP cũng lập ra 1 bộ quy tắc xuất xứ tạm thời. Bộ quy tắc này được thay thế bởi bộ quy tắc
chính thức quy định tại Hiệp định TIG. Một số quy tắc xuất xứ chính thức thuộc Hiệp định
TIG sau này phản ánh nội dung của bộ quy tắc tạm thời, như chỉ ra dưới đây.
Kể từ ngày ký kết Hiệp định khung, Trung Quốc đồng ý đối xử tối huệ quốc theo quy tắc
WTO cho tất cả các thành viên ASEAN không phải là thành viên của WTO. Đến nay Lào là
thành viên ASEAN duy nhất chưa phải là thành viên WTO (vào thời điểm ký kết Hiệp định
khung cả Campuchia, Lào và Việt Nam đều chưa phải là thành viên WTO). Cách đặt từ ngữ
(wording)
7
của điều khoản này có thể được diễn giải như sau: (i) Trung Quốc có nghĩa vụ đối
xử MFN cho Lào, khác với đối xử ưu đãi theo ACFTA cho các thành viên ASEAN khác;
hoặc (ii) Trung Quốc có nghĩa vụ đối xử MFN cho Lào trong mọi nội dung thương mại ngoài
phạm vi điều chỉnh của ACFTA.
Nếu cách diễn giải thứ nhất là đúng thì điều này là sự phân biệt đối xử nghiêm trọng đối với
Lào, đồng thời không phù hợp với mục tiêu của ACFTA và ảnh hưởng đến quyền lợi của các
thành viên ASEAN khác trong trường hợp doanh nghiệp của các thành viên này đầu tư vào
Lào trong các lĩnh vực sản xuất, chế biến, dịch vụ vì các doanh nghiệp này sẽ không được
hưởng đối xử ưu đãi theo ACFTA trong thương mại với Trung Quốc. Giả định này cho thấy
cách diễn giải thứ nhất sẽ không phải là cách diễn giải được áp dụng, tuy nhiên hữu ích cho
mục đích phân tích đầy đủ về mặt định tính lời văn của Hiệp định ACFTA.
dụng các biện pháp không phù hợp với điều khoản của Hiệp định khung vì các mục đích an
ninh quốc gia, bảo vệ các đồ vật có giá trị nghệ thuật, lịch sử hoặc khảo cổ hoặc các biện pháp
mà các Bên thấy cần thiết vì đạo đức cộng đồng, bảo vệ sức khỏe con người, động thực vật,
với điều kiện các biện pháp này không được áp dụng một cách tùy tiện hoặc gây ra sự phân
biệt đối xử không chính đáng đối với các Bên khác trong cùng điều kiện hoặc nhằm hạn chế
thương mại giữa các Bên một cách trá hình.
Xem xét điều khoản tương tự (điều khoản loại trừ chung) trong Hiệp định về Thương mại
hàng hóa, Hiệp định về Thương mại dịch vụ và Hiệp định về Đầu tư thuộc ACFTA cho thấy
dường như việc áp dụng điều khoản loại trừ chung trên thực tế chỉ hạn chế ở chương trình
EHP và các biện pháp nêu tại Phần 2 Hiệp định khung (về hợp tác kinh tế trong nhiều lĩnh
vực khác). Quy định này được bổ trợ bằng Điều 6.3.d. Hiệp định khung, theo đó các quy định
tương ứng của WTO về việc sửa đổi cam kết, tự vệ, biện pháp khẩn cấp và biện pháp phòng
vệ thương mại khác (kể cả các biện pháp chống bán phá giá và đối kháng) áp dụng cho các
sản phẩm thuộc phạm vi của chương trình EHP, sẽ ngừng áp dụng và được thay thế bởi các
quy định của Hiệp định TIG. Quy định này đảm bảo sự nhất quán giữa cơ chế loại trừ chỉ áp
dụng đối với các sản phẩm thuộc phạm vi EHP và cơ chế thuộc Hiệp định TIG. Phân tích
dưới đây sẽ chỉ ra quy tắc tương ứng của WTO sẽ tiếp tục được áp dụng đối với nhiều biện
pháp, bao gồm các biện pháp chống bán phá giá và đối kháng.
3. BỐI CẢNH KINH TẾ
A. Việt Nam so với Trung Quốc
Các chỉ số chính
Phân tích dưới đây sẽ so sánh hai nước đối tác là Việt Nam và Trung Quốc, tập trung vào
những khác biệt quan trọng về địa lý, nhân khẩu và kinh tế gây ảnh hưởng đến các chỉ số.
Trung Quốc là một nền kinh tế tương đối lớn và tính theo sức mua (PPP) là nền kinh tế lớn
thứ 3 trên thế giới, chỉ sau EU, Hoa Kỳ và đứng trước Nhật Bản. GDP của Việt Nam chỉ bằng
2% GDP của Trung Quốc, và tính theo sức mua thì GDP bình quân đầu người của Việt Nam
chưa bằng ½ của Trung Quốc. Mức tăng trưởng GDP cho thấy sự cách biệt giữa 2 nước, tuy
nhiên, khoảng cách giữa GDP bình quân đầu người thực tế của Việt Nam và Trung Quốc sẽ
thu hẹp lại trong thập kỷ tới.
2010
6.5
6.8
7,0
6.7
7.0
8,5
9,0
9,5
8,2
8,9
- 3,9
- 3,7
- 2,5
- 3,5
- 2,4
GDP bình quân đầu người (USD -
theo sức mua)
khi ngân hàng lớn nhất của Thụy Sĩ đang hoạt động rất kém hiệu quả hay thực tế là Hoa Kỳ
đang thâm hụt ngân sách nghiêm trọng và phải được Trung Quốc cấp tài chính. Ngoài ra, mức
tăng trưởng GDP của Trung Quốc vượt xa rất nhiều lần so với mức tăng trưởng của Hoa Kỳ
và Thụy Sĩ.
Năng suất lao động
So sánh năng suất lao động năm 2007 củng cố kết quả về xếp hạng Chỉ số cạnh tranh toàn
cầu, cụ thể là năng suất lao động bình quân của Việt Nam kém năng suất của Trung Quốc ở
mọi lĩnh vực, tuy nhiên mức đầu tư FDI cao có thể giúp Việt Nam đuổi kịp Trung Quốc trong
dài hạn.
Bảng 1.3: Năng suất
Chỉ số Việt Nam Trung Quốc Việt Nam/Trung Quốc (%)
GDP/công nhân 1.579 100 4.249 100 37,16
Nông nghiệp 545 34 1.087 26 50,14
Công nghiệp 3.758 237 8.329 196 45,12
Dịch vụ 2.457 155 5.312 125 46,25
Nguồn: Ngân hàng Thế giới và tính toán của tác giả.
B. Ngoại thương của Việt Nam
Thương mại tăng trưởng nhanh
Cả xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam đều tăng nhanh trong những năm gần đây:
- Theo Biểu đồ 2.1, xuất khẩu của Việt Nam ra thế giới tăng gấp 4,2 lần trong giai đoạn
từ 2001 đến 2008, từ 15 tỷ USD lên 62,7 tỷ USD;
- Tổng kim ngạch nhập khẩu từ các nước trên thế giới thậm chí còn tăng nhanh hơn, cụ
thể là gấp 5 lần trong giai đoạn 2001 - 2008 và đạt 80,7 tỷ USD vào năm 2008.
Kết quả của sự thay đổi này là mức thâm hụt ngày càng lớn về thương mại hàng hóa, lên đến
18 tỷ USD vào năm 2008.
-20
0
20
40
60
80
100
1
2
3
4
5
6
7
8
B
i
l
l
i
o
n
s
U
S
D
2001-2008
Vietnam: Exports, Imports and
Trade Balance
The Export/Import Ratio for Vietnam Trade in
Manufactures with China, %
0
5
10
15
0 2 4 6 8
2001-2007
The Share of China in Vietnam Total Trade in
Manufactures, %
Tỷ trọng thương mại với Trung Quốc trong tổng thương mại hàng hóa công
nghiệp của Việt Nam
Tỷ lệ xuất khẩu/nhập khẩu về thương mại hàng hóa chế biến của Việt
Nam với Trung Quốc (%)
17
Nam hài hòa các mức thuế và nhờ đó sẽ làm giảm bớt sự méo mó về giá, cải thiện sự phân bổ
nhân tố sản xuất.
Bảng 3.1: Việt Nam và Trung Quốc – Các mức thuế
Các m
ức thuế
Vi
ệt NamTrung Qu
ốc
15,8
9,1
1,17
1
,14
M
ức thuế MFN đ
ơn gi
ản áp
dụng năm 2007
24,2
15,7
15,8
9,0
1,53
1,74
Tính trên t
ỷ trọng th
ương m
ại
15-25%
0
-
5%
5-10%
Cao hơn
Phân tán hơ
n
Nguồn: WTO.
Tỷ lệ bảo hộ hiệu quả
Tỷ lệ bảo hộ hiệu quả được xem xét đối với 5 loại sản phẩm liệt kê tại Bảng 3.2. Đối với các
sản phẩm như gạch ngói, xe máy và phụ kiện, tỷ lệ bảo hộ hiệu quả ở mức rất cao trong khi tỷ
lệ bảo hộ hiệu quả đối với các sản phẩm khác là số âm, nghĩa là các nhà sản xuất trong nước
bị thiệt bởi chính sách thương mại. Các sản phẩm như phân bón và thiết bị y tế mặc dù có tỷ
lệ bảo hộ là số âm nhưng cần thiết vì đây là các sản phẩm thiết yếu cho sản xuất trong nước
hoặc vì mục tiêu sức khỏe của con người. (Xem phần phụ lục về danh mục đầy đủ các sản
phẩm).
Bảng 3.2: Tỷ lệ bảo hộ hiệu quả
Sản phẩm 2006 2007 2008
Gạch ngói 67,29 67,47 62,84
Phân bón -4,18 -4,08 -3,88
Thiết bị y tế -4,21 -4,21 -4,42
Xe máy và phụ kiện 87,55 78,52 71,46
Ấn phẩm 10,96 10,79 10,74
18
và tương ứng đối với Lào, Campuchia và Việt Nam (các Thành viên ASEAN chưa phải là
thành viên WTO vào thời điểm ngày 01/01/2003) là các mức thuế các nước này áp dụng đối
với Trung Quốc tại thời điểm 01/07/2003. Tự do hóa thuế quan được thực hiện theo 2 danh
mục, cụ thể là Danh mục cắt giảm thông thường và Danh mục hàng nhạy cảm. Như đã đề cập
ở trên, việc cắt giảm thuế cho các sản phẩm thuộc Danh mục cắt giảm thông thường sẽ phải
hoàn tất vào năm 2010 đối với các nước ASEAN 6 và Trung Quốc, và vào năm 2015 đối với
các nước CLMV. 150 dòng thuế đã được gia hạn tới năm 2012 cho các nước ASEAN 6 và
Trung Quốc, và tới năm 2018 cho các nước CLMV. Phương thức cắt giảm thuế cho các dòng
thuế thuộc Danh mục cắt giảm thông thường được nêu chi tiết tại Phụ lục 1 Hiệp định TIG
(sửa đổi bởi Nghị định thư sửa đổi Hiệp định TIG)
9
. 8
Wang Jiangyu, supra, trang 117.
9
Nghị định thư sửa đổi Hiệp định về Thương mại hàng hóa ngày 08/12/2006.
19
Việt Nam đã cam kết cắt giảm 50% dòng thuế thuộc Danh mục cắt giảm thông thường xuống
mức thuế 0-5% không muộn hơn ngày 01/01/2009.
10
Việt Nam sẽ tiếp tục cắt giảm thuế 45%
dòng thuế thuộc Danh mục cắt giảm thông thường không muộn hơn ngày 01/01/2013.
11
Ngoài ra, Việt Nam (cùng với Campuchia, Lào và Myanmar) đã cam kết xóa bỏ hoàn toàn
thuế áp dụng đối với các dòng thuế thuộc Danh mục cắt giảm thông thường không muộn hơn
năm 2015. Tuy nhiên, các nước này vẫn được phép linh hoạt đối với 250 dòng thuế
Theo
Đoạn 3 Điều 3 Nghị định thư sửa đổi Hiệp định TIG, các phương thức cắt giảm thuế được
quy định tại Phần 4 Phụ lục 2 Hiệp định TIG.
Các sản phẩm thuộc Danh mục HSL là đối tượng áp dụng các mức thuế cụ thể. Việt Nam
(cũng như các Bên khác) phải cắt giảm thuế MFN áp dụng liên quan đến các dòng thuế thuộc
Danh mục HSL xuống mức thuế không quá 50% không muộn hơn ngày 01/01/2018.
18
Các
phương thức cắt giảm cho các dòng thuế quy định tại Phần 4 Phụ lục 2 Hiệp định TIG.
19
Theo
Đoạn 4 Điều 3 Nghị định thư sửa đổi Hiệp định TIG, các phương thức được quy định tại Phần
4 Phụ lục 2 Hiệp định TIG. 10
Đoạn 6(b)(i) Phụ lục 1 Hiệp định TIG sửa đổi.
11
Đoạn 6(b)(iii) Phụ lục 1 Hiệp định TIG sửa đổi.
12
Đoạn 6(b)(iv) Phụ lục 1 Hiệp định TIG sửa đổi. Việc rà soát danh mục các dòng thuế cụ thể của Việt Nam
chưa thực hiện được.
13
Đoạn 6(b)(iv) Phụ lục 1 Hiệp định TIG sửa đổi.
14
Phần Phụ lục này là Tài liệu đính kèm số 1 của Nghị định thư sửa đổi Hiệp định TIG, nhưng việc rà soát Phần
này chưa thực hiện được.
15
Cụ thể là không quá 40% các sản phẩm thuộc nhóm nhạy cảm hay 100 dòng thuế đối với các nước ASEAN 6
và Trung Quốc; 40% các sản phẩm thuộc nhóm nhạy cảm hay 140 dòng thuế đối với Việt Nam, tùy thuộc mức
(I và II)
ASEAN-6 + Trung Quốc
(0% kể từ 01/01/2012)
Tất cả
trong
“danh
mục
thường”
NT I 0% kể từ 01/01/2010
trừ NT II
NT II 150 dòng thuế (0% kể
từ 01/01/2012)
CMLV
(0% kể từ 01/01/2018)
50% các dòng thuế 0-5% kể từ năm 2009
(Việt Nam), 2010
(Myanmar, Lào), 2012
(Campuchia)
40% các dòng thuế 0% kể từ 01/01/2013
Tất cả các sản phẩm
liệt kê
0% kể từ năm 2015 trừ
250 dòng thuế (0% kể
từ năm 2018)
Danh
mục
hàng
nhạy
cảm
ASEAN-6 + Trung Quốc
CMLV (tối đa 40% dòng thuế
thuộc Danh mục hàng nhạy
cảm hoặc 150 dòng thuế)
Các sản phẩm liệt
kê trong Danh mục
hàng nhạy cảm cao
50% không muộn hơn
01/01/2018
20
Wang Jiangyu, supra, trang 117.
21
1.2. Quy tắc xuất xứ
Quy tắc xuất xứ áp dụng đối với hàng hóa trao đổi thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định
được quy định tại Phụ lục 3, thay thế cho quy tắc xuất xứ tạm thời quy định tại EHP. Theo
quy tắc xuất xứ của Hiệp định TIG, các sản phẩm có xuất xứ ACFTA khi:
Hoàn toàn được sản xuất hay khai thác trong lãnh thổ của một Bên;
21
Không dưới 40% hàm lượng có xuất xứ từ một Bên;
Tổng giá trị của nguyên vật liệu, bộ phận hay nông sản ngoài khu vực ACFTA không
vượt quá 60% giá FOB của sản phẩm, với điều kiện khâu sản xuất cuối cùng nằm
trong lãnh thổ của một Bên tham gia ACFTA. Quy tắc này đặt ra yêu cầu hàm lượng
thuộc khu vực ACFTA phải đạt 40%, như quy định ở trên;
Tổng hàm lượng ACFTA của sản phẩm cuối cùng không dưới 40% trong trường hợp
xuất xứ cộng gộp;
22
i. Các vật phẩm thu thập được ở đó không còn khả năng thực hiện các mục đích ban đầu cũng
như không thể khôi phục hoặc sửa chữa và chỉ có thể vứt bỏ hoặc khôi phục các phần nguyên
liệu thô hoặc cho mục đích tái chế; và
j. Các hàng hóa có được hoặc sản xuất tại một Bên từ các sản phẩm đề cập ở các điểm từ (a) đến
(i) ở trên.
22
Theo Phụ lục 3 Hiệp định TIG, việc cộng gộp xuất xứ áp dụng đối với các sản phẩm tạo ra ở một Bên và được
sử dụng trên lãnh thổ của một Bên khác làm đầu vào để sản xuất sản phẩm cuối cùng và đáp ứng điều kiện để
được đối xử ưu đãi theo Hiệp định TIG.
22
Việc áp dụng quy tắc xuất xứ của Hiệp định TIG cần được đánh giá và xem xét cùng với quy
định về hải quan của các Bên, chẳng hạn như quy định về hoàn thuế nhập khẩu. Quy định về
hoàn thuế nhập khẩu cho phép các sản phẩm xuất khẩu được hoàn thuế nhập khẩu và VAT
đối với các nguyên vật liệu nhập khẩu cho mục đích chế biến hàng xuất khẩu, tạo ra ưu thế
lớn cho ngành trong nước của nước áp dụng quy định này.
Đây chính là trường hợp phát sinh khi có FTA, theo đó thuế nhập khẩu được cắt giảm, thậm
chí xóa bỏ. Quy định về hoàn thuế nhập khẩu sẽ giúp cho ngành của nước sản xuất được hoàn
thuế nhập khẩu vật liệu đầu vào từ các nước khác. Việc hoàn thuế đi kèm với yêu cầu hàm
lượng xuất xứ thấp trong khuôn khổ FTA sẽ giúp nước sản xuất tối đa hóa lợi ích từ FTA vì
danh mục các loại sản phẩm được coi là “có xuất xứ” được hưởng ưu đãi sẽ nhiều hơn.
Một ví dụ về cơ chế này là trường hợp FTA giữa EU và Hàn Quốc,
23
trong đó các Bên cho
phép lẫn nhau áp dụng hoàn thuế nhập khẩu. Hàn Quốc được phép hoàn thuế nhập khẩu và
VAT cho các nhà sản xuất của mình đối với các bộ phận và phụ kiện ô tô nhập khẩu giá rẻ từ
Trung Quốc (hoặc từ các nhà sản xuất các bộ phận có tính cạnh tranh cao khác) để lắp ráp ô tô
xuất khẩu. Nhờ đó, ngành sản xuất ô tô của Hàn Quốc được hưởng lợi vì được phép nhập
khẩu các sản phẩm chi phí thấp và hiệu quả kinh tế cao mà không phải chịu chi phí tương ứng
về thuế nhập khẩu.
Nam cần xác định các quy tắc xuất xứ FTA cụ thể mang lại lợi thế trong việc sản xuất cho
xuất khẩu để được hưởng ưu đãi khi vào thị trường của các đối tác FTA quan trọng.
1.3. Yêu cầu về đối xử quốc gia và minh bạch hóa
Quy định về đối xử quốc gia tại Điều 2 Hiệp định TIG lồng ghép quy định của Điều III GATT
(với điều chỉnh phù hợp - mutatis mutandis). Ngôn ngữ của Điều 2 (và từ ‘incorporation’) ngụ
ý rằng nghĩa vụ đối xử quốc gia cũng áp dụng đối với Lào.
Tương tự, nghĩa vụ minh bạch hóa tại Điều X của GATT cũng được lồng ghép (với điều
chỉnh phù hợp) vào Hiệp định TIG. Cần lưu ý rằng Hiệp định về Thương mại hàng hóa của
ASEAN (sau đây gọi là “Hiệp định ATIGA”) cũng áp dụng cách này. Hiệp định ATIGA khi
có hiệu lực sẽ là cơ sở pháp lý cho khu vực thương mại tự do giữa các Thành viên ASEAN.
1.4. Hạn chế định lượng và rào cản phi thuế
Theo Điều 8 Hiệp định TIG, các Bên cam kết không áp dụng các hạn chế định lượng trừ khi
được phép áp dụng theo quy định của WTO. Đối với các Bên chưa phải là thành viên WTO,
Điều này đặt ra những quy tắc cụ thể. Vào thời điểm Hiệp định hoàn tất, Việt Nam chưa phải
là thành viên WTO và đã cam kết sẽ xóa bỏ các hạn chế định lượng trong vòng 3 năm kể từ
khi Hiệp định này bắt đầu có hiệu lực hoặc xóa bỏ theo cam kết với WTO, tùy thuộc thời gian
nào đến sớm hơn. Các Bên cũng cam kết sẽ xác định và loại bỏ các rào cản phi thuế khác theo
lộ trình mà các Bên thống nhất.
Việc quy định như trên, một phần phản ánh những nội dung mà các Bên đã cam kết hoặc sẽ
cam kết với tư cách là thành viên WTO, phần khác có thể là nhằm đáp ứng nhu cầu tạo ra một
“lưới an toàn” để chống lại các biện pháp hạn chế và rào cản đã nêu, đảm bảo rằng họ có thể
vận dụng cơ chế giải quyết tranh chấp của ACFTA đối với những tranh chấp phát sinh từ việc
áp dụng và duy trì các hạn chế định lượng và các rào cản phi thuế khác.
24
Tuy nhiên, cơ chế này bao gồm việc xác định và loại bỏ những rào cản phi thuế cũng có thể
nhằm xác định và loại bỏ những rào cản phi thuế mà các quy tắc hiện thời của WTO không
cấm (chẳng hạn như thuế xuất khẩu). Ngoài ra, Điều này cũng có khả năng nhằm tạo ra cho
các Bên tham gia ACFTA chưa phải là thành viên WTO một khung thời gian cụ thể để loại bỏ
Phạm vi tác động
Phân tích tác động thực tế (hậu kỳ – ex-post) và tiềm tàng (tiền kỳ – ex-ante) của quá trình tự
do hóa thương mại là một vấn đề cực kỳ phức tạp.
Như chỉ ra ở Bảng 6.1, tác động của quá trình tự do hóa thương mại có thể xét theo nhiều
chiều, bao gồm tác động đến dòng thương mại, sản lượng, việc làm, FDI và phúc lợi. Ngoài
ra, tự do hóa thương mại còn có thể tác động trong ngắn hạn và dài hạn.
Bảng 6.1 chỉ ra phạm vi nghiên cứu, chủ yếu dựa vào dữ liệu của Tổng cục Thống kê (GSO)
và một số nghiên cứu chọn lọc trước đây.
Bảng 6.1: Tác động của tự do hóa thương mại – phạm vi nghiên cứu và nguồn thông tin,
dữ liệu
Tác động Phạm vi và nguồn thông tin sử dụng
Thương mại, xuất khẩu, nhập khẩu Dữ liệu của GSO
Tác động tạo dựng thương mại (trade
creation) và gây chệch hướng thương mại
(trade diversion)
Các nghiên cứu học thuật
Tác động đến các ngành Dữ liệu của GSO, các nghiên cứu học thuật
Thu ngân sách Nhà nước Dữ liệu của GSO, thống kê của IMF, OECD
Sản lượng Dữ liệu của GSO
Đầu tư Dữ liệu của GSO, UNCTAD
Cán cân thanh toán Thống kê của IMF
Tăng trưởng Dữ liệu của GSO
Việc làm và lương Dữ liệu của GSO
Giảm nghèo UNDP
Phúc lợi IMF
Môi trường Các nghiên cứu học thuật
Các khía cạnh định tính khác Các báo cáo, phương tiện thông tin đại chúng
Các hướng tiếp cận (“phương pháp luận”): so sánh và đánh giá tóm lược
Việc phân tích tác động thực tế hoặc tiềm tàng của tự do hóa thương mại có thể vận dụng