“Thực trạng kinh doanh bảo hiểm hàng húa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đƣờng biển tại công ty cổ phần bảo hiểm AAA- chi nhánh Hà Nội - Pdf 26

LỜI MỞ ĐẦU

Trong xu thế hội nhập, toàn cầu húa ngành ngoại thƣơng của
nƣớc ta không ngừng mở rộng phát triển với sự giao lƣu, hợp tác buôn
bán với các nƣớc trong và ngoài khu vực. Kim ngạch hàng húa xuất nhập
khẩu của nƣớc ta liên tục tăng trong những năm gần đây, đạt mức tăng
trƣởng bình quân khoảng 18, 2 % /năm, tăng gấp hai lần so với tốc
độ tăng GDP của đất nƣớc. Điều này đã chứng tỏ một tiềm năng rất lớn
về hoạt động xuất nhập khẩu cũng nhƣ tạo một môi trƣờng thuận lợi
cho các doanh nghiệp bảo hiểm trong nƣớc khi triển khai nghiệp vụ
bảo hiểm hàng húa xuất nhập khẩu. Sự phát triển của nghiệp vụ bảo
hiểm hàng húa xuất nhập khẩu đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp
xuất nhập khẩu yên tâm mở rộng quy mô hoạt động, đảm bảo đƣợc tình
hình khả năng tài chính của doanh nghiệp mình đồng thời cũng đẩy nhanh
quá trình thu hút vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Tuy nhiên, một thực tế đáng
buồn là ngành bảo hiểm nƣớc nhà đã bỏ phí một lƣợng hàng húa khổng
lồ tham gia bảo hiểm, bởi nghiệp vụ bảo hiểm hàng húa xuất nhập khẩu
chủ yếu đƣợc nhƣờng cho các công ty bảo hiểm nƣớc ngoài khai thác
còn các công ty trong nƣớc chỉ cạnh tranh nhau một phần rất nhỏ. Chính
vì vậy, làm thế nào để giành lại thị phần khai thác nghiệp vụ bảo
hiểm hàng húa xuất nhập khẩu cũng nhƣ hạn chế lƣợng chảy máu ngoại
tệ hiện nay là thách thức rất lớn đối với các công ty bảo hiểm Việt
Nam.

Nhận thức đƣợc tầm quan trọng của nghiệp vụ bảo hiểm hàng
húa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đƣờng biển, trong thời gian thực
tập tại công ty cổ phần bảo hiểm AAA- chi nhánh Hà Nội em đã tìm hiểu,
nghiên cứu và chọn đề tài: “Thực trạng kinh doanh bảo hiểm hàng húa


Em xin chân thành cảm ơn!

CHƢƠNG I: Lí LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM HÀNG HểA XUẤT NHẬP KHẨU VẬN CHUYỂN
BẰNG ĐƢỜNG BIỂN.

1.1. Khái quát về bảo hiểm hàng húa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng
đƣờng biển.

1.1.1. Vai trò và đặc điểm của quá trình xuất nhập khẩu hàng húa vận
chuyển bằng đƣờng biển.

v Vai trò:

Dịch vụ vận chuyển nói chung và vận chuyển hàng húa xuất nhập khẩu
nói riêng ngày càng đóng vai trò quan trọng trong thƣơng mại quốc
tế. Có thể nói: “Không có thƣơng mại nếu không có vận chuyển”. Có
nhiều phƣơng tiện vận chuyển hàng húa xuất nhập khẩu bằng đƣờng biển,
đƣờng sắt, đƣờng bộ, đƣờng hàng khụng…Trong đó vận chuyển bằng đƣờng
biển chiếm khoảng 90% tổng khối lƣợng hàng húa xuất nhập khẩu của
thế giới, bởi vì vận chuyển bằng đƣờng biển có rất nhiều ƣu điểm:

· Có thể vận chuyển đƣợc nhiều chủng loại hàng húa với khối
lƣợng lớn mà các phƣơng tiện vận tải khác không thể đảm nhận đƣợc,
chẳng hạn nhƣ các loại hàng húa siêu trƣờng, siêu trọng.

· Việc xây dựng và bảo quản các tuyến đƣờng biển dựa vào cơ
sở lợi dụng điều kiện tự nhiên của biển, do đó không phải đầu tƣ nhiều
về vốn và sức lao


vận chuyển.

Do yếu tố con ngƣời: Hàng húa có thể bị mất trộm, hoặc bị cƣớp trong
quá trình vận chuyển.

- Tốc độ của tàu biển còn chậm, hành trình trên biển có thời gian
dài nên xác suất rủi ro càng cao trong khi đó việc cứu hộ lại rất
khó khăn.

- Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, mỗi chuyến tàu thƣờng có
giá trị rất lớn. Do đó nếu rủi ro xảy ra sẽ gây tổn thất rất lớn về
tài sản, trách nhiệm và con ngƣời.

- Trong quá trình vận chuyển, trách nhiệm chính thuộc về chủ phƣơng
tiện. Nhƣng trách nhiệm này rất hạn chế về thời gian, phạm vi và mức
độ theo điều kiện giao hàng và hợp đồng vận chuyển.

SVTH: Phạm Thị Trà My
Lớp: Kinh tế bảo hiểm K49
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS Nguyễn Thị Chính
v Đặc điểm:

· Việc XNK hàng húa thƣờng đƣợc thực hiện thông qua hợp đồng
giữa ngƣời mua và ngƣời bán (ở hai nƣớc khác nhau), trong đó ghi rõ
những nội dung về: số lƣợng, phẩm chất, ký mã hiệu, quy cách đóng
gói, giá cả hàng húa, trách nhiệm thuê tàu, cƣớc phí, phí bảo hiểm,
thủ tục và đồn tiền thanh toán. Do các bên trong hợp đồng có sự xa
cách về địa lý và họ thƣờng không áp tải đƣợc hàng húa trong quá trình
vận chuyển nên việc làm này thông thƣờng giao cho các hãng tàu.

Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS Nguyễn Thị Chính
Ngành bảo hiểm ra đời do có sự tồn tại khách quan của các rủi ro mà
con ngƣời không thể khống chế đƣợc. Nếu những rủi ro xảy ra mà không
có những khoản bù đắp thiệt hại kịp thời của các nhà bảo hiểm đặc
biệt là những rủi ro mang tính thảm họa thì chủ tàu và chủ hàng gặp
rất nhiều khó khăn về tài chính trong việc khắc phục hậu quả do các
rủi ro đó gây ra. Vì vậy, sự ra đời của bảo hiểm hàng húa XNK vận
chuyển bằng đƣờng biển có tác dụng nhƣ sau:

Thứ nhất, giảm bớt rủi ro cho hàng húa đó, hạn chế tổn thất nhờ tăng
cƣờng bảo quản kiểm tra đồng thời kết hợp các biện pháp đề phòng và
hạn chế tổn thất.

Thứ hai, có khả năng tập trung đƣợc nguồn vốn rất lớn cho nền kinh
tế nhờ vào phí bảo hiểm thu đƣợc, sau đó nguồn vốn này một phần đƣợc
trích lập dự phòng và phần còn lại đem đầu tƣ trở lại nền kinh tế,
mang lại những khoản thu lớn hơn vốn đầu tƣ ban đầu.

Thứ ba, nhờ có bồi thƣờng, các tổ chức, cá nhân có thể nhanh chóng
ổn định đƣợc sản xuất kinh doanh, ổn định đƣợc cuộc sống. Dù khả năng
tích lũy của các công ty bảo hiểm không lớn tuy nhiên họ lại họ lại
có khả năng bảo hiểm cho những giá trị bồi thƣờng rất lớn thong qua
hoạt động phân tán rủi ro nhƣ tái bảo hiểm, đồng bảo hiểm.

Thứ tƣ, bảo hiểm hàng húa XNK vận chuyển bằng đƣờng biển đƣợc thực
hiện ở trong nƣớc làm giảm chi ngoại tệ.

Thứ năm, thúc đẩy nghiệp vụ bảo hiểm hàng húa XNK vận chuyển bằng
đƣờng biển cũng nhƣ ngành bảo hiểm trong nƣớc nói chung phát triển,

lâm vào thế nguy hiểm và thay thế nú là hình thức bảo hiểm ra đời.

Vào thế kỷ XIV, ở Floren, Genoa nƣớc Ý đã xuất hiện các hợp đồng bảo
hiểm hằng hải đầu tiên mà theo đó một ngƣời bảo hiểm cam kết với ngƣời
đƣợc bảo hiểm sẽ bồi thƣờng những thiệt hại về tài sản mà ngƣời đƣợc
bảo hiểm phải gánh chịu khi có rủi ro xảy ra trên biển và gây tổn
thất cho hàng húa đƣợc bảo hiểm, đồng thời với việc nhận một khoản
phí. Hợp đồng bảo hiểm cổ nhất mà ngƣời ta tìm thấy có ghi ngày 22/
04/ 1329 hiện còn đƣợc lƣu giữ tại Floren. Sau đó cùng với việc phát
hiện ra Ấn Độ Dƣơng và tìm ra Châu Mỹ, ngành hàng hải nói chung và
bảo hiểm hàng hải nói riêng đã phát triển rất nhanh.

Về cơ sở pháp lý thì có thể coi chiếu dụ Barcelona năm 1435 là văn
bản pháp luật đầu tiên trong ngành bảo hiểm. Sau đó là sắc lệnh của
Philippe de Bourgogne năm 1458, những sắc lệnh của Brugos năm 1537,
Fiville năm 1552 và ở Amsterdam năm 1558. Ngoài ra còn có sắc lệnh
của Phần Lan năm 1563 liên quan đến hợp đồng bảo hiểm hàng húa.

Tuy nhiên, phải đến thế kỷ XVI - XVII cùng với sự ra đời của phƣơng
thức sản xuất tƣ bản chủ nghĩa thì hoạt động bảo hiểm mới phát triển
rộng rói và ngày càng đi sâu vào nhiều lĩnh vực của đời sống kinh
tế - xã hội. Mở đƣờng cho sự phát triển này là luật 1601 của Anh thời
Nữ hoàng Elisabeth sau đó là chỉ dụ 1681 của Pháp do Colbert biên
soạn và Vua Louis XIV ban hành, đó là những đạo luật mở đƣờng cho
lĩnh vực bảo hiểm hàng hải.

Đến thế kỷ XVII, nƣớc Anh đã chiếm vị trí hàng đầu trong buôn bán
và hàng hải quốc tế và Luân Đôn trở thành trung tâm phồn thịnh nhất.
Tàu của các nƣớc đi từ Châu Á, Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Phi đều về cập
bến hai bờ song Thame của

nhƣng so với các nƣớc Đông Nam Á thì bảo hiểm Việt Nam vẫn ra đời
sớm hơn cả.

Vào thời kỳ Pháp thuộc (những năm 1920) cùng với sự ra đời của các
chi nhánh công ty bảo hiểm Quốc gia Pháp, sau đó là của ngân hàng
thế giới, bảo hiểm hàng hải cũng ra đời từ đó.Năm 1965 bảo hiểm Việt
Nam bắt đầu đi vào hoạt động,Bộ tài chính đã ban hành quy tắc chung
về bảo hiểm hàng húa vận chuyển bằng đƣờng biển (QTC-1965) và đến
năm 1990 Bộ tài chính ban hành quy tắc chung mới (QTC-1990).

Công ty bảo hiểm Việt Nam (gọi tắt là Bảo Việt) chính thức đi vào
hoạt động tại Miền Bắc vào ngày 15/01/1965. Trong những năm đầu, Bảo
Việt chỉ tiến hành các nghiệp vụ về hàng hải nhƣ bảo hiểm hàng húa
XNK, bảo hiểm tàu viễn dƣơng.

Đến nay, bảo hiểm hàng hải đã phát triển rộng khắp thế giới và đƣợc
hầu hết các quốc gia triển khai. Một số thị trƣờng bảo hiểm hàng hải
lớn của thế giới là:Anh, Mỹ, Đức, Nhật Bản, Pháp, Trung Quốc…Trong
đó, thị trƣờng bảo hiểm London là

SVTH: Phạm Thị Trà My
Lớp: Kinh tế bảo hiểm K49
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS Nguyễn Thị Chính
thị trƣờng lớn nhất thế giới và là mẫu mực cho ngành bảo hiểm của
nhiều nƣớc. Các điều khoản, luật lệ, tập quán của London đƣợc các
thị trƣờng bảo hiểm khác áp dụng, nhất là Luật bảo hiểm hàng hải năm
1906 và các điều khoản thong dụng nhƣ: các điều khoản bảo hiểm hàng
húa, các điều khoản bảo hiểm than tàu và các hợp đồng bảo hiểm hàng
húa theo mẫu của Lloyd’s của viện những ngƣời bảo hiểm London ILU.

Phạm vi bảo hiểm là giới hạn rủi ro đƣợc bảo hiểm và cũng là giới
hạn trách nhiệm của công ty bảo hiểm. Hàng húa đƣợc bảo hiểm theo
điều kiện nào thì chỉ những rủi ro tổn thất quy định trong điều kiện
đó mới đƣợc bồi thƣờng. Phạm vi trách nhiệm càng rộng thì những rủi
ro đƣợc bảo hiểm càng nhiều và kéo theo mức phí lớn.

Căn cứ vào các điều khoản bảo hiểm ICC (Institule Casgo Claude)
01/01/1982, để phù hợp với tình hình thực tế tại Việt Nam đối với
quá trình bốc dỡ, vận chuyển hàng húa ở các cảng Việt Nam, Bộ Tài
Chính đã ban hành quy tắc chung về bảo hiểm hàng húa vận chuyển bằng
đƣờng biển gọi tắt là QTC 1990. Quy tắc này đƣợc xây dựng trên cơ
sở điều khoản ICC

SVTH: Phạm Thị Trà My
Lớp: Kinh tế bảo hiểm K49
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS Nguyễn Thị Chính
01/01/1982. Đối với hàng húa nhập khẩu từ các cảng nƣớc ngoài về Việt
Nam thƣờng đƣợc bảo hiểm theo QTC 1990.

Để phù hợp với tập quán quốc tế, khi bán bảo hiểm hàng húa xuất nhập
khẩu các công ty bảo hiểm thƣờng áp dụng ICC 01/01/1982. Khi hàng
húa có tổn thất, ngƣời nhận hàng dễ dàng nhận biết ngay hàng húa bị
tổn thất có nằm trong phạm vi bảo hiểm hay không.

1.2.2.Giá trị bảo hiểm, số tiền bảo hiểm và phí bảo hiểm.

1.2.2.1. Giá trị bảo hiểm:

Giá trị bảo hiểm (GTBH) là giá thực tế của lô hàng, thƣờng là giá


SVTH: Phạm Thị Trà My
Lớp: Kinh tế bảo hiểm K49
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS Nguyễn Thị Chính
Phí bảo hiểm là một khoản tiền do ngƣời tham gia bảo hiểm nộp cho
ngƣời bảo hiểm để hàng húa đƣợc bảo hiểm.

Phí bảo hiểm đƣợc xác định trên cơ sở GTBH hoặc STBH và tỷ lệ phí
bảo hiểm.Phí bảo hiểm (P) đƣợc xác định nhƣ sau:

P=Sb*(a+1)*R

Trong đó: - Sb: Số tiền bảo hiểm.

- a: Số phần trăm lãi dự tính.

- R: Tỷ lệ phí bảo hiểm.

Trong thực tế, chủ hàng thƣờng mua bảo hiểm ngang giá trị nên phí
bảo hiểm đƣợc xác định theo công thức:

P = CIF * R (Nếu không bảo hiểm lãi
dự tính)

Hoặc P = CIF*(a+1)*R(Nếu bảo hiểm thêm lãi dự
tính a)

Tỷ lệ phí bảo hiểm đƣợc ghi trong hợp đồng bảo hiểm theo thỏa thuận
giữa ngƣời bảo hiểm và ngƣời tham gia bảo hiểm.


Nhƣ vậy, thực chất Phí bảo hiểm gồm hai phần:

- Phí gốc:

Pgốc = Sb * Rgốc

- Phí phụ:

Ptàu già = Sb * Rtàu già

Trong đó: Sb: Số tiền bảo hiểm

Lúc này: Ptổng cộng = Pgốc + Ptàu già

1.2.3. Các điều kiện bảo hiểm.

1.2.3.1. ICC 01/01/1963.

v Điều kiện bảo hiểm miễn Tổn thất riờng (FPA – Free from
Particular Average)

Theo điều kiện bảo hiểm FPA, trách nhiệm bảo hiểm bao gồm:

· Tổn thất toàn bộ do thiên tai, tai nạn bất ngờ trên biển
hoặc dỡ hàng tại cảng lánh nạn thuộc tổn thất riêng.

· Tổn thất bộ phận do thiên tai, tai nạn bất ngờ trên biển
hoặc dỡ hàng tại cảng lánh nạn do rủi ro chính đem lại.


1.2.6.1.Nghĩa vụ của ngƣời đƣợc bảo hiểm khi xảy ra tổn thất.

Khi phƣơng tiện chở hàng gặp tai nạn và đe dọa đến sự an toàn của
hàng húa,ngƣời đƣợc bảo hiểm phải có trách nhiệm thông báo cho các
cơ quan liên quan nơi gần nhất nhƣ cơ quan hàng hải,cơ quan bảo hiểm
để các cơ quan này có biện pháp theo dõi và phòng bị cho tàu và hàng
húa.

Nếu đƣợc thông tin hay phát hiện thấy thực tế hàng húa bị tổn thất
thì ngƣời đƣợc bảo hiểm cần phải làm ngay các việc sau:

-Thông báo cho ngƣời bảo hiểm biết và nếu thấy tình hình hàng húa
tổn thất hoặc nghi ngờ có tổn thất thì cần làm giấy yêu cầu ngƣời
bảo hiểm giám định ngay.

-Việc giám định hàng húa bảo hiểm bị tổn thất phải do ngƣời bảo hiểm
tiến hành theo đơn đề nghị của ngƣời đƣợc bảo hiểm.Nếu vụ tổn thất
không đƣợc giám định viên của ngƣời bảo hiểm tiến hành thì sẽ không
đƣợc ngƣời bảo hiểm chấp nhận bồi thƣờng.

Các biện pháp đề phòng và hạn chế tổn thất:

Ø Thực ra việc đề phòng và hạn chế tổn thất cho hàng húa nói
chung trong HĐBH là để chỉ những trƣờng hợp hàng úa bị rủi ro thuộc
phạm vi bảo hiểm nhƣ cháy, mắc cạn, …đe dọa tàu khi tàu chở hàng đang
trên đƣờng hành trình hoặc neo đậu tại bến cảng dọc đƣờng.

Ø Bảo lƣu quyền khiếu nại cho ngƣời bảo hiểm tức là làm đơn
khiếu nại ngay bên gây ra tổn thất cho hàng húa và gọi là khiếu nại
ngƣời thứ ba,ngƣời đứng


1.3.1.Chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh.

Kết quả kinh doanh là một số tuyệt đối,phản ánh cụ thể kết quả đạt
đƣợc khi thực hiện một công việc nào đó.Kết quả kinh doanh của một
nghiệp vụ bảo hiểm,một loại hình bảo hiểm và của cả doanh nghiệp bảo
hiểm (DNBH) đƣợc thể hiện ở hai chỉ tiêu chủ yếu là:Doanh thu và lợi
nhuận.

· Doanh thu của DNBH phản ánh tổng hợp kết quả kinh doanh trong
một thời kỳ nhất định (thƣờng là một năm).Nú là cơ sở để tính các
chỉ tiêu khác có liên quan phục vụ phân tích hoạt động kinh doanh
trong doanh nghiệp bảo hiểm.Chỉ tiêu này bao gồm các bộ phận cấu thành:

SVTH: Phạm Thị Trà My
Lớp: Kinh tế bảo hiểm K49
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS Nguyễn Thị Chính
· Bảo hiểm sức khỏe và bảo hiểm Tai nạn con ngƣời.

· Bảo hiểm Tài sản và bảo hiểm thiệt hại.

· Bảo hiểm hàng húa vận chuyển bằng đƣờng biển, đƣờng bộ,
đƣờng song, đƣờng sắt và đƣờng hàng không.

· Bảo hiểm Xe cơ giới.

· Bảo hiểm cháy, nổ.

· Bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự của chủ tàu.

điều hành đã có sự kết hợp của nhiều mô hình tổ chức sau:

- Mô hình trực tuyến chức năng: cho phép ngƣời lãnh đạo có
toàn quyền quản lý, chỉ đạo và phát huy chức năng của các phòng ban
trực thuộc nhƣ: phòng công nghệ thông tin, phòng hành chính, phòng
kĩ thuật, phòng kế toán. Các phòng ban này tiến hành tổ chức thực
hiện nhiệm vụ và chức năng của mình, sau đó đề xuất ý kiến để Ban
giám đốc hay Hội đồng cổ đông đƣa ra quyết định.

SVTH: Phạm Thị Trà My
Lớp: Kinh tế bảo hiểm K49
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS Nguyễn Thị Chính
Biểu đồ 2.3: Biểu đồ doanh thu và chi phí của công ty cổ phần bảo
hiểm AAA – chi nhánh Hà Nội giai đoạn 2006 – 2010
(Nguồn: Công ty bảo hiểm AAA chi nhánh Hà Nội)

Qua số liệu trên ta thấy tốc độ tăng doanh thu của công ty rất lớn:
Năm 2006 doanh thu của công ty đạt 6, 086 tỷ đồng, xếp thứ 8/ 18 doanh
nghiệp bảo hiểm Phi nhân thọ.Tháng 05/ 2007 là năm đánh dấu một bƣớc
ngoặt lớn khi công ty chính thức kí kết hợp đồng đối tác chiến lƣợc
với tập đoàn Bankinvest, một tập đoàn tài chính gồm các nhà đầu tƣ
đến từ các nƣớc trong khu vực Scandinavia (Thụy Điển, Na Uy, Đan Mạch)
với trên 20 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực đầu tƣ tài chính với số
vốn trên 25 tỷ USD.AAA trở thành công ty Cổ phần bảo hiểm đầu tiên
của Việt Nam có đối tác chiến lƣợc nƣớc ngoài với tƣ cách là một cổ
đông. Các nhà đầu tƣ Đan Mạch hỗ trợ AAA phát triển hệ thống công

Khai thác viên, lãnh đạo đơn vị
Khai thác viên
Khai thác viên, lãnh đạo đơn vị
Khai thác viên, kế toán Khai thác viên, lãnh đạo đơn vị, các Khối quản lý liên quan

THỦ TỤC

B. Diễn giải.

1. Nắm bắt thông tin, tiếp cận khách hàng, nhận đề nghị:

a. Nắm bắt thông tin: Qua các phƣơng tiện truyền thông đại chúng,
các cơ quan hữu quan, các đơn vị chủ quản, các chủ hàng truyền thống
và tiềm năng.



a. Định nghĩa:

b. Thỏa thuận bảo hiểm/ Bút chú bảo hiểm/ Đơn bảo hiểm tạm thời.

SVTH: Phạm Thị Trà My
Lớp: Kinh tế bảo hiểm K49
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS Nguyễn Thị Chính
không hề giảm thậm chí còn tăng 82 triệu đồng so với năm 2009. Năm
2011 Bảo hiểm AAA – Hà Nội sớm khắc phục tình trạng trên, phấn đấu
một đồng chi phí bỏ ra phải thu về hơn một đồng lãi.

2.3.2. Các tồn tại và nguyên nhân.

Qua phân tích thực trạng kinh doanh bảo hiểm hàng húa XNK vận chuyển
bằng đƣờng biển ở Công ty bảo hiểm AAA – Hà Nội thời gian qua ta thấy
đƣợc những thế mạnh riêng của Công ty cùng với những thuận lợi trên
thị trƣờng đã giúp Công ty đạt đƣợc những kết quả rất khả quan, song
bên cạnh đó Công ty còn rất nhiều tồn tại yếu kém cần đƣợc khắc phục
kịp thời:

Một là, đội ngũ cán bộ của AAA – Hà nội chƣa đồng đều, chƣa đƣợc đào
tạo chuyên sâu về nghiệp vụ, thông thƣờng nhân viên khai thác kiêm
luôn phần giám định hàng húa bị tổn thất. Có sự hạn chế về trình độ
ngoại ngữ của cán bộ, nhân viên khai thác, đại lý đặc biệt ở các chi
nhánh Tỉnh lẻ. Sự hạn chế này gây cản trở cho việc mở rộng quan hệ
với khách hàng nƣớc ngoài nhƣ các doanh nghiệp liên doanh, doanh
nghiệp có 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Vì vậy, trong thời gian tới
Công ty phải có kế hoạch nâng cao trình độ nghiệp vụ, trình độ ngoại

dồi kỹ năng của mình hơn nhƣ thế có thể giảm đƣợc chi phí khi phải
thuê giám định bên ngoài.
· Công ty có thể đầu tƣ mua sắm trang thiết bị giám định hiện
đại, tăng cƣờng bố trí mạng lƣới đại lý giám định của mình tại các
trung tâm, những nơi có khách hàng tham gia bảo hiểm đông đảo nhằm
thực hiện công tác này một cách nhanh chóng, kịp thời, có khoa học
và đạt hiệu quả cao.
· Tăng cƣờng sự hợp tác và mở rộng mối quan hệ với các công ty
bảo hiểm, môi giới bảo hiểm, các tổ chức giám định trong và ngoài
nƣớc cùng các ban ngành có liên quan nhƣ hải quan, công an, toà án,
ngân hàng. Từ đó tranh thủ đƣợc sự giúp đỡ, ủng hộ trong quá trình
kinh doanh bảo nghiệp vụ.
· Trong khâu bồi thƣờng tránh sự rƣờm rà và phức tạp nhằm thực
hiện công tác này một cách nhanh chóng, kịp thời và có hiệu quả.
3.3.3. Về công tác đề phòng và hạn chế tổn thất.

· Làm tốt công tác đề phòng và hạn chế tổn thất nhƣ kiểm tra
các thiết bị bảo đảm an toàn của tàu, kiểm tra lại hàng hoá trƣớc
khi nhận bảo hiểm hay giám định ngay đối với hàng hoá xuất khẩu tại
cảng đi nhằm tránh những tổn thất xảy ra do bản chất hàng hoá gây
nên.
· Cần tƣ vấn cho khách hàng các biện pháp hạn chế tổn thất xẩy
ra nhƣ: phƣơng thức xếp hàng, dỡ hàng trên tàu cũng nhƣ ở cảng. Cùng
phối hợp với các nhà bảo hiểm trong nƣớc xây dựng các hệ thống báo
hiệu, tín hiệu, đội cứu nạn trên biển, hệ thống cảng lánh nạn, phao
tiêu, cùng nhau xây dựng và cải tiến hệ thống tín hiệu liên lạc nhanh
chóng, chính xác để có thể theo dõi sát đƣợc tình hình của hàng hoá
từ đó giảm thiểu tối đa tổn thất có thể xảy ra.
· Đối với các mặt hàng bao, hàng chở rời, sắt thép đƣợc bảo hiểm
tại Bảo hiểm AAA Hà Nội theo điều kiện "A" nhập về các cảng biển Việt

từ xa trong và ngoài nƣớc do ngành hay công ty bảo hiểm khác tổ chức.
Công ty cần duy trì các chế độ về quyền lợi và trách nhiệm của nhân
viên. Quan tâm hơn nữa đến đời sống riêng tƣ của cán bộ nhân viên,
kích thích sự nhiệt tình với công việc, tạo mối quan hệ hũa đồng trong
nội bộ giữa cấp lãnh đạo với nhân viên.
· Ngày càng hoàn thiện các văn bản về chế độ đãi ngộ, khen thƣởng
và kỷ luật đối với cán bộ công nhân viên công ty và các cộng tác viên
của công ty. Giáo dục, tuyên truyền cho nhân viên tinh thần trách
nhiệm đối với công việc, đặt trách nhiệm, uy tín và nhân cách của
mình lên hàng đầu, tránh hiện tƣợng móc ngoặc với khách hàng nhằm
trục lợi bảo hiểm gây thiệt hại về kinh tế cũng nhƣ uy tín của Công
ty.
SVTH: Phạm Thị Trà My
Lớp: Kinh tế bảo hiểm K49
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS Nguyễn Thị Chính
· Thƣờng xuyên tổ chức các cuộc hội thảo, gặp gỡ trao đổi ý kiến
kinh nghiệm công tác nội bộ công ty với các chi nhánh cộng tác viên.
· Bổ sung lực lƣợng nhân lực có chuyên môn nghiệp vụ từ các phòng
nghiệp vụ công ty tới các chi nhánh trực tiếp chỉ đạo công việc khai
thác ở đây.
Là một đơn vị mới thành lập, Bảo hiểm AAA Hà Nội cần chú trọng đến
công tác đào tạo nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu cho các
nhân viên, đào tạo ra cán bộ thực sự có năng lực, kiến thức và chuyên
sâu trong lĩnh vực này để gắn bó lâu dài với công ty.Ngoài ra công
ty cần có chính sách lƣơng thƣởng hợp lý đối với các công ty khai
thác. Thực tế ở Bảo hiểm AAA Hà Nội hiện nay các cán bộ khai thác
công ty đƣa ra mức khoán doanh thu nhất định. Biện pháp này là rất
hiệu quả, nú thúc đẩy cán bộ khai thác năng động hơn, ngoài ra cò
có tác dụng công bằng trong lao động. Bên cạnh đó công ty cần có mức

SVTH: Phạm Thị Trà My
Lớp: Kinh tế bảo hiểm K49
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS Nguyễn Thị Chính
một cho các DNBH, trang bị cho họ những kiến thức về luật kinh doanh
và luật bảo hiểm quốc tế cũng nhƣ các thông lệ quốc tế liên quan,có
nắm vững đƣợc cơ sở pháp lý thì các DNBH mới có khả năng phát triển
tốt,cạnh tranh đƣợc với các DNBH nƣớc ngoài đang vào thị trƣờng Việt
Nam ngày càng nhiều.

· Đối với các nghiệp vụ bảo hiểm nói chung và nghiệp vụ bảo hiểm
hàng húa XNK vận chuyển bằng đƣờng biển nói riêng, Bộ tài chính nên
quy định mức phí sàn cho từng sản phẩm bảo hiểm cơ bản.Có nhƣ vậy
thì các công ty bảo hiểm nhỏ, mới tham gia vào thị trƣờng mới có thể
cạnh tranh công bằng với các công ty khác, trỏnh tình trạng các doanh
nghiệp đua nhau giảm giá để thu hút khách hàng nhƣng theo đó chất
lƣợng dịch vụ cũng giảm đi,gây thiệt thòi cho khách hàng và giảm uy
tín chung của ngành bảo hiểm.

· Một kiến nghị về hoạt động XNK-nền móng cho sự phát triển của
bảo hiểm hàng húa XNK vận chuyển bằng đƣờng biển là Nhà nƣớc nên có
những quy chế, chính sách cụ thể khuyến khích các công ty XNK ký kết
hợp đồng theo điều kiện xuất khẩu CIF, nhập khẩu FOB hoặc CNF nhƣ:giảm
thuế XNK nào cho chủ hàng tham gia bảo hiểm tại Việt Nam, hoặc giảm
thuế doanh thu hay thuế giá trị gia tăng,cải cách thủ tục hải quan
theo hƣớng đơn giản húa mà vẫn hiệu quả,hoặc giao hạn ngạch XNK cao
hơn cho các chủ hàng tham gia bảo hiểm tại các công ty bảo hiểm của
Việt Nam.

Có đƣợc các chính sách ƣu đãi trên, các công ty XNK sẽ chủ động hơn

của các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam, đƣa ra những phƣơng hƣớng
hoạt động để giúp các doanh nghiệp thành viên cùng tiến bộ,mang lại
lợi ích bảo hiểm lớn nhất cho ngƣời tiêu dung. Cũng trong năm 2000,luật
kinh doanh bảo hiểm ra đời đã khiến hoạt động bảo hiểm trong nƣớc
cạnh tranh lành mạnh hơn.Có những yếu tố trên nhƣng hoạt động giữa
các công ty bảo hiểm trên thị trƣờng Việt Nam còn thiếu sự hợp tác
chặt chẽ,đặc biệt còn có tình trạng cạnh tranh không lành mạnh nhƣ
việc hạ phí để thu hút khách hàng hoặc chịu lỗ để lấy doanh số.Đặc
biệt trong giai đoạn hiện nay, sự xuất hiện của hàng loạt các tập
đoàn bảo hiểm nƣớc ngoài ở Việt Nam với tiềm lực tài chính và kinh
nghiệm bảo hiểm vƣợt trội so với các doanh nghiệp bảo hiểm còn non
trẻ ở nội địa.Những thực trạng trên đòi hỏi cơ quan quản lý Nhà nƣớc
về bảo hiểm mà ở đây là cục quản lý giám sát bảo hiểm của Bộ tài chính
phải có sự giám sát chặt chẽ tình hình thị trƣờng bảo hiểm để có sự
can thiệp trực tiếp hay gián tiếp qua Bộ tài chính.Các biện pháp cần
thiết nhƣ đặt mức phí sàn để theo đó các doanh nghiệp bảo hiểm không
thể hạ phí để cạnh tranh không lành mạnh,xử lý cạnh tranh phí giữa
các doanh nghiệp qua các trọng tài kinh tế.

3.4.2. Về phía Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam.

Hiệp hội bảo hiểm cần làm tốt vai trò là cầu nối giữa các DNBH với
các cơ quan nhà Nƣớc với mục tiêu chủ yếu là góp phần quản lý và thúc
đẩy thị trƣờng bảo hiểm Việt Nam ngày càng phát triển.Trƣớc tình hình
cạnh tranh không lành mạnh trên thị trƣờng bảo hiểm hàng húa hiện
nay nhƣ:hạ phí,tăng chi hoa hồng thì yêu cầu Hiệp hội Bảo hiểm Việt
Nam phải đƣa ra các kiến nghị với nhà nƣớc cũng nhƣ các biện pháp
thực hiện trong quyền hạn để sớm giải quyết tình trạng cạnh tranh
không lành mạnh trên thị trƣờng,sớm đƣa thị trƣờng hoạt động có hiệu
quả hơn.

giải pháp hoặc kiến nghị lên nhà Nƣớc, Bộ tài chính để hạn chế cạnh
tranh không lành mạnh của thị trƣờng bảo hiểm hàng húa hiện nay.

KẾT LUẬN

Nền kinh tế nƣớc ta đang trong quá trình hội nhập với kinh tế trong
khu vực cũng nhƣ nền kinh tế thế giới. Chính vì vậy, hoạt động buôn
bán quốc tế đang diễn ra nhộn nhịp góp phần thúc đẩy tiến trình hội
nhập của nền kinh tế nƣớc ta.

Với vai trò là tấm lá chắn cho các doanh nghiệp trong hoạt động sản
xuất kinh doanh, bảo hiểm hàng húa nói chung và bảo hiểm hàng húa
xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đƣờng biển nói riêng đã không ngừng
phát triển và góp phần vào sự phát triển chung của nền kinh tế.

Cũng nhƣ các doanh nghiệp khác trên thị trƣờng Việt Nam, AAA Hà Nội
cũng đang triển khai bảo hiểm hàng húa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng
đƣờng biển và đã nắm giữ một thị phần không nhỏ đối với nghiệp vụ
bảo hiểm này, đóng góp chung vào kết quả của Tổng công ty. Vì vậy,
vấn đề đặt ra cho các công ty bảo hiểm trong nƣớc cũng nhƣ AAA Hà
Nội là phải tự hoàn thiện mình, nâng cao khả năng cạnh tranh trên
thị trƣờng, cải tiến các sản phẩm cho phù hợp với những yêu cầu của
khách hàng. Về phía Nhà nƣớc cũng cần có những biện pháp hỗ trợ để
hàng húa xuất nhập khẩu của Việt Nam đƣợc bảo hiểm tại thị trƣờng
trong nƣớc nhằm thúc

SVTH: Phạm Thị Trà My
Lớp: Kinh tế bảo hiểm K49
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS Nguyễn Thị Chính

XNK Xuất nhập khẩu

GTBH Giá trị bảo hiểm

STBH Số tiền bảo
hiểm

HĐBH Hợp đồng bảo
hiểm

DNBH Doanh nghiệp bảo
hiểm

KDBH Kinh doanh bảo
hiểm

GYCBH Giấy yêu cầu bảo hiểm

ĐPHCTT Đề phòng hạn chế
tổn thất

SVTH: Phạm Thị Trà My
Lớp: Kinh tế bảo hiểm K49
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS Nguyễn Thị Chính


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status