Nhân thức chung về thẩm quyền xét xử sơ thẩm hình sự của tòa án nhân dân các cấp - Pdf 26

I.Mở bài
Hiện nay trong công cuộc đổi mới ở nước ta cải cách tư pháp đang được Đảng và
nhà nước ta hết sức quan tâm. Và đang tích cực triển khai, coi Đảng là nhân tố quan trọng
thúc đẩy quá trình nhà nước pháp quyền.
Trong bối cảnh đó, Bộ chính trị đã ra nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02 tháng 01
năm 2002 và nghị quyết 49-NQ/TW nhằm đẩy mạnh hơn nữa công cuộc cải cách tư pháp
trong thời gian tới. Các nghị quyết này đề cập đến việc phân định thẩm quyền của tòa án
không phụ thuộc vào đơn vị hành chính. Tòa án nhân dân được phân thành tòa án sơ thẩm
khu vực, tòa án phúc thẩm, tòa án thượng thẩm và tòa an nhân dân tôi cao. Riêng đối với
tòa án quân sự thì cần phải xác định hợp lý phạm vi thẩm quyền xét xử của tòa án quân sự
theo hướng chủ yếu xét xử những vụ án về các tội xâm phạm nghĩa vụ trách nhiệm quân
nhân, những vụ án lien quan đến bí mật quân sự….
Như vậy theo nghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp thì hệ thống tòa án nước ta
sẽ có thay đổi cơ bản về mô hình tổ chức. Tòa án địa phương sẽ được thay thế bởi tòa án
sơ thẩm khu vực và tòa án thẩm, các tòa phúc thẩm và tòa án nhân dân tối cao sẽ chuyển
đổi thành Tòa thượng thẩm được tổ chức theo khu vực.
Trước yêu cầu đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp cần có sự đổi mới
đồng bộ về pháp luật để tạo cơ sở pháp lý cho sự phân định lại thẩm quyền xét xử của tòa
án nhân dân các cấp, đồng thời cần có những giải pháp trước mắt và lâu dài để thực hiện
lại việc phân định lại thẩm quyền xét xử hợp lý và đạt hiệu quả cao.
B.Thân bài:
I. Nhân thức chung về thẩm quyền xét xử sơ thẩm hình sự của tòa án nhân dân các
cấp.
1. Khái niệm thẩm quyền xét xử sơ thẩm hình sự
“ Thẩm quyền “ là một khái niệm quan trọng, trọng tâm của khoa học pháp lý. Thuật
ngữ “ thẩm quyền “ bắt nguồn từ tiếng latinh “ competentia “. Theo từ điển luật học thì “
thẩm quyền “ là “ quyền chính thức được xem xét để kết luận và định đoạt, quyết định một
vấn đề.
Về lý luận, quyền lực Nhà nước của bất kì Nhà nước nào cũng bao gồm ba loại quyền
này: Quyền lập pháp, Quyền hành pháp và Quyền tư pháp. Thẩm quyền của cơ quan Nhà
nước bắt nguồn từ thẩm quyền của Nhà nước. Mỗi cơ quan Nhà nước có chức năng nhiệm

phạm tội để xác định thẩm quyền xét xử.
Ở Việt Nam việc xác định thẩm quyền theo đối tượng là phân định thẩm quyền giữa
Tòa án quân sự và Tòa án nhân dân.
3. Ý nghĩa của việc phân định thẩm quyền xét xử thẩm quyền hình sự.
Giai đoạn xét xử sơ thẩm là giai đoạn xét xử đầu tiên và có ý nghĩa quan trọng trong cả
quá trình xét xử vụ án.
* Việc phân định thẩm quyền xét xử sơ thẩm hình sự đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng
chống tội phạm.
Nhằm kiềm chế và làm giảm tội phạm hình sự cầ phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn
bộ hệ thống chính trị nhằm nâng cao hiệu quả của chương trình Quốc gia phòng chống tội
phạm.
2
Việc phân định thẩm quyền xét xử sơ thẩm hình sự một cách rõ rang và hợp lí sẽ hạn
chế được các tranh chấp về thẩm quyền, vụ án sẽ được giải quyết kịp thời và chính xác
hơn, đáp ứng yêu cầu đấu tranh và phòng chống tội phạm.
* Việc phân định thẩm quyền xét xử sơ thẩm sẽ bảo đảm được quyền tự do dân chủ
của công dân.
- Đ3 HP 1992 của nước CHXHCN Việt Nam quy định: “ Nhà nước bảo đảm và
khong ngừng pháp huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân “
Việc quy định thẩm quyền xét xử cũng cần phải hợp lí và khả thi.
Việc bảo đảm những quyền tự do dân chủ đó của công dân cũng góp phần cũng góp phần
quan trọng để làm rõ sự thật của vụ án, giúp cơ quan tiến hánh tố tụng giải quyết các vụ án
một cách nhanh chóng, chính xác bảo đảm pháp chế XHCN trong tố tụng hìh sự.
* Việc phân định thẩm quyền xét xử sơ thẩm sẽ bảo đảm tính tiết kiệm và hậu quả
của các hoạt động tố tụng
.
- Tiết kiệm chi phí cho hoạt động tố tụng.
- Việc phân định hợp lý thẩm quyền xét xử sơ thẩm cũng có ý nghĩa quan trọng đối
với những người tham gia tố tụng.
* Việc phân định tẩm quyền xét xử sơ thẩm là cơ sở để tổ chức bộ máy các cơ quan

Trong trường hợp tội phạm thực hiện tại nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được
nơi thực hiện tội phạm thì Tòa án có thẩm quyền xét xử là tòa án nơi kết thúc việc điều tra.
Vụ án về tội phạm xảy ra ở nước ngoài thuộc thẩm quyền xét xử của tòa nhân dân
cấp tỉnh mà không phụ thuộc vào loại tội phạm được thực hiện.
Việc quy định thẩm quyền xét xử thuộc về Tòa án nơi tội phạm được thực hiện nhằm tạo
điều kiện thuận lợi cho các cơ quan tiến hành tố tụng.
Đ 172 BBLTTHS 2003 quy định về thẩm quyền xét xử những tội phạm xảy ra trên
tàu bay hoặc tàu biển của nước CHXHCN Việt Nam.
5. Thẩm quyền xét xử theo hoạt động.
Đối tượng phạm tội được xem xét là một trong những dấu hiệu để xác định thẩm
quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án ở Việt Nam, phân định thẩm quyền theo đối tượng chính
là phân định thẩm quyền xét xử giữa tòa án nhân dân và tòa án quân sự ( Đ 3 pháp lệnh tổ
chức tòa án quân sự 2002.).
II. Thực tiễn thực hiện thẩm quyền xét xử sơ thẩm hình sự của Tòa án nhân dân các
cấp và một số kiến nghị.
1. Những kết quả đạt được trong quá trình thực hiện thẩm quyền xét xử sơ
thẩm hình sự của Tòa án nhân dân các cấp theo quy định của BLTTHS-2003
Theo thống kê của tòa án nhân dân tối cao, từ năm 1997 đến năm 2002 trung bình
mỗi năm các tòa án nhân dân cấp huyện xét xử sơ thẩm khoảng 28730 vụ
.
4
Số lượng các vụ án do tòa phúc thẩm tối cao xét xử còn nhiều, các tòa án này phải
xét xử lưu động tại các địa phương, đây cũng là một nguyên nhân bù đủ tỉ lệ xét xử của các
tòa phúc thẩm của Tòa án nhân dân tối cao chưa cao.
Trước thực tiễn đó, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật
quan trọng để kịp thời giải quyết tình trạng trên.
* Tình hình hoạt động của các Tòa án nhân dân cấp huyện đã được tăng thẩm
quyền
Các tòa án cấp huyện lần lượt được tăng thẩm quyền cơ bản đã hoàn thành tốt nhiệm vụ
đáp ứng yêu cầu đặt ra.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status