Một số biện pháp huy động và sử dụng vốn tại Công ty CP Đầu tư-Xây dựng và Phát triển Nam Việt - Pdf 26

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN 4
I. KHÁI QUÁT VỀ VỐN VÀ VẤN ĐỀ SỬ DỤNG VỐN 4
1. Khái niệm và vai trò của vốn 4
2. Phân loại vốn: 6
3. Vấn đề sử dụng và bảo toàn vốn 8
II. CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN VÀ
HỆ THỐNG CÁC CHỈ TIÊU PHẢN ÁNH HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN
11
1. Các phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng vốn 11
2. Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn 12
III. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ KỸ THUẬT CỦA NGÀNH XÂY
DỰNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở NƯỚC TA 19
1. Doanh nghiệp xây dựng và mối quan hệ kinh doanh trong nền kinh tế thị trường
19
2. Đặc điểm của sản phẩm xây dựng và đặc điểm của quá trình sản xuất kinh doanh
trong các đơn vị vật tư và xây dựng 20
3. Đặc trưng và vai trò của vốn trong doanh nghiệp xây dựng 23
CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY CỔ
PHẦN ĐẦU TƯ – XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NAM VIỆT 26
I. GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ – XÂY DỤNG VÀ
PHÁT TRIỂN NAM VIỆT 26
1. Quá trình hình thành và phát triển 26
2. Ngành nghề kinh doanh 27
3. Các yếu tố sản xuất của công ty 28
4. Cơ cấu tổ chức của công ty 30
5. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của Công ty Nam Việt 32
II. TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG, QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN Ở CÔNG
TY 34
1. Hiện trạng về vốn của Công ty 34

đoạn hội nhập kinh tế như hiện nay, vốn cũng là yếu tố cạnh tranh của doanh nghiệp
trên thị trường. Việc quản lý và sử dụng vốn sẽ ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp. Chính vì vậy, việc quản lý vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn là một vấn đề quan trọng mà bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải quan tâm.
Muốn đứng vững và ngày càng phát triển trên thị trường, các doanh nghiệp sẽ
phải áp dụng nhiều giải pháp đồng bộ. Bên cạnh các chính sách vĩ mô, chính sách huy
động tối đa mọi nguồn lực, thì cũng cần phải có các giải pháp quản lý và sử dụng vốn
cú hiệu quả, hạn chế thấp nhất việc thất thoát và sử dụng vốn không đúng mục đích. Ý
thức được thực tế trên của các doanh nghiệp Việt Nam, em đã chọn đề tài “Một số biện
pháp huy động và sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần đầu tư – Xây dựng và Phát triển
Nam Việt ” làm đề tài báo cáo thực tập tốt nghiệp của mình.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Bài báo cáo bao gồm 3 chương:
Chương I: Một số vấn đề lý luận chung về vốn và hiêu quả sử dụng vốn.
Chương II: Thực trạng huy động, quản lý và sử dụng vốn ở Công ty Cổ phần
Đầu tư – Xây dựng và Phát triển Nam Việt.
Chương III: Phương hướng và các biện pháp huy động vốn và nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn ở công ty Cổ phần Đầu tư- Xây dựng và Phát triển Nam Việt
Trong quá trình thực tập tại Công ty, dưới sự hướng dẫn nhiệt tình của cô giáo Vũ
Thị Duyên cùng các anh chị tại Công ty, em đã hoàn thành bài báo cáo của mình. Tuy
nhiên, bài báo cáo của em không tránh khỏi những thiếu sót. Em mong nhận được sự
góp ý thêm của cô để bài viết của em hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên: Vũ Huy Toàn – Lớp: TCNH17A CĐVN
3
XMột số biện pháp huy động và sử dụng vốn tại Công ty CP Đầu tư-Xây dựng và Phát triển Nam Việt
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ
SỬ DỤNG VỐN
I. KHÁI QUÁT VỀ VỐN VÀ VẤN ĐỀ SỬ DỤNG VỐN
1. Khái niệm và vai trò của vốn
1.1 Khái niệm
Để tiến hành bất cứ 1 hoạt đông sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp nào cũng cần phải

+ T – H – T’
Mô hình này được áp dụng trong trường hợp đầu tư trên lĩnh vực thương mại. Trong
trường hợp này, hàng hoá là hàng hoá, dịch vụ lưu thông và thực hiện giá trị.
+ T – T’
Phương thức vận động của vốn trong các tổ chức trung gian tài chính như trong
trường hợp: Đầu tư mua cổ phiếu công ty, trái phiếu, đầu tư góp vốn liên doanh.
Trên thực tế, trong điều kiện kinh tế thị trường một doanh nghiệp các mô hình trên, miễn
sao đạt được mục tiêu có mức doanh lợi cao và nằm trong khuôn khổ pháp luật.
1.2 Vai trò của vốn
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động tài chính của doanh nghiệp có một vị trí quan
trọng đặc biệt, chi phối tất cả các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh của một
doanh nghiệp trong đó, quản lý và sử dụng vốn kinh doanh là khâu trọng tâm nhất, có
tính chất quyết định tới mức độ tăng trưởng hoặc suy thoái của một doanh nghiệp.
Kinh doanh là một hoạt động kiếm lời, lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu của mọi doanh
nghiệp. Bất kỳ một doanh nghệp nào muốn tiến hành sản xuất kinh doanh thì vấn đề thiết
yếu đặt ra đối với doanh nghệp là phải có một lượng vốn nhất định bao gồm: Vốn cố định,
vốn lưu động và vốn chuyên dùng khác. Vốn kết hợp với các yếu tố đầu vào khác trong quá
trình sản suất (lao động, tài nguyên, kỹ thuật) để thực hiện quá trình sản xuất kinh doanh
nhằm mục đích sinh lợi nhuận.
Vốn kinh doanh có vai trò quyết định trong việc thành lập, hoạt động, phát triển của
từng loại hình doanh nghiệp theo luật định. Vốn kinh doanh của doanh nghiệp lớn hay
nhỏ là một trong những điều kiện để xếp doanh nghiệp vào quy mô lớn, trung bình
hay nhỏ và cũng là một trong những điều kiện để sử dụng các nguồn tiềm năng hiện
có và tương lai về sức lao động, nguồn hàng hóa, mở rộng và phát triển thị trường, mở
rộng lưu thông hàng hoá, là điều kiện phát triển kinh doanh. Đồng thời, tuỳ theo
nguồn vốn kinh doanh cũng như phương thức huy động vốn mà doanh nghiệp lựa
chọn loại hình doanh nghiệp là: Công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh
nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà nước, hay doanh nghiệp liên doanh.
Sinh viên: Vũ Huy Toàn – Lớp: TCNH17A CĐVN
5

Việc phân loại vốn của doanh nghiệp thường được xem xét dưới những góc độ khác
nhau.
Sinh viên: Vũ Huy Toàn – Lớp: TCNH17A CĐVN
6
XMột số biện pháp huy động và sử dụng vốn tại Công ty CP Đầu tư-Xây dựng và Phát triển Nam Việt
2.1 Theo quy định của pháp luật
Gồm 2 loại:
- Vốn pháp định: là mức vốn tối thiểu phải có để thành lập doanh nghiệp do pháp
luật quy định đối với từng nghành, nghề và đối với từng loại hình sở hữu doanh
nghiệp.
- Vốn điều lệ: Là số vốn do cách thành viên đóng góp và được ghi vào điều lệ của
doanh nghiệp (vốn điều lệ không được thấp hơn vớn pháp định)
2.2 Theo trình tự hình thành vốn
Gồm 4 loại:
- Vốn đầu tư ban đầu: Là số vốn phải có khi hình thành doanh nghiệp, tức là số vốn
cần thiết để đăng ký kinh doanh.
- Vốn bổ sung: Là số vốn tăng thêm do bổ sung từ lợi nhuận, do nhà nước bổ sung
(Đối với cách đơn vị hành chính sự nghiệp) bằng phân phối hoặc lại nguồn vốn, do
sự đóng góp của các thành viên, do bán trái phiếu.
- Vốn liên doanh: Là vốn đóng góp do các bên cùng cam kết liên doanh với nhau để
hoạt động thương mại hoặc dịch vụ.
- Vốn đi vay: Trong hoạt động kinh doanh, ngoài vốn tự có và coi như tự có, doanh
nghiệp còn sử dụng một khoản vốn đi vay khá lớn của ngân hàng. Ngoài ra, nó còn
có khoản vốn chiếm dụng lẫn nhau của các đơn vị, nguồn khách, khách hàng và
bạn hàng.
2.3 Theo phương pháp thức chung chuyển vốn
Gồm 2 loại.
- Vốn cố định: là bộ phận của vật tư ứng trước về tài sản cố định-Tài sản cố định là
những tài sản có giá trị lớn, thời gian sử dụng dài, có chức năng là tư liệu lao động
chủ yếu, có đặc điểm nổi bật là tham gia được vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh

thực hiện cũng như sự quản lý, hạch toán, theo dõi, kiểm tra, nghệ thuật kinh doanh và
cơ hội kinh doanh.
Sử dụng vốn có hiệu quả chính là thể hiện trình độ của người quản lý cũng như khả năng
kinh doanh của doanh nghiệp. Người quản lý doanh nghiệp luôn phải lưu tâm đến việc
thăm dò, phân tích đẻ lựa chọn các phương án đầu tư cho thích hợp, phải quyết định được
thời điểm nào thì nên đầu tư vào bên trong hay bên ngoài. Đầu tư vào bên trong là khoản
đầu tư vốn để mua sắm các yếu tố nhằm tăng khả năng sản xuất kinh doanh như đổi mới
sản phẩm, quy trình công nghệ, đổi mới thiết bị, đầu tư chuyển hướng kinh doanh, nâng
cấp địa điểm kinh doanh. Bên cạnh đó doanh nghiệp có thể đầu tư vốn ra bên ngoài còn gọi
là đầu tư tài chính. Đầu tư bên ngoài thường được tiến hành bằng 2 hình thức: Góp vốn
Sinh viên: Vũ Huy Toàn – Lớp: TCNH17A CĐVN
8
XMột số biện pháp huy động và sử dụng vốn tại Công ty CP Đầu tư-Xây dựng và Phát triển Nam Việt
cùng liên doanh với một doanh nghiệp khác, đầu tư mua cổ phiếu, trái phiếu. Trong nền
kinh thế thị trường, việc các doanh nghiệp đầu tư ra bên ngoài không chỉ nhằm mục tiêu
thu lợi nhuận mà còn nhằm mục đích đảm bảo an toàn vốn vì doanh nhiệp có thể san sẻ
trách nhiệm và rủi ro (nếu có) cho các đơn vị khác cùng gánh chịu.
Để có quyết định đầu tư đúng hướng thì đòi hỏi doanh nghiệp phải hiểu rõ được sở
trường, thế mạnh của mình cũng như các yếu tố khách quan của thị trường. Điều quan
trọng có tính nguyên tắc trong việc lựa chọn một quyết định đầu tư là độ an toàn của
các dự án và mức doanh lợi có khả năng thu được với các yếu tố chi phí như giá vốn
(lãi suất) và mức thuế phải nộp trong việc sử dụng vốn, ngoài việc xác định được đúng
hướng đầu tư thì người quản lý phải tìm được lời giải của hàng loạt các bài toán các
phướng án như cân đối các nguồn vốn hiện có, nếu thiếu vốn sẽ khai thác từ nguồn
vốn nào, bằng phương thức nào một việc bổ túc cơ cấu vốn kinh doanh của doanh
nghiệp theo tỷ lệ nào thì hợp lý, các biện pháp để bảo toàn và phát triển vốn.
Từ các vấn đề nêu trên đây ta thấy rằng mục đích sử dụng vốn trong kinh doanh là
nhằm đảm bảo nhu cầu tối đa về vốn cho việc phát triển kinh doanh hàng hoá trên cơ
sở nguồn vốn có hạn sử dụng một cách hợp lý, tiết kiệm, đem lại hiệu quả cao nhất.
Để đạt được mục đích như trên, yêu cầu cơ bản của sử dụng vốn là:

Bảo toàn và phát triển vốn cố định:
Trong nền kinh tế thị trường, bảo toàn vốn cố định được hiểu là phải thu hồi một
lượng giá trị thực của tài sản cố định để sao cho ít nhất cũng có thể tái đầu tư năng lực
sử dụng (giá trị sử dụng) ban đầu của tài sản cố định.
Trong quá trình sử dụng, nhìn chung tài sản cố định không bị thay đổi hình thái hiện
vật nhưng năng lực sản xuất và giá trị của chúng bị giảm dần. Đó là hiện tượng hao
mòn. Đồng thời, khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, vốn cố định chuyển
dịch giá trị từng phần và cũng thu hồi từng phần, nó tách ra thành 2 thành phần: Một
phần giá trị tương ứng với phần giá trị hao mòn sẽ gia nhập vào giá trị thành phẩm và
được tích luỹ lại khi sản phẩm được thiêu thụ, còn bộ phận khác đặc trưng cho phần
giá trị còn lại của tài sản cố định.
Từ những đặc điểm về sự vận động của vốn kinh doanh cho thấy việc bảo toàn và
phát triển vốn cố định được đằt ra như một nhu cầu tất yếu của mỗi doanh nghiệp. Để
bảo toàn và tăng vốn cố định của doanh nghiệp cần thiết phải sử dụng các biện pháp
sau:
- Phải đánh giá và đánh giá lại tài sản cố định một cách thường xuyên là chính xác.
Trong nền kinh tế thị trường, giá cả thường biến động, hiện tượng hao mòn vô
hình thường diễn ra rất đa dạng và mau lẹ. Những điều đó làm cho giá ban đầu của
tài sản cố định và giá trị còn lại của chúng bị sai lệch, phản ánh sai lệch so với mặt
Sinh viên: Vũ Huy Toàn – Lớp: TCNH17A CĐVN
10
XMột số biện pháp huy động và sử dụng vốn tại Công ty CP Đầu tư-Xây dựng và Phát triển Nam Việt
bằng giá trị hiện tại của tài sản cố định. Việc thường xuyên đánh giá vào đánh giá
lại chính xác tài sản cố định là cơ sở cho việc xác định mức khấu hao hợp lý để thu
hồi vốn hoặc xử lý những tài sản cố định vì mất giá để chống lại thất thoát vốn.
- Lựa chọn các phương pháp khấu hao thích hợp để vừa đảm bảo thu hồi vốn nhanh,
bảo toàn được vốn, vừa đỡ gây ra những biến động lớn trong giá thành và bán
thành phẩm. Trong nền kinh tế thị trường, quy luật cạnh tranh luôn là một động lực
thúc đẩy các doanh nghiệp tăng cường đổi mới kỹ thuật, vì thế các phương pháp
tính khấu hao gia tăng nhằm rút ngắn thời gian thu hồi vốn cố định được coi là xu

giữa nguyên được khả năng chuyển đổi được toàn bộ tiền vốn của doanh nghiệp
với các loại tiền khác tại những thời điểm nhất định.
- Phát triển vốn là quá trình trích lập một phần lợi nhuận nhà nước cấp phát thêm
hoặc là do chủ doanh nghiệp bổ xung vốn vào sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
Như vậy, trong quá trình sử dụng vốn vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì đòi hỏi
các doanh nghiệp không những phải đảm bảo cho các loại tài sản không bị mất mát,
hư hỏng trước thời hạn mà còn phải thường xuyên duy trì được giá trị của đồng vốn
của mình qua việc nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh của tài sản cố định, tài sản
lưu động, duy trì khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Đây còn là cơ sở để doanh
nghiệp mở rộng và đổi mới công nghệ sản xuất kinh doanh.
2. Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn
2.1 Khái niện chung về hiệu quả
Mục đích cuối cùng của mọi doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trường là
sản xuất kinh doanh đem lại hiệu quả nhất định, sao cho chi phí thấp nhất mà hiệu quả
cao nhất, lấy hiệu quả làm thước đo cho mọi hoạt động của doanh nghiệp.
- Hiệu quả kinh doanh: Là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử đụng các
nguồn nhân tài, vật lực của doanh nghiệp để đạt được kết quả cao nhất quá trình
kinh doanh với tổng chi phí thấp nhât.
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là một vấn đề phức tạp có quan hệ với tất cả các
yếu tố trong quá trình kinh doanh (lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao động) nên
doanh nghiệp chỉ có thể đạt được hiệu quả cao khi sử dụng các yếu tố cơ bản của quá trình
kinh doanh có hiệu quả.
Kết quả đầu tư
+ Hiệu quả kinh doanh =
Sinh viên: Vũ Huy Toàn – Lớp: TCNH17A CĐVN
12
XMột số biện pháp huy động và sử dụng vốn tại Công ty CP Đầu tư-Xây dựng và Phát triển Nam Việt
Yếu tố đầu vào
- Hiệu quả sử dụng vốn: Hoạt động sản xuất kinh doanh thực chất là hoạt động

13
XMột số biện pháp huy động và sử dụng vốn tại Công ty CP Đầu tư-Xây dựng và Phát triển Nam Việt
Lợi nhuận thuần
+ Hệ số doanh lợi của vốn tự có =
Vốn chủ sở hữu
Chỉ tiêu này cho biết mức độ hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp và được các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm khi quyết định bỏ vốn đầu tư vào
doanh nghiệp.
Chỉ tiêu này cho biết một dòng vốn chủ sở hữu tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trong
một kỳ sản xuất kinh doanh.
Lợi nhuận thuần
+ Hệ số doanh lợi doanh thu =
Tổng doanh thu thuần
Hệ số này cho biết một đồng doanh thu thuần có bao nhiêu đồng lợi nhuận thuần.
Sự biến động của hệ số này phản ánh sự biến động về hiệu quả hay ảnh hưởng của các
chiến lược tiêu thụ, nâng cao chất lượng sản phẩm.
2.2.2 Hệ thống các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Trong nền kinh tế thị trường thì mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp là đạt được lợi
nhuận tối đa. Để đạt được mục tiêu đó, ngoài việc quản lý và sử dụng có hiệu quả vốn
cố định, doanh nghiệp cũng cần phải hết sức quan tâm đến vấn đề quản lý và sử dụng
có hiệu quả vốn lưu động, góp phần nâng cao hiệu quả vốn lưu động, góp phần nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn nói chung. Việc sử dụng vốn lưu động có hiệu quả được
phản ánh qua một số chỉ tiêu sau:
Tổng doanh thu thuần
+ Sức sản xuất của vốn lưu động =
Vốn lưu động bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn lưu động làm ra mấy đồng lợi nhuận trong kỳ.
Lơi nhuận thuần
+ Sức sinh lợi của vốn lưu động =
Vốn lưu động bình quân

Sinh viên: Vũ Huy Toàn – Lớp: TCNH17A CĐVN
15
XMột số biện pháp huy động và sử dụng vốn tại Công ty CP Đầu tư-Xây dựng và Phát triển Nam Việt
- Sức sản xuất của tài sản cố định =
Nguyên giá bình quân tài sản cố định
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng nguyên giá bình quân tài sản cố định sử dụng vào sản
xuất tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần.
- Hiệu quả sử dụng vốn lưu động Tổng doanh thu thuần
tính theo doanh thu =
Vốn lưu động bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh bình quân trong kỳ kinh doanh, một đồng vốn lưu động đưa vào
sản xuất tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần .
Lợi nhuận thuần
- Sức sinh lợi của tài sản cố định =
Nguyên giá bình quân tài sản cố định
Chỉ tiêu này cho bi cứ một đồng nguyên giábình quân tài sản cố đình đem lại mấy
đồng lợi nhuận thuần.
Đối với các doanh nghiệp, hai chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng lớn
phản ánh việc sử dụng vốn lưu động càng có hiệu quả.
2.2.4 Hệ thống các chỉ tiêu tài chính
- Chỉ tiêu về tỷ suất tài trợ:
Nguồn vốn chủ sở hữu
+ Tỷ suất tài trợ =
Tổng nguồn vốn
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ độc lập về mặt tài chính. Tỷ số này càng cao chứng tỏ
mức độc lập càng lớn, hầu hết tài sản của doanh nghiệp đều được đầu tư bằng nguồn
vốn chủ sở hữu.
- Chỉ tiêu về khả năng thanh toán:
Tài sản lưu động
+ Khả năng thanh toán hiện hành =

Đồng thời, cũng làm tăng rủi ro cho chủ sở hữu. Chỉ tiêu này có ý nghĩa rất quan
trọng không những đối với chủ doanh nghiệp mà còn cho cả những nhà đầu tư,
người cho vay. Nhà đầu tư, người cho vay nhìn vào tỷ lệ góp vốn của chủ sở hữu
nhiều hay ít để đảm bảo mức độ tin tưởng và an toàn cho các món nợ. Còn đối với
chủ doanh nghiệp thông qua vay nợ vẫn nắm được quyền kiểm soát điều hành
Sinh viên: Vũ Huy Toàn – Lớp: TCNH17A CĐVN
17
XMột số biện pháp huy động và sử dụng vốn tại Công ty CP Đầu tư-Xây dựng và Phát triển Nam Việt
doanh nghiệp và nếu lợi nhuận thu được lớn hơn lãi phải trả thì phần lợi nhuận cho
chủ sở hữu cũng gia tăng.
Tổng số nợ
+ Hệ số nợ =
Tổng giá trị toàn bộ tài sản
Tỷ lệ này càng thấp chứng tỏ doanh nghiệp không phải vay nợ hay khả năng thanh toán
của doanh nghiệp là cao và ngược lại. Tùy thuộc vào hoạt động kinh doanh, quy mô
kinh doanh mà doanh nghiệp lựa chọn hệ số này một cách thích hợp.
Lợi nhuận trước thuế
+ Khả năng thanh toán lãi vay =
Lãi nợ vay
Chỉ tiêu này cho biết mức độ lợi nhuận đảm bảo khả năng trả lãi hàng năm như thế
nào. Chỉ số này càng cao càng có lợi cho doanh nghiệp.
- Chỉ tiêu về khả năng hoạt động : phản ánh hiệu quả sử dụng nguồn vốn của doanh
nghiệp mà cụ thể ở từng bộ phận, cấu thành nguồn vốn của doanh nghiệp.
Doanh thu thuần
+ Vòng quay tiền vốn =
Tài sản lưu động – Hàng tồn kho
Vòng quay tiền càng nhanh chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng đồng vốn có hiệu quả và
ngược lại.

Doanh thu thuần

người muốn xây một ngôi nhà cho gia đình mình ở thì ngoài việc thuê một người thiết
kế giỏi người đó sẽ phải tìm một công ty xây dựng có tầm cỡ về khả năng xây dựng để
đảm bảo cho ngôi nhà của họ được như họ mong muốn. Chính vì vậy mà vai trò của
ngành xây dựng ngày càng trở lờn quan trọng hơn, Mỗi năm có hàng ngàn các công
trình xây dựng trên địa bàn Thành phố Hà Nội nói riêng con số này cho thấy rằng nhu
cầu về xây dựng ngày càng lớn mà ngành xây dựng là ngành có tính thời đại mỗi năm,
mỗi tháng lại có các công trình mới và nhu cầu của con người cũng được cập nhật liên
tục theo sự phát triển đó. Cùng với sự phát triển của thế giới thì các công ty xây dựng
của Việt Nam còn có những hạn chế nhất định.
Dưới đây là một số vấn đề chung của ngành xây dựng Việt Nam:
Mặt mạnh của ngành: Cũng như trên chúng tôi đã nói, hiện nay các ngành xây dựng
của chúng ta phátt triển khá mạnh mẽ, về nhân sự cũng như vốn đầu tư, trình độ của
Sinh viên: Vũ Huy Toàn – Lớp: TCNH17A CĐVN
19
XMột số biện pháp huy động và sử dụng vốn tại Công ty CP Đầu tư-Xây dựng và Phát triển Nam Việt
các công ty, chính vì điều này mà họ cho ra được các công trình thế kỷ, Việt Nam
ngày càng có nhiều kỹ sư giỏi đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng.
Tuy nhiên bên cạnh những mặt mạnh như vậy thì ngành xây dựng của Việt Nam cũng
gặp phải một số khó khăn cơ bản sau:
- Thứ nhất nguồn nhân lực của chúng ta có thể nói là đầy đủ nhưng hầu hết là những
lao động phổ thông chưa được đào tạo về xây dựng chưa có trình độ chuyên môn
nên hàng năm tai nạn nghề nghiệp trong lĩnh vực xây dựng chiếm tỷ trọng rất lớn
cũng như năng xuất lao động chưa cao.
- Thứ hai cơ sở vật chất kỹ thuật, nguyên vật liệu của ngành mới chỉ ở mức sơ khai
nên cũn thô sơ, lạc hậu do đó chưa đáp ứng được nhu cầu ở mức cao của khách
hàng.
- Khi việt Nam ra nhập WTO thỡ ngày càng cú cỏc doanh nghiệp nước ngoài đầu tư
vào Việt Nam họ có cơ sở vật chất hiện đại, nguồn nhân lực được đào tạo chuyên
sâu có kỹ năng tay nghề nên đó khiến cho cỏc tập đoàn xây dựng của chúng ta phải
cạnh trang gay gắt.

phần mà doanh nghiệp sáng tạo ra.
 Công trình xây dựng
Là sản phẩm công nghiệp xây lắp được tạo bởi vật liệu xây dựng, thiết bị công nghiệp
và gắn liền với đất hay mặt nước.
 Đặc điểm của sản phẩm xây dựng:
- Mang tính cố định
- Mang tính đơn chiếc, sản xuất theo đơn đặt hàng
- Chịu ảnh hưởng trực tiếp của điều kiện địa phương, mang tính cá biệt cao về công
dụng
+ Chủ yếu nằm ngoài trời hay trong lòng đất
+ Có quy mô lớn, thời gian hoàn thành sản phẩm dài
+ Sản phẩm được tạo thành do sự hợp tác của nhiều đơn vị.
+ Là sản phẩm tổng hợp liên quan đến cảnh quan, môi trường, ý nghĩa công
trình, KT-XH và an ninh quốc phũng.
2.2 Đặc điểm của quá trình sản xuất, xây dựng
Do dặc điểm của sản phẩm xây dựng tác động trực tiếp tới quá trình sản xuất và tạo
nên những đặc điểm riêng có của doanh nghiệp xây dựng, bao gồm:
- Điều kiện sản xuất trong xây dựng thiếu tính ổn định, luôn luôn biến đổi theo địa
điểm xây dựng. Cụ thể trong xây dựng con người và công cụ lao động luôn phải
thay đổi theo địa điểm và giai đoạn xây dựng. Đặc điểm này gây ra nhiều khó khăn
cho việc tổ chức sản xuất, làm nảy sinh nhiều chi phí do việc di chuyển lực lượng
sản xuất và do việc làm công trình tạm phục vụ cho sản xuất, lực lượng sản xuất và
Sinh viên: Vũ Huy Toàn – Lớp: TCNH17A CĐVN
21
XMột số biện pháp huy động và sử dụng vốn tại Công ty CP Đầu tư-Xây dựng và Phát triển Nam Việt
do việc làm công trình tạm phục vụ cho sản xuất. Chính vị vậy, đòi hỏi doanh
nghiệp xây dựng phải chú ý tăng cường tính cơ động, linh hoạt và gọn nhẹ về mặt
trang bị tài sản cố định lựa chọn hình thức tổ chức sản xuất linh hoạt, giảm chi phí
liên quan đến việc vận chuyển lợi dụng đối đa lực lượng xây dựng tại chỗ. Chú ý
đến chi phí vận chuyển khi lập giá tranh thầu. Đồng thời, đặc điệm này đòi hỏi

xây lắp, xây dựng các công trình giao thông vận tải.
- Kinh doanh dịch vụ vật tư vận tải được tiến hành qua hai quá trình cơ bản là: nhập
(hoặc sản xuất) hàng và cung cấp dịch vụ cho bên khách hàng nên nó phụ thuộc
vào rất nhiều yếu tố như: chính sách xuất nhập khẩu, giá cả thị trường, người cung
cấp, khách hàng.
- Việc kinh doanh dịch vụ vật tư vận tải đòi hỏi các doanh nghiệp loại này phải cần
sử dụng một lượng vốn lớn.
Tất cả các đặc diểm trên ảnh hưởng đến mọi khâu của sản xuất kinh doanh xây đựng
đòi hỏi doanh nghiệp xây dựng giao thông phải thiết lập được kế hoạch tổ chức đối
với lao động, chính sách giá cả.Và đặc biệt là kế hoạch trang bị vốn để có thể thắng
thầu và đảm bảo xây dựng công trình đạt chất lượng cao.
3. Đặc trưng và vai trò của vốn trong doanh nghiệp xây dựng
3.1 Đặc thưng của vốn cố định trong doanh nghiệp xây dựng
Vì tài sản cố định trong doanh nghiệp xây dựng phần lớn là các máy móc lưu thông (do quá
trình sản xuất di động) không thể xây dựng đủ nhà xưởng kiên cố bao che nên phần giá trị
máy móc lớn hơn phần giá trị nhà xưởng bao che. Đặc điểm này làm cho tài sản cố định
của doanh nghiệp giao thông dễ phải chịu ảnh hưởng của hao mòn, nhất là hao mòn vô
hình. Do vậy, các doanh nghiệp trước khi có quyết định đầu tư mua sắm tài sản cố định cần
phải tính toán, cân nhắc thật kỹ sao cho đầu tư đúng mục đích, có hiệu quả. Đồng thời cần
phải cân nhắc khi lựa chọn nguồn vốn và hình thức huy động vốn để đầu tư mua sắm tài
sản cố định.
- Tài sản cố định trong doanh nghiệp xây dựng phần lớn là máy móc lưu động nên
phần giá trị của tài sản cố định tự di chuyển thường lớn so với các ngành khác.
- Cơ cấu tài sản cố định của doanh nghiệp xây dựng luôn biến động, nó phụ thuộc
vào nhiều nhân tố như loại hình xây dựng, địa điểm xây dựng, trình độ tập trung
chuyên môn hóa xây dựng.
Sinh viên: Vũ Huy Toàn – Lớp: TCNH17A CĐVN
23
XMột số biện pháp huy động và sử dụng vốn tại Công ty CP Đầu tư-Xây dựng và Phát triển Nam Việt
- Tỷ trọng tài sản cố định trong doanh nghiệp có xu hướng giảm vì có các tổ chức

Sinh viên: Vũ Huy Toàn – Lớp: TCNH17A CĐVN
24
XMột số biện pháp huy động và sử dụng vốn tại Công ty CP Đầu tư-Xây dựng và Phát triển Nam Việt
Ba là, luôn có những biện pháp bảo toàn và phát triển vốn lưu động.
Bốn là, thường xuyên tiến hành phân tích tình hình sử dụng vốn lưu động.
3.3 Vai trò của vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây
dựng:
Trong nền kinh tế thị trường vốn bị tác động chi phối bởi nhiều yếu tố. Nhận thức
đúng vai trò tác dụng của vốn giúp cho các doanh nghiệp có biện pháp quản lý, sử
dụng vốn có hiệu quả, tìm nguồn cung cấp vốn và hình thức huy động vốn hợp lý, tiết
kiệm chi phí sử dụng vốn. Đối với các doanh nghiệp xây dựng giao thông điều này vô
cùng quan trọng. Bởi lẽ khi tham gia đấu thầu là phải có đủ khả năng về mặt tài chính
để thực hiện dự án. Mặt khác, vốn để xây dựng các công trình giao thông rất lớn, thời
gian hoàn thành xây dựng dài nên đồng vốn luôn mang tính”rủi ro” cao bởi tính khách
quan cũng như chủ quan khi sử dụng vốn như: lạm phát, hao mòn vô hình, quản lý sản
xuất kinh doanh kém hiệu quả có thể khái quát vai trò của vốn đối với hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng giao thông như sau:
- Vốn là điều kiện cần thiết để hình thành doanh nghiệp.
- Vốn đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành
liên tục.
- Vốn là diều kiện cần thiết để doanh nghiệp chủ động thực hiện các phương án kinh
doanh, thực hiện các dự án.
- Vốn là phương tiện, mục đích phát triển và nâng cao đời sống vật chất, đời sồng
tinh thần cho người lao động.
- Bảo toàn và phát triển vốn và điều kiện đảm bảo cho sự phát triển của doanh
nghiệp.
Sinh viên: Vũ Huy Toàn – Lớp: TCNH17A CĐVN
25

Trích đoạn Đánh giá khái quát kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty Một số nhận xét về tình hình sử dụng vốn của Công ty Nam Việt Một số biện pháp chủ yếu để huy động vốn của Công ty Một số biện pháp cụ thể
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status