MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài luận án
Ô nhiễm không khí là một trong những vấn đề nghiêm trọng nhất ở các
đô thị, đặc biệt là tại các nước đang phát triển. Theo những nghiên cứu gần
đây, việc phơi nhiễm bụi có nồng độ trung bình năm vượt quá 50 µg/m
3
tại
126 thành phố trên thế giới có thể là nguyên nhân của khoảng 130 nghìn ca
tử vong sớm.
Chất lượng không khí nói chung và không khí đô thị nói riêng chịu ảnh
hưởng bởi nhiều yếu tố. Các nguồn khí thải trong đô thị như công nghiệp,
giao thông, sinh hoạt, xây dựng có thể làm suy giảm chất lượng không khí.
Tuy nhiên, nếu trong thành phố có nhiều cây xanh, và diện tích mặt nước
(hồ, ao, sông) lớn thì chất lượng không khí cũng được cải thiện phần nào.
Để đánh giá chất lượng môi trường không khí, hai phương pháp vẫn được
thực hiện là phương pháp thực nghiệm và mô hình hóa. Đối với phương pháp
thực nghiệm, kết quả đo đạc các thông số đặc trưng cho môi trường không
khí nói chung và TSP nói riêng chính là giá trị cuối cùng tại điểm tiếp nhận.
Giá trị này đã tính đến tác động tổng hợp từ các nguồn phát thải có thể ảnh
hưởng đến điểm tiếp nhận và khả năng lọc giữ bụi của cây xanh, mặt nước.
Tuy nhiên thực tế số điểm đo ít hoặc số lần đo không nhiều, tần suất đo thấp
thì đánh giá dựa vào giá trị quan trắc chưa cho thấy bức tranh tổng quát về
chất lượng không khí vùng nghiên cứu. Phương pháp mô hình hóa có thể
khắc phục được điều này, song, kết quả tính toán được tại một điểm tiếp nhận
nào đó mới cho thấy giá trị nồng độ chất ô nhiễm do các nguồn thải chất ô
nhiễm gây ra mà chưa tính đến khả năng làm sạch không khí của các tác
nhân khác trong đó có cây xanh và mặt nước. Vì vậy, giá trị nồng độ tính
được theo mô hình sẽ có sự sai khác ít nhiều so với thực tế, phụ thuộc vào
độ che phủ của cây xanh và diện tích mặt nước trong khu vực nghiên cứu.
1
• Nghiên cứu thử nghiệm lập bản đồ đánh giá tổng hợp chất lượng không
khí theo qui trình trên cho khu vực nội thành Hà Nội (cũ), phục vụ công
tác quản lý, giám sát chất lượng môi trường thành phố Hà Nội.
• Đề xuất một số giải pháp cải thiện chất lượng không khí ở Hà Nội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
• Luận án tập trung làm rõ chất lượng môi trường không khí ở Hà Nội do
ảnh hưởng đồng thời của các nguồn gây ô nhiễm như nguồn công
nghiệp, giao thông, sinh hoạt và các yếu tố có vai trò làm sạch không
khí như cây xanh, mặt nước. Thông số được lựa chọn để nghiên cứu và
tính toán là TSP
• Phạm vi nghiên cứu: Khu vực nội thành Hà Nội cũ. Kích thước vùng
nghiên cứu trong phạm vi 20km x20km
5. Phương pháp nghiên cứu
• Phương pháp mô hình hóa với phần mềm có bản quyền ISC và phương
pháp tính tần suất vượt chuẩn để đánh giá mức độ ô nhiễm không khí.
• Phương pháp bản đồ và hệ thông tin địa lý (GIS) để tính mật độ che phủ
của cây xanh, diện tích mặt nước, mật độ đường giao thông và xây dựng
các bản đồ chuyên đề, bản đồ tổng hợp.
• Phương pháp chập bản đồ môi trường và công cụ GIS: Ứng dụng trong
xây dựng chỉ số đánh giá tổng hợp và bản đồ tổng hợp
7. Những đóng góp mới của luận án
a) Lần đầu tiên các yếu tố có lợi cho môi trường không khí như độ che
phủ của cây xanh và diện tích mặt nước được tính đến trong bài toán đánh
giá chất lượng không khí ở Việt Nam một cách định lượng.
b) Lần đầu tiên đưa ra qui trình đánh giá tổng hợp chất lượng môi trường
không khí có tính đến tác động tổng hợp của cả các yếu tố gây ô nhiễm
(nguồn phát thải chất ô nhiễm) và yếu tố cải thiện chất lượng môi trường
không khí (cây xanh, mặt nước).
3
trường không khí, tình hình nghiên cứu về chất lượng môi trường không
khí trên Thế giới và ở Việt nam; hiện trạng chất lượng không khí ở Hà
Nội.
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng của luận án tập trung vào các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng
không khí ở Hà Nội là các nguồn gây ô nhiễm như công nghiệp, giao thông
và các yếu tố có vai trò làm sạch không khí như cây xanh, mặt nước. TSP
được lựa chọn là chất ô nhiễm để nghiên cứu và tính toán trong luận án.
Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu của luận án là khu vực thành
phố Hà Nội cũ và xung quanh với các nguồn thải có khả năng ảnh hưởng
đến chất lượng không khí trên địa bàn thành phố. Khu vực nghiên cứu được
khoanh vùng bởi một lưới ô vuông, mỗi ô có kích thước 250 m x 250 m,
tương đương với diện tích vùng nghiên cứu 20km x 20km.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Phương pháp mô hình hóa trong đánh giá chất lượng môi trường
không khí
2.2.1.1 Cơ sở lý thuyết về lan truyền chất ô nhiễm trong không khí
Trong trường hợp tổng quát, trị số trung bình nồng độ chất ô nhiễm trong
không khí phân bố theo thời gian và không gian được mô tả từ phương trình
xuất phát của vận chuyển, khuyếch tán rối và biến đổi hóa học đầy đủ như
sau:
CC
z
C
K
zy
C
∂
∂
∂
∂
+
∂
∂
∂
∂
=
∂
∂
+
∂
∂
+
∂
σ
−
σ
σπ
=χ
2
yz
ys
y
5.
0exp
u
2
QKVD
(2.2)
Trong đó:
χ: Nồng độ chất ô nhiễm (mg/m
3
);
Q: Lượng phát thải của chất ô nhiễm ở điều kiện tiêu chuẩn (g/s);
K: Hệ số chuyển đổi, giá trị mặc định K= 1.106 nếu Q là g/s và nồng độ chất
ô nhiễm là μg/m
3
D: Đại lượng vô thứ nguyên đặc trưng cho biến đổi vật lý và hóa học của
chất ô nhiễm trong quá trình lan truyền.
V: Thành phần (vô thứ nguyên) đề cập đến ảnh hưởng của chiều cao ống
khói, độ cao điểm tiếp nhận, …;
σ
−
− 2
2
2
2
2
2
1
exp
.2
0,,
zy
nn
zy
C
H
C
y
xxCCu
M
yx
C
π
(2.3)
Trong đó:
M: Công suất nguồn thải (mg/s)
6
u: Tốc độ gió trung bình tại mặt đất (m/s)
khu vực nghiên cứu.
2.2.3. Phương pháp tính toán và xây dựng bản đồ chuyên đề bằng
công cụ GIS
• Xây dựng cơ sở dữ liệu đầu vào cho mô hình tính toán lan truyền ô
nhiễm
• Xây dựng bản đồ phân bố ô nhiễm
• Xây dựng các bản đồ chuyên đề và bản đồ đánh giá tổng hợp chất lượng
không khí
7
2.2.4. Phương pháp chập bản đồ môi trường
Phương pháp này được sử dụng trong luận án để xây dựng qui trình đánh
giá chất lượng không khí tổng hợp có tính đến các yếu tố ảnh hưởng tiêu cực
đến chất lượng không khí ở Hà Nội (ô nhiễm do nguồn thải công nghiệp và
giao thông) cũng như các yếu tố có ảnh hưởng tốt đến chất lượng không khí
(cây xanh, mặt nước).
Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. Kết quả ứng dụng mô hình ISC 3 để đánh giá chất lượng môi trường
không khí khu vực Hà Nội (tính cho TSP).
3.1.1. Các kịch bản tính toán.
- Kịch bản 1: Trường hợp tính cho năm 2007 (năm cơ sở).
Tính toán sự phân bố nồng chất chất ô nhiễm cho thành phố Hà Nội (cũ)
với số liệu phát thải năm 2007 được xem như là năm cơ sở để tính toán: Các
nguồn gây ô nhiễm giai đoạn này chủ yếu là nguồn công nghiệp, nguồn giao
thông và nguồn sinh hoạt. Trong đó, các nguồn thải công nghiệp (trên địa
bàn Hà Nội cũ) được xem là những nguồn gây ô nhiễm chính.
- Kịch bản 2: Trường hợp tính cho năm 2010.
Các nguồn phát thải giai đoạn này bao gồm: nguồn điểm công nghiệp,
nguồn giao thông (nguồn đường), nguồn sinh hoạt và xây dựng (nguồn mặt).
TSP do hoạt động đun nấu kinh doanh, sinh hoạt với mức độ cao.
• Kết quả tính theo kịch bản 2: Nhìn chung trong năm 2010, mức độ
ô nhiễm TSP giảm đi nhiều so với năm 2007. Vùng ô nhiễm quanh các khu
công nghiệp đã giảm đi đáng kể do một số nguồn thải công nghiệp đã ngừng
hoạt động. Một số vùng ô nhiễm mới xuất hiện do phát thải nguồn mặt nhưng
mức độ không cao.
• Kết quả tính theo kịch bản 3. Kết quả tính phân bố nồng độ TSP vào
năm 2020 theo hai trường hợp phát thải thấp và phát thải cao cho thấy: Nhìn
chung, khả năng ô nhiễm TSP đã giảm nhiều cả về diện tích và mức độ ô
9
nhiễm so với năm 2007 và 2010. Tuy nhiên, ô nhiễm TSP có thể vẫn xảy ra
trên diện rộng khi thiếu các giải pháp kiểm soát. Nếu kiểm soát phát thải tốt,
có thể giảm đáng kể vùng có chất lượng không khí kém.
Hình 3.1. Phân bố nồng độ TSP trung bình 1 giờ cao nhất ở khu vực
thành phố Hà Nội (cũ) năm 2007
Nhận xét chung: Kết quả tính toán sự phân bố TSP theo mô hình ISC 3
theo 3 trường hợp khác nhau đã cho thấy bức tranh tổng quát về mức độ ô
nhiễm TSP trong các giai đoạn khác nhau. Diễn biến của TSP không tuân
theo qui luật và phụ thuộc vào sự tăng giảm của các nguồn trong khu vực
nghiên cứu. Giá trị tính được chưa tính tới khả năng lọc giữ bụi của cây xanh
và mặt nước.
3.2. Nghiên cứu, đánh giá tổng hợp chất lượng môi trường không khí
tổng hợp có tính đến yếu tố giảm nhẹ bụi.
3.2.1. Phương pháp luận.
Phương pháp đánh giá chất lượng môi trường không khí bằng mô hình
hóa cho thấy bức tranh tổng quát về môi trường không khí khu vực nghiên
cứu. Một trong những hạn chế của phương pháp này là giá trị nồng độ chất
ô nhiễm nói chung và TSP nói riêng tính được tại điểm tiếp nhận chưa tính
): Sự phân bố nồng độ các chất ô nhiễm
do giao thông gây ra liên quan đến mức độ phát thải ô nhiễm từ các
phương tiện tham gia giao thông trên các tuyến đường. Những khu vực
có mật độ đường lớn có khả năng phát thải ô nhiễm cao.
11
• Chỉ tiêu về tỉ lệ diện tích che phủ cây xanh và diện tích mặt nước (%) :
Mật độ che phủ của cây xanh được tính bằng tổng diện tích che phủ của
cây xanh trong mỗi ô trên diện tích toàn ô vuông (%). Tỷ lệ diện tích
mặt nước được tính bằng tổng diện tích mặt nước trong mỗi ô trên diện
tích toàn ô vuông (%).
Mật độ đường, độ che phủ của cây xanh và diện tích mặt nước có thể
tính được nhờ một số phần mềm GIS như Arc GIS.
Bước 3. Xây dựng các bản đồ chuyên đề theo các chỉ tiêu đã lựa chọn:
P, mật độ đường, mật độ che phủ cây xanh, tỉ lệ diện tích mặt nước.
• Giá trị của các yếu tố (đặc trưng bởi các chỉ tiêu) được tính cho từng ô
vuông và phân chia theo cấp độ.
• Cho điểm theo mức độ ảnh hưởng tới môi trường không khí của các yếu
tố (cho điểm theo cấp độ)
• Xây dựng các bản đồ chuyên đề cho từng yếu tố
Bước 4: Xác định hệ số quan trọng (tầm quan trọng) của mỗi yếu tố môi
trường.
Bước 5: Xây dựng bản đồ tổng hợp.
Bản đồ tổng hợp được xây dựng trên cơ sở tiến hành chồng xếp các bản
đồ chuyên đề của các yếu tố môi trường nói trên có tính đến tầm quan trọng
của các yếu tố theo công thức:
(3.4)
Trong đó: I là chỉ số tổng hợp đánh giá chất lượng môi trường không khí
cho từng ô; Ri là cấp (hạng) tương ứng với chỉ tiêu (yếu tố) thứ i trong ô
được tính; Wi là trọng số tương ứng với yếu tố i; n là số nhân tố ảnh hưởng.
• Số liệu nguồn thải: Tọa độ nguồn thải, công suất nguồn thải M (mg/s),
độ cao ống khói h (m), đường kính miệng ống khói d (m), nhiệt độ khí
thải tại miệng ống khói Tr (
o
K), tốc độ phụt tại miệng ống khói (m/s)
• Tiêu chuẩn để tính toán: QCVN 5937-2005. Chỉ tiêu cho phép đối với
TSP trong thời gian 24 giờ là 0,2mg/m
3
Luận án đã đưa ra được bản đố ô nhiễm TSP đối với khu vực Hà Nội
theo mùa và cả năm. Mùa nóng bao gồm các tháng 4-9; mùa lạnh gồm các
tháng 10-12 năm trước và 1-3 năm sau.
Xét chung cho cả năm (hình 3.3), thành phố Hà Nội bị ô nhiễm bụi lơ
lửng ở mức độ cao, nhiều nơi có tới 40% số ngày trong năm vượt Qui chuẩn
cho phép như phường Thanh Xuân Trung, Thanh Xuân Bắc, Nhân Chính
(quận Thanh Xuân), Thanh Nhàn, Minh Khai, Phố Huế (quận Hai Bà Trưng)
, Thanh Liêt ( Huyện Thanh Trì). Nếu coi tần suất 10% số ngày trong năm
có nồng độ vượt qui chuẩn làm căn cứ để đánh giá mức độ ô nhiễm thì diện
tích chịu ô nhiễm TSP khá lớn do tác động tổng hợp của các nguồn trên địa
bàn thành phố và vùng phụ cận.
13
Có thể thấy rõ vai trò của các hướng gió thịnh hành trong năm đối với sự
lan truyền của TSP. Do hướng gió đông nam, đông bắc, đông là những
hướng gió có tần suất lớn nhất trong năm nên những khu vực có mức độ ô
nhiễm cao chủ yếu nằm về phía Tây, Tây Bắc, Bắc Tây bắc, phía Tây nam
của các khu công nghiệp lớn như Thượng Đình, Vĩnh Tuy - Mai Động.
Phạm vi ảnh hưởng của các chất ô nhiễm có sự khác khau giữa mùa nóng
và mùa lạnh. Vào mùa lạnh, khả năng lan truyền chất ô nhiễm xa hơn so với
mùa nóng. Mức độ ô nhiễm vào mùa lạnh cũng cao hơn so với mùa nóng.
2
Rất nhẹ
0 <
≤P
10
1
Hình 3.3. Bản đồ mức độ ô nhiễm
TSP
Bảng 3.3. Chỉ tiêu đánh giá mức
độ ô nhiễm công nghiệp đối với
TSP
2) Xây dựng bản đồ mật độ đường giao thông.
14
Mật độ đường trong khu phố cổ cao đạt từ 10-16km/km
2
. Khu vực có mật
độ đường tương đối cao ở gần trung tâm thành phố (5-10km/km
2
). Khu vực
xa trung tâm (Quận Thanh Xuân, Cầu Giấy) và ngoại thành Hà nội mật độ
đường từ 2-5 km/km
2
. Kết quả tính mật độ cho thấy phù hợp với số liệu của
JICA trước đây. Mật độ giao thông được chia thành 5 mức như bảng 3.4 dưới
và cho điểm đánh giá theo từng mức. Thang đánh giá được cho từ thấp đến
cao tương ứng với khả năng gây ô nhiễm thông qua mật độ giao thông từ
thấp đến cao.
3) Xây dựng bản đồ phân bố tỉ lệ diện tích che phủ cây xanh khu vực Hà Nội
Tỉ lệ diện tích che phủ của cây xanh với qui mô tính toán là 625m
2
(tương
ứng với diện tích 1 ô vuông) đạt từ 20 -50% trở lên chủ yếu ở các quận Cầu
giấy, Hoàn Kiếm, Ba đình và một số phường thuộc quận Hai Bà Trưng gần
trung tâm thành phố. Tỉ lệ 5-20% nằm rải rác trong nội thành Hà Nội. Các
khu vực có tỉ lệ dưới 1% chủ yếu ở các tuyến phố cổ 36 phố phường (Quận
hoàn Kiếm) và một số tuyến đường chính thuộc Quận Thanh Xuân, Đống
Đa (tuyến đường Tây sơn – Nguyễn Trãi).
Tỷ lệ che phủ của cây xanh được chia làm 5 mức và được cho điểm như
trong bảng 3.5. Tỉ lệ che phủ của cây xanh càng thấp sẽ nhận giá trị điểm số
càng cao và ngược lại.
Bảng 3.5: Chỉ tiêu đánh giá tỷ lệ che phủ của cây xanh
Mức độ che phủ
của cây xanh
Tỷ lệ che phủ cây
xanh C (%)
Điểm đánh
giá
Rất cao
C >45
1
Cao
30 <
≤C
45
2
Trung bình
Hình 3.9. Bản đồ phân bố tỉ lệ diện tích mặt nước khu vực nghiên cứu (qui
mô tính cho 1 lưới)
Bảng 3.6: Chỉ tiêu đánh giá tỷ lệ diện tích mặt nước
Tỷ lệ diện tích mặt
nước theo cấp độ
Tỷ lệ diện tích mặt
nước M (%)
Điểm đánh
giá
Rất cao
80 < M ≤100
1
17
Cao
60 <
≤M
80
2
Trung bình
40 <
≤M
60
3
Thấp
20 <
≤M
40
4
Rất thấp
Trung bình
30 - 40
Khá
20 - 30
Cao
10 - 20
Các khu vực có chất lượng môi trường kém nhất bao gồm khu vực
phường Nhân Chính, một phần phường Trung Hoà, phần phía tây của
phường Thanh Xuân Trung, Thanh Xuân Bắc (Q.Thanh Xuân) và các
18
phường Thanh Nhàn, Quỳnh Lôi, Minh Khai (Hai Bà Trưng), Mai Động,
Đồng tâm, Giáp bát (Hoàng Mai). Trên bản đồ cho thấy, chất lượng không
khí ở đây được đánh giá là thấp và trung bình. Đây là những khu vực chịu
tác động tổng hợp của nhiều nguồn bao gồm cả giao thông và công nghiệp,
đặc biệt là chịu ô nhiễm khá cao do hoạt động từ các khu công nghiệp
Thượng Đình, Vĩnh Tuy – Mai động. Các yêú tố có lợi cho môi trường như
diện tích che phủ của cây xanh và mặt nước ít, không đáng kể so với diện
tích cả khu vực. Do đó chất lượng không khí không được cải thiện nhiều.
Các khu vực thuộc quận Hai Bà Trưng gồm các phường Trần Hưng Đạo,
Ngô Thì Nhậm, mặc dù ô nhiễm do công nghiệp không nặng như các khu
vực trên, nhưng mật độ giao thông ở đây tương đối lớn. Do vậy, có thể nói
khu vực này bị ô nhiễm khá nặng do giao thông. Tuy nhiên, trên các tuyến
đường lớn trong khu vực này đều có cây xanh với độ che phủ lớn nên chất
lượng không khí ở đây được cải thiện, chất lượng không khí được đánh giá
ở mức trung bình.
Khu vực phường Thuỵ Khuê, Cống vị (Ba đình), Nghĩa đô, Nghĩa Tân,
Thượng Thanh (Long Biên) , Sài Đồng, Bát Tràng (Gia Lâm), Tam Hiệp,
Tả Thanh Oai (Thanh Trì) chất lượng không khí cũng xếp vào loại trung
bình.
các dự án có khả năng phát thải chất ô nhiễm trong khu vực nếu như chất
lượng không khí khu vực ở mức kém hay trung bình;
- Cung cấp thông tin trong việc đặt trạm quan trắc chất lượng môi trường
không khí chính xác hơn (vì tại vị trí đặt trạm đã tính đến cả khả năng lọc bụi
của cây xanh và mặt nước);
- Cung cấp thông tin trong việc lựa chọn đầu tư vào các biện pháp cải
thiện chất lượng không khí;
- Là cơ sở khoa học trong việc thiết kế qui hoạch hệ thống cây xanh;
- Cung cấp thông tin cho cộng đồng về chất lượng không khí, đặc biệt
trong những quyết định đầu tư về bất động sản hay những dự án liên quan
đến sức khỏe cộng đồng.
3.2.4.2.Khả năng ứng dụng của phương pháp
• Trong trường hợp thiếu số liệu: có thể sử dụng phương pháp đánh giá
tổng hợp chất lượng môi trường không khí như đã đề xuất thông qua
cách đánh giá gián tiếp về mật độ đường giao thông, hay mật độ dân số
và chồng xếp các bản đồ chuyên đề của các yếu tố này (phương pháp
chập bản đồ môi trường) để cho kết quả tổng hợp.
• Xây dựng cơ sở khoa học để thiết kế khu vực trồng cây xanh hợp lý: Nếu
xây dựng được bản đồ mật độ dân số chi tiết đến cấp phường hay khu
dân cư, kết hợp với bản đồ tổng hợp có tính đến các yếu tố mật độ dân
số và chất lượng không khí, chúng ta có thể chỉ ra được những khu vực
cần thiết phải trồng thêm cây xanh.
3.3. Đề xuất các giải pháp nâng cao chất chất lượng môi trường
không khí ở Hà Nội
3.3.1. Xây dựng hệ thống hỗ trợ quyết định để quản lý chất lượng
không khí đô thị ở Hà Nội: Hệ thống này dựa trên hệ thống mô hình hóa
khuếch tán chất ô nhiễm, bản đồ kỹ thuật số và cơ sở dữ liệu có liên quan để
21
ước tính lượng khí thải và phân bố không gian của các chất ô nhiễm không
Năm 2007, nhiều khu vực ở Hà Nội bị ô nhiễm TSP, trong đó ô nhiễm
chủ yếu là do các nguồn thải công nghiệp tại những khu công nghiệp cũ
như Thượng Đình, Vĩnh Tuy – Mai Động và do giao thông. Mức ô
nhiễm TSP tương đối cao ở những khu vực này, có thể gấp 2-3 lần Qui
chuẩn cho phép. Năm 2010 ở một số khu vực quanh các khu công
nghiệp trên, khả năng ô nhiễm bụi đã giảm đi nhiều cả về diện và mức
độ ô nhiễm do một số nguồn thải cũ đã bị di dời hoặc giảm lượng thải.
Tuy nhiên, một số vùng ô nhiễm mới xuất hiện do phát thải nguồn mặt
bao gồm các hoạt động xây dựng và hoạt động sinh hoạt của người dân
ở một số khu vực đô thị hóa, mặc dù mức độ ô nhiễm không cao. Đến
năm 2020, môi trường không khí bị ô nhiễm TSP chủ yếu do ảnh hưởng
của các nguồn mặt và nguồn đường, không chịu ảnh hưởng của các
nguồn thải điểm do định hướng phát triển công nghiệp Hà Nội tập trung
vào những ngành ít phát thải chất ô nhiễm không khí. Nếu như có những
biện pháp quản lý và kiểm soát tốt, vào năm 2020 khu vực nội thành Hà
Nội không bị ô nhiễm TSP. Một hạn chế của kết quả tính theo mô hình
nói chung và ISC nói riêng là chưa phản ánh giá trị thực tế tại điểm tiếp
nhận do chưa tính đến khả năng lọc giữ bụi của cây xanh mặt nước.
2. Luận án đã tiến hành nghiên cứu, xây dựng một qui trình đánh giá tổng
hợp chất lượng không khí có tính đến các yếu tố giảm nhẹ ô nhiễm.
Theo phương pháp này, lần đầu tiên tác động tổng hợp của nhiều yếu tố
ảnh hưởng đến chất lượng môi trường không khí, cả yếu tố có lợi như
độ che phủ của cây xanh, mặt nước và yếu tố gây ô nhiễm như nguồn ô
nhiễm do công nghiệp, giao thông, …đã được tính đến trong bài toán
đánh giá chất lượng môi trường không khí. Mức độ ô nhiễm do công
nghiệp đã được tính toán thông qua chỉ tiêu tần suất những ngày có nồng
độ chất ô nhiễm vượt qui chuẩn. Ô nhiễm do giao thông được đánh giá
gián tiếp qua chỉ tiêu mật độ đường. Mức độ ô nhiễm do công nghiệp và
giao thông được phân làm 5 cấp và được đánh giá thông qua thang điểm
23
24