BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
*************
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NHẰM
NÂNG CAO HIỆU QUẢ XÉT XỬ THEO TINH THẦN
CẢI CÁCH TƯ PHÁP
MÃ SỐ: LH - 08 - 09/ ĐHL
Chủ nhiệm đề tài: TS. Hoàng Thị Minh Sơn
Trường Đại học Luật Hà Nội
Hà Nội, 01/ 2009
DANH SÁCH CỘNG TÁC VIÊN THAM GIA ĐỀ TÀI
1. TS. Hoàng Thị Minh Sơn Trường ĐH Luật Hà Nội
Chuyên đề 03
2. Ts. Nguyễn Đức Mai Toà án Quân sự Trung ương
Chuyên đề 11
3. Th.S. Nguyễn Mai Bộ Toà án Quân sự Trung ương
Chuyên đề 02, chuyên đề 10
4. TS. Phan Thị Thanh Mai Trường ĐH Luật Hà Nội
Chuyên đề 8
5. Th.S. Vũ Gia Lâm Trường ĐH Luật Hà Nội
Chuyên đề 01, chuyên đề 7
6. Th.S. Mai Thanh Hiếu Trường ĐH Luật Hà Nội
Chuyên đề 9
7. Th.S. Nguyễn Hải Ninh Trường ĐH Luật Hà Nội
Chuyên đề 04
8. Th.S Đỗ Thị Phượng Trường ĐH Luật Hà Nội
Chuyên đề 05
9. Th.S. Nguyễn Ngọc Khanh Trường ĐH Luật Hà Nội
Chuyên đề 6
2
4. Đổi mới thủ tục phiên toà sơ thẩm hình sự 103
5. Nâng cao hiệu quả tranh tụng tại phiên toà xét xử sơ thẩm hình
sự
119
6. Một số vấn đề về đảm bảo quyền bào chữa của bị cáo trong giai
đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
133
7. Kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm 146
8. Hoàn thiện quy định pháp luật về thủ tục phiên toà phúc thẩm vụ
án hình sự
158
9. Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về thẩm quyền của Toà án
cấp phúc thẩm
173
10. Áp dụng, thay đổi huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn
xét xử sơ thẩm, phúc thẩm vụ án hình sự
187
11 Thực tiễn xét xử của các Toà án quân sự và một số giải pháp
nâng cao chất lượng, hiệu quả xét xử của Toà án quân sự
202
4
PHẦN THỨ NHẤT
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài: Quán triệt Nghị quyết 48 - NQ/TW ngày
02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
trong đó nhấn mạnh: “Đổi mới việc tổ chức phiên toà xét xử”, đồng thời “coi
xét xử là hoạt động trong tâm của hoạt động tư pháp”, những quy định về thủ
tục xét xử trong BLTTHS cần được sửa đổi, bổ sung một cách toàn diện.
Theo quy định của BLTTHS hiện hành, quá trình giải quyết vụ án hình sự trải
qua nhiều giai đoạn khác nhau, trong đó giai đoạn xét xử được coi là giai
đến năm 2020 là: “Coi trọng việc hoàn thiện chính sách hình sự và thủ tục tố
tụng tư pháp…”. Trước những yêu cầu của thực tiễn, việc nghiên cứu các quy
định của pháp luật TTHS nói chung và các chế định của BLTTHS nói riêng
về xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, đánh giá thực tiễn xét xử nhằm làm sáng tỏ về
lý luận cũng như thực tiễn, tìm ra những hạn chế vướng mắc trong quy định
pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật trong xét xử các vụ án hình sự, từ đó
đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả công tác
xét xử các vụ án hình sự theo tinh thần cải cách tư pháp là hết sức cần thiết và
cấp bách.
2. Tình hình nghiên cứu: Từ khi BLTTHS năm 2003 có hiệu lực thi hành
đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về xét xử trong TTHS của các nhà
nghiên cứu lý luận và thực tiễn. Gần đây cũng có một số tác giả nghiên cứu về
hoạt động xét xử nhưng ở những góc độ khác nhau, ví dụ: tác giả Phan Thị
Thanh Mai với luận án Tiến sĩ luật học đề tài "Giám đốc thẩm trong TTHSViệt
6
Nam" (bảo vệ tháng 5/2007) có đề cập tới việc tổ chức Tòa án để xét xử sơ
thẩm và phúc thẩm có hiệu quả và chất lượng, hạn chế tình trạng vi phạm
nghiêm trọng pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án nhằm hạn chế lượng
đơn từ, khiếu nại đề nghị giám đốc thẩm và hạn chế số lượng án bị kháng nghị
giám đốc thẩm; Tác giả Vũ Gia Lâm với một số bài viết đăng trên các tạp chí
chuyên ngành như:
“
Hoàn thiện một số quy định về xét xử sơ thẩm hình sự
nhằm thực hiện có hiệu quả nguyên tắc hai cấp xét xử”(Tạp chí Tòa án nhân
dân số 18/2006); “Hoàn thiện một số quy định về xét xử phúc thẩm hình sự
nhằm thực hiện có hiệu quả nguyên tắc hai cấp xét xử” (Tạp chí TAND số
23/2006) đều ít nhiều đề cập đến các quy định pháp luật TTHS hiện hành về
thủ tục xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, thực trạng áp dụng trong xét xử, những
vướng mắc, bất cập và hướng hoàn thiện. Ở một số bài viết khác như: "Một số
vấn đề về việc giao bản án của Tòa án cấp sơ thẩm theo luật tố tụng hình sự",
TTHS
nhằm nâng cao hiệu quả xét xử theo tinh thần cải cách tư pháp” để nghiên cứu
dưới góc độ một đề tài khoa học cấp trường trong thời điểm hiện nay là rất cấp
thiết và vẫn có tính thời sự.
3. Phương pháp nghiên cứu: Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương
pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan
điểm của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa. Các phương pháp chủ yếu được sử dụng để nghiên
cứu đề tài là: phương pháp phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh; phương
pháp tổng kết lịch sử; phương pháp thống kê hình sự v.v…
4. Mục đích và phạm vi nghiên cứu nghiên cứu của đề tài: Nghiên cứu
đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác xét xử trong TTHS
theo tinh thần cải cách tư pháp, trong đó chủ yếu tập trung vào các giải pháp
hoàn thiện quy định của pháp luật TTHS về các chế định xét xử sơ thẩm, xét
xử phúc thẩm các vụ án hình sự.
8
- Nghiên cứu các quy định pháp luật về xét xử sơ thẩm, xét xử phúc
thẩm và thực tiễn thi hành các quy định này trong xét xử trong mối quan hệ
với các yêu cầu của cải cách tư pháp;
- Đánh giá thực trạng các quy định pháp luật về xét xử và thực tiễn áp
dụng các quy định này trong hoạt động xét xử tại cấp sơ thẩm và cấp phúc
thẩm, xác định nguyên nhân của những hạn chế và vướng mắc khi áp dụng
các quy định pháp luật trong xét xử;
- Nghiên cứu đề xuất các giải pháp có cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm
nâng cao hiệu quả công tác xét xử trong tố tụng hình sự theo tinh thần cải
cách tư pháp trong giai đoạn trước mắt cũng như lâu dài.
5. Những đóng góp của đề tài: Nhìn nhận một cách tổng quát trên
phương diện nghiên cứu khoa học, đề tài có những đóng góp cơ bản sau:
- Đề tài đã góp phần đáng kể trong việc phân tích, đối chiếu các chuẩn
mực về hoạt động xét xử của hai giai đoạn xét xử sơ thẩm và phúc thẩm trong
xử sơ thẩm, phúc thẩm vụ án hình sự
11. Thực tiễn xét xử của các Toà án quân sự và một số giải pháp nâng
cao chất lượng, hiệu quả xét xử của Toà án quân sự.
10
PHẦN THỨ HAI
BÁO CÁO TỔNG THUẬT VỀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Đề tài “Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự nhằm nâng cao hiệu quả xét
xử theo tinh thần cải cách tư pháp” được nghiên cứu với các chuyên đề sau:
* Thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
* Giới hạn của việc xét xử sơ thẩm
* Một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về chuẩn bị xét xử sơ
thẩm và hướng hoàn thiện
* Đổi mới thủ tục phiên toà sơ thẩm hình sự
* Nâng cao hiệu quả tranh tụng tại phiên toà xét xử sơ thẩm hình sự
* Một số vấn đề về đảm bảo quyền bào chữa của bị cáo trong giai đoạn
xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
* Kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm
* Hoàn thiện quy định pháp luật về thủ tục phiên toà xét xử phúc thẩm
hình sự
* Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về thẩm quyền của Toà án cấp
phúc thẩm
* Áp dụng, thay đổi huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn xét xử
sơ thẩm, phúc thẩm vụ án hình sự
* Thực tiễn xét xử của các Toà án quân sự và một số giải pháp nâng cao
chất lượng, hiệu quả xét xử của Toà án quân sự
Sau thời gian nghiên cứu theo mười nội dung của các chuyên đề liên
11
quan đến xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, các tác giả của nhóm nghiên cứu đã thu
được những kết quả sau:
1. Về thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, các tác giả của nhóm
kháng nghị có chiều hướng giảm so với trước đây. Nhờ chất lượng xét xử sơ
thẩm ngày càng đảm bảo nên lượng án bị xét xử phúc thẩm theo hướng không
chấp nhận kháng cáo, kháng nghị chiếm tỷ lệ cao so với số lượng án bị sửa, bị
hủy. Lượng án tồn đọng tại TAND cấp huyện và cấp tỉnh hàng năm nhìn
chung có xu hướng ngày càng giảm (tính trung bình từ năm 2002 đến năm
2007 lượng án sơ thẩm tồn đọng ở TAND cấp huyện và cấp tỉnh vào khoảng
trên dưới 2% lượng án đã thụ lý). Số lượng án sơ thẩm bị huỷ để điều tra lại
hoặc xét xử lại chiếm một tỷ lệ không đáng kể. Theo nhóm nghiên cứu thì
thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo sự việc của Toà án các cấp hiện nay quy định
tại Điều 170 BLTTHS, về cơ bản là phù hợp và đã được chứng minh cụ thể
qua thực tiễn xét xử trong thời gian qua. Tuy nhiên, quá trình áp dụng đã cho
thấy có một số bất cập:
Thứ nhất: Bộ luật TTHS hạn chế quá nhiều trường hợp vụ án hình sự về
tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm
trọng mà Toà án cấp huyện không được xét xử tại điểm c khoản 1 Điều 170
(21 tội phạm cụ thể). Trước đây năng lực tổ chức và trình độ chuyên môn,
nghiệp vụ của cán bộ các cơ quan tiến hành tố tụng ở cấp huyện còn nhiều
hạn chế, cơ sở vật chất, phương tiện hoạt động còn thiếu thốn, nên quy định
như vậy là phù hợp. Tuy nhiện, hiện nay năng lực thực tế của các cơ quan
tiến hành tố tụng nói chung và cơ quan tiến hành tố tụng ở cấp huyện nói
riêng đã được nâng cao rất nhiều so với thời điểm BLTTHS có hiệu lực thi
hành. Vì vậy, chúng tôi cho rằng đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia
13
quy định tại Chương 11 là các tội phạm liên quan đến sự vững mạnh cũng
như sự tồn vong của Nhà nước của chế độ và việc xử lý các tội phạm này đòi
hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ
quan hữu quan khác, đồng thời trong một số trường hợp cần đảm bảo bí mật
nhà nước; các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến
tranh quy định tại chương 24 BLHS là các tội phạm chưa từng được khởi tố,
điều tra, truy tố, xét xử ở Việt Nam kể từ khi quy định các tội phạm này tại
án do việc khi chuyển vụ án từ cấp dưới lên sẽ phải làm lại cáo trạng truy tố,
do đó hồ sơ vụ án sẽ phải chuyển qua lại nhiều lần giữa Toà án và VKS, mất
nhiều thời gian không cần thiết. Mặt khác, do chưa có sự giải thích, hưóng
dẫn về vấn đề này nên cũng khiến cho việc nhận thức và áp dụng trong thực
tiễn sẽ khó có sự thống nhất. Nhóm nghiên cứu cho rằng, nên bỏ quy định
việc TAND cấp tỉnh và TAQS cấp Quân khu có thể lấy vụ án thuộc thẩm
quyền của Toà án cấp dưới lên để xét xử và bổ sung vào khoản 1 Điều 170
BLTTHS (điểm d) một số trường hợp vụ án hình sự mà tội phạm do một số
đối tượng nhất định thực hiện không thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp
huyện, để ngay khi khởi tố vụ án, khởi tố bị can, đã giao ngay cho cơ quan
điều tra cấp tỉnh điều tra từ đầu để đảm bảo sự thống nhất về thẩm quyền giữa
các cơ quan tiến hành tố tụng, tránh trường hợp sau khi truy tố ra Toà án cấp
huyện, vụ án mới bị lấy lên Toà án cấp trên xét xử. Trước mắt , để đảm bảo
việc giải quyết vụ án được khách quan, với mô hình tổ chức Toà án theo
nguyên tắc hành chính - lãnh thổ như hiện nay, những vụ án hình sự mà tội
phạm do các đối tượng sau đây thực hiện sẽ không thuộc thẩm quyền xét xử
của Toà án cấp huyện: Thẩm phán Toà án các cấp, KSV của VKS các
cấp,Điều tra viên, cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở cấp huyện, người nước ngoài,
người có chức sắc cao trong tôn giáo, có uy tín cao trong các dân tộc ít người.
Tuy nhiên, nếu sau này chúng ta tổ chức lại hệ thống Toà án theo cấp xét xử
15
và thẩm quyền xét xử theo yêu cầu cải cách tư pháp vớí mô hình Toà án sơ
thẩm khu vực không lệ thuộc vào một đơn vị hành chính như hiện nay, thì
việc xét xử các đối tượng nói trên có thể giao cho các Toà án này vẫn đảm
bảo việc xét xử khách quan. Đến thời điểm đó, có thể bỏ điểm d của Điều 170
sửa đổi này. Từ những phân tích trên, trong giai đoạn trước mắt nhóm nghiên
cứu đề xuất sửa đổi, bổ sung Điều 170 BLTTHS như sau:
Điều 170.
Thẩm quyền xét xử của Toà án các cấp
1. Toà án nhân dân cấp huyện và Toà án quân sự khu vực xét xử sơ thẩm
đầu tiên ở trong nước hoặc Tòa án nơi tàu bay, tàu biển đó đăng ký. Quy định
như vậy dễ dẫn đến việc tranh chấp hoặc đùn đẩy lẫn nhau giữa các Toà án
nói trên. Mặt khác, việc quy định cả Toà án nơi đăng ký tàu bay, tàu biển có
thẩm quyền xét xử chắc chắn sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, thu thập
chứng cứ vì thực tế nếu có tội phạm xảy ra trên tàu bay, tàu biển mà ngưòi
phạm tội bị bắt quả tang hay khẩn cấp thì khi tàu bay, tàu biển trở về sân bay,
bến cảng đầu tiên ở trong nước, do không có thẩm quyền điều tra vụ án nên
người chỉ huy tàu bay, tàu biển phải bàn giao ngay người bị bắt cho cơ quan
điều tra có thẩm quyền, chính là cơ quan điều tra sở tại, cho nên thực chất
hoạt động điều tra ban đầu như: lập biên bản phạm tội quả tang, biên bản
nhận người bị bắt, nhận bàn giao vật chứng (nếu có) đã được thực hiện ngay
khi cơ quan điều tra nhận người bị bắt. Vì vậy, nhóm nghiên cứu cho rằng
không nên quy định cho Toà án nơi tàu bay, tàu biển đăng ký có thẩm quyền
xét xử các tội phạm xảy ra trên tàu bay, tàu biển khi tàu bay tàu biển đã rời
khỏi sân bay, bến cảng Việt Nam để xác định nhanh chóng thẩm quyền điều
17
tra đối với các tội phạm này, nhằm giải quyết kịp thời, chính xác vụ án. Do
vậy, cần sửa đổi điều 172 BLTTHS như sau:
Điều 172. Thẩm quyền xét xử những tội phạm xảy ra trên tàu hay tàu
biển của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang hoạt động ngoài
không phận hoặc lãnh hải của Việt Nam.
Những tội phạm xảy ra trên tàu bay hoặc tàu biển của nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam đang hoạt động ngoài không phận hoặc lãnh hải Việt
Nam thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án Việt Nam, nơi có sân bay hoặc bến
cảng trở vể đầu tiên ở trong nước
Quy định của BLTTHS về thủ tục rút gọn trong việc điều tra, truy tố, xét
xử sơ thẩm đối với các vụ án có đủ các điều kiện quy định tại Điều 319 Bộ
luật này là rất cần thiết, vì sẽ giúp cho việc giải quyết nhanh các vụ án đơn
giản, chúng cứ rõ ràng, người phạm tội bị bắt quả tang, …Theo nhóm nghiên
cứu, với các điều kiện mà BL TTHS quy định cho việc áp dụng thủ tục rút
chung khác, HĐXX có quyền ra quyết định huỷ bản án sơ thẩm, trả hồ sơ cho
cấp sơ thẩm điều tra lại để xét xử vụ án theo thủ tục thông thường. Nếu sửa
đổi, bổ sung theo hướng mở rộng phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn cho cả giai
đoạn xét xử phúc thẩm, thì sẽ giúp cho Toà án cấp phúc thẩm (Tòa án cấp
tỉnh) tiết kiệm được nhiều thời gian hơn để tập trung vào xét xử sơ thẩm các
vụ án hình sự thuộc thẩm quyền của mình và xét xử phúc thẩm những vụ án
khác phức tạp, nghiêm trọng, nhờ đó hạn chế tình trạng tồn đọng án tại cấp
xét xử này.
Từ những lý do đã phân tích ở trên, nhóm nghiên cứu đề xuất sửa đổi, bổ
19
sung Điều 318, Điều 324 BLTTHS theo hướng mở rộng phạm vi áp dụng thủ
tục này như sau:
Điều 318. Phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn
Thủ tục rút gọn đối với việc điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm, phúc thẩm
được áp dụng theo quy định của chương này, đồng thời theo những quy định
khác của Bộ luật này không trái với những quy định của chương này.
Chúng tôi cũng đề nghị bỏ quy định ở khoản 5 Điều 324 BLTTHS đoạn
nói về “Việc xét xử phúc thẩm … đối với vụ án đã xét xử sơ thẩm theo thủ tục
rút gọn được tiến hành theo thủ tục chung” và tách khoản này ra thành hai
khoản khác nhau trong một điều luật mới (Điều 324a) với nội dung như sau:
Điều 324a. Việc xét xử phúc thẩm và việc giám đốc thẩm, tái thẩm đối
với vụ án được xét xử theo thủ tịc rút gọn
1. Việc xét xử phúc thẩm đối với vụ án đã xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút
gọn được tiến hành trong thời hạn mười ngày kể từ khi nhận hồ sơ vụ án;
phiên toà phúc thẩm được tiến hành theo thủ tục chung.
2. Việc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục
giám đốc thẩm, tái thẩm đối với vụ án đã xét xử sơ thẩm, phúc thẩm theo thủ
tục rút gọn được tiến hành theo thủ tục chung.
2. Về giới hạn xét xử của Toà án, Điều 196 BLTTHS năm 2003 quy
định về giới hạn xét xử như sau: “ Toà án chỉ xét xử những bị cáo và những
lại theo thủ tục phúc thẩm.
Thứ ba, công cuộc cải cách tư pháp đang tiến hành theo tinh thần các
21
Nghị quyết số 08-NQ/ TW ngày 02- 01 - 2001 của Bộ Chính trị về một số
nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới và Nghị quyết số 49 -
NQ/ TW ngày 02- 6 -2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp
đến năm 2020. Theo đó, cũng , xác định: “Khi xét xử,.. Thẩm phán và Hội
thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; việc phán quyết của Toà án phải căn
cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ,
toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, người bào chữa, bị cáo,
nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp
để ra những bản án, quyết định đụng pháp luật, có sức thuyết phục và trong
thời hạn do pháp luật quy định”, và “ Phân biệt rõ thẩm quyền quản lý hành
chính với trách nhiệm, quyền hạn tư pháp trong hoạt động tố tụng tư pháp
theo hướng tăng thẩm quyền và trách nhiệm cho… Thẩm phán để họ chủ
động trong thực thi nhiệm vụ, nâng cao tính độc lập và chịu trách nhiệm trước
pháp luật về các hành vi và quyết định tố tụng của mình”.
Từ những lý do trên, nhóm nghiên cứu đề nghị sửa đổi quy định tại Điều
196 BLTTHS như sau: “ Toà án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi mà
Viện kiểm sát truy tố và Toà án đã quyết định đưa ra xét xử”. Đồng thời, bổ
sung vào Điều 179 BLTTHS một căn cứ để Toà án trả hồ sơ để điều tra bổ
sung với nội dung sau: “có căn cứ cho rằng bị can phạm một tội khác nặng
hơn tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố”.
3. Về việc chuẩn bị xét xử sơ thẩm, chuẩn bị xét xử có ý nghĩa rất quan
trọng đối với việc giải quyết đúng đắn, khách quan vụ án. Thực tiễn cho thấy,
trong giai đoạn chuẩn bị xét xử đã xuất hiện một số vấn đề phức tạp xung
quanh các vấn đề như: việc Toà án trả hồ sơ để điều tra bổ xung, tạm đình chỉ
vụ án ... cần nghiên cứu làm rõ để có hướng khắc phục.
Điều 179 BLTTHS quy định Thẩm phán ra quyết định trả hồ sơ cho
22
khoản 1 Điều 50 BLTTHS thì “Bị cáo là người đã bị Tòa án quyết định đưa
ra xét xử”. Như vậy, trong trường hợp ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ
sung khi chuẩn bị xét xử, thời điểm chưa có quyết định đưa vụ án ra xét xử,
người bị VKS truy tố lúc này chỉ có tư cách là bị can.
Thứ ba, khi phát hiện có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. BLTTHS
không quy định thế nào là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng nhưng có thể
hiểu vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng là trường hợp BLTTHS quy định
bắt buộc phải tiến hành hoặc tiến hành theo thủ tục đó, nhưng cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng bỏ qua hoặc thực hiện không đúng xâm
phạm nghiêm trọng đến quyền lợi của bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên
đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án
hoặc làm cho việc giải quyết vụ án thiếu khách quan, toàn diện.
Do không nghiên cứu kĩ hồ sơ vụ án nên trong thực tiễn còn có trường
hợp Thẩm phán ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung, nhưng vấn đề cần
điều tra bổ sung đã được thu thập và có trong hồ sơ vụ án. Có trường hợp do
vụ án phải điều tra bổ sung nhiều lần nên trong hồ sơ vụ án có nhiều bản cáo
trạng khác nhau nhưng do nghiên cứu hồ sơ không kĩ nên Thẩm phán đã
quyết định đưa vụ án ra xét xử theo bản cáo trạng cũ.
Theo số liệu thống kê từ năm 2005 đến năm 2007 trong số các vụ án mà
Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung có 63,03% vụ án được trả vì lý do cần
xem xét thêm những chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà không thể bổ
sung tại phiên tòa được; 13,15% vụ án trả hồ sơ để khởi tố bổ sung; 13,08%
vụ án trả vì có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và 10,75% số vụ án được
trả vì lý do khác. Như vậy, phần lớn các vụ án Tòa án ra quyết định trả hồ sơ
24
để điều tra bổ sung là thiếu chứng cứ mà nguyên nhân một phần là do
BLTTHS chưa quy định rõ ràng, cụ thể.
Trình tự, thủ tục trả hồ sơ để điều tra bổ sung đôi khi chưa được thực
hiện nghiêm túc về hình thức văn bản. Việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung và
việc kết thúc điều tra bổ sung còn thể hiện bằng công văn. Sau khi điều tra bổ