CON NGƯỜI THƯƠNG THÂN MỘT BIỂU HIỆN ĐỘC ĐÁO CỦA Ý THỨC CÁ NHÂN TRONG THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN DU - Pdf 26

CON NGƯỜI THƯƠNG THÂN - MỘT BIỂU HIỆN ĐỘC
ĐÁO CỦA Ý THỨC CÁ NHÂN TRONG THƠ CHỮ HÁN
NGUYỄN DU
Trong bối cảnh văn hoá, xã hội của thời trung đại, không có
những điều kiện dành sẵn cho con người phát triển năng lực tự ý
thức về mình với tư cách cá nhân. Những nguyên tắc thẩm mĩ
của thời đại này “giống như những tấm màng lọc, những biểu
hiện trực tiếp của cảm xúc con người khó lòng lọt qua để thấm
vào thơ ca, nghệ thuật”
(1)
. Phải cần đến những biến đổi đặc biệt
của thời đại, của cuộc đời người nghệ sĩ mới có thể tạo nên
những xung động tinh thần mãnh liệt có khả năng phá vỡ rào
cản ấy. Bối cảnh lịch sử Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIII đầu thế
kỉ XIX và số phận đại thi hào Nguyễn Du hội tụ đầy đủ những
điều kiện đó.
Cuộc đời Nguyễn Du gắn với một giai đoạn lịch sử đầy những
biến động bất ngờ, dữ dội. Trong mấy cuộc thương hải tang
điền, dòng họ, gia đình và bản thân Nguyễn Du đã trải qua
không ít thăng trầm, mất mát. Hiện thực phũ phàng, nghiệt ngã
khiến nhà thơ cảm nhận về mình như một kiếp người nhỏ nhoi,
đáng thương giữa cõi đời. Đọc các thi tập của ông, cứ thấy trở đi
trở lại kiểu nhân vật trữ tình “Giật mình mình lại thương mình
xót xa”(Truyện Kiều). Con người thương thân ấy đã trở thành
một hình tượng nghệ thuật đặc sắc trong thơ chữ Hán Nguyễn
Du.
1. Cảm thương thân phận cô đơn, lưu lạc giữa dòng đời dâu
bể
Thống kê ở Thanh Hiên thi tập và Nam trung tạp ngâm, đã thấy
có đến 80 lần Nguyễn Du “tự hoạ” chân dung như một con
người đơn độc, mang nặng nỗi đau mất gia đình, thiếu quê

I) Cảm giác tha hương trở thành nỗi ám ảnh khôn nguôi
trong tâm hồn Nguyễn Du. Và đi tới nơi nào, kẻ lữ hành mệt
mỏi ấy cũng thấy mình chông chênh, bất an vì nỗi “Nắng mưa
thui thủi quê người một thân” (Truyện Kiều)! Bao giờ và ở đâu,
Nguyễn Du cũng chỉ có một mình.
Một mình đối diện với thời gian- thường là những đêm dài
thao thức trong cô lẻ. Trong 60 lần Nguyễn Du tả cảnh đêm
vắng lặng, luôn thấy hiện lên hình ảnh một con người cô độc,
trầm ngâm, đắm mình trong suy tưởng. Người ấy một mình lắng
nghe tiếng côn trùng rả rích, tiếng dế, tiếng vượn kêu ai oán,
tiếng mưa rơi, gió thổi, tiếng tù và, tiếng trống điểm canh để
chờ từng thời khắc trôi qua. Bao nhiêu mối sầu dồn về trong
bóng tối, bao phủ tâm hồn: “Tiễn đăng độc chiếu sơ trường
dạ” (Một mình khêu ngọn đèn soi đêm mới bắt đầu dài - Thu dạ
II ); “Côđăng tương đối đáo thiên minh” (Ngọn đèn cô đơn đối
diện với mình cho đến sáng - Mạc phủ tức sự)
Một mình đối diện với không gian- thường là mênh mông, hiu
quạnh: “Thiên lí giang sơn tần trướng vọng/ Tứ thời yên
cảnh độc trầm ngâm” (Sông núi nghìn dặm bao lần trông
ngắm /Mây khói bốn mùa một mình trầm ngâm -Thu dạ II);
“Nam minh phù nguyệt tàn thiên lí/ Cổ mạch hàn phong
cộng nhất nhân”(Trên biển nam trăng tà dập dờn ngàn dặm/
Trên lối xưa chỉ có một người với gió lạnh - Dạ hành)
Một mình chống chọi với những bất hạnh, đau thương:
"Thập niên túc tật vô nhân vấn" (Bệnh cũ mười năm không ai
thăm hỏi - Ngọa bệnh II), "Nhất thân ngoạ bệnh đế thành đông"
(Một thân nằm bệnh ở phía đông hoàng thành - Ngẫu đề )
Nhiều khi tâm sự chất chồng, trào dâng, người nghệ sĩ cô đơn
cũng chỉ một mình đối bóng, tự mình trò chuyện với mình:
“Thành đầu văn hoạ giác/ Tự ngữ đáo thiên minh” (Nghe tiếng

người ăn xin ở kinh thành Thăng Long - Nguyễn Hành) Hiếm
thấy một nhà thơ nào khác thời trung đại viết nhiều, đau thật
nhiều về cái nghèo, về sự cùng quẫn trong sinh kế như Nguyễn
Du. Nhà thơ dường như còn cố ý tô đậm cảnh nghèo khó, khốn
cùng của mình. Ông miêu tả bản thân như một kẻ phải ăn nhờ ở
đậu chai sạn tới mức quên mình là khách, kẻ ăn xin khắp chân
trời góc bể, sống nhờ vào lòng thương hại của người thiên hạ
Ông nhìn thấu sự trói buộc, tàn phá ghê gớm của miếng cơm
manh áo tầm thường. Nó đày đọa, vùi dập tâm hồn, tước đi của
con người bao khát vọng đẹp đẽ, bao niềm vui sống: “Bạch đầu
sở kế duy y thực/ Hà đắc cuồng ca tự thiếu niên” (Đầu bạc mãi
chỉ lo chuyện cơm áo/ Làm thế nào được hát ngông như thời
niên thiếu - Dạ tọa). Từ những trải nghiệm nhân sinh, Nguyễn
Du tự ý thức về mình như một thân phận nổi chìm, trôi dạt
không phương hướng giữa cõi đời dâu bể. Cái nhìn hướng nội
của nhà thơ thường nhuốm đầy chua xót, thất vọng. Bao giá trị
tinh thần từng nâng đỡ tâm hồn giờ đã thành vô nghĩa: “Nhất
sinh từ phú tri vô ích/ Mãn giá cầm thư đồ tự ngu” (Một đời từ
phú biết là vô ích/ Sách đàn đầy giá chỉ làm cho mình thêm ngu
– Mạn hứng). Ngoái về chiều nào của thời gian sống, ông cũng
thấy sự đổ vỡ, mất mát: “Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên/
Hùng tâm, sinh kế lưỡng mang nhiên” (Người tráng sĩ đầu bạc
buồn trông trời/ Hùng tâm lẫn sinh kế, cả hai đều mờ mịt – Tạp
thi ). Quá khứ vàng son đã “nhất khứ bất phục phản”, hiện tại
phũ phàng, nghiệt ngã, còn tương lai thì mịt mù, ảm đạm.
Không biết bao nhiêu lần, nhà thơ đã phải khóc thương cho sự
mòn mỏi, lụi tàn của tài năng, tâm hồn: “Xuân lan thu cúc
thành hư sự/ Hạ thử đông hàn đoạt thiếu niên” (Thú xuân lan,
thu cúc thành chuyện hão/ Hè nóng đông rét cướp mất tuổi trẻ
- Tạp thi); “Tráng niên ngã diệc vi tài giả/ Bạch phát thu phong

Nguyễn Du luôn khao khát từ bỏ cuộc sống quan trường, tìm về
với hươu nai, tùng bách non Hồng mà không thể thực hiện được
ước nguyện đó. Vì nhiều lẽ, nhà thơ đã phải chấp nhận làm quan
đến tận cuối đời, nhưng chưa lúc nào ông có thể gắn nó với lí
tưởng “trí quân trạch dân” để mà tự hào hay thanh thản. Trái lại,
ông canh cánh bên lòng nỗi tủi hờn: “Khả liên bạch phát cung
khu dịch/ Bất dữ thanh sơn tương thuỷ chung (Thương mình đầu
bạc còn phải lận đận/ Thẹn không cùng non xanh giữ được thuỷ
chung - Vọng Thiên Thai tự); “Hồng Sơn tàm phụ nhất sơn
vân”(Thẹn mình đã phụ làn mây núi Hồng - Giản Công bộ
Thiêm sự Trần)
Nỗi day dứt của Nguyễn Du khiến nhiều người cho rằng
ông mang tâm sự của người bề tôi phải thờ hai chúa. Thiết nghĩ,
Nguyễn Du tiếp nhận truyền thống tư tưởng Nho giáo nhưng
không phải là người bị trói buộc vào khuôn mẫu giáo điều của
đạo đức phong kiến. Ông nhìn thấu cái qui luật "Cổ kim vị kiến
thiên niên quốc" (Xưa nay chưa thấy triều đại nào được nghìn
năm- Vị Hoàng doanh). Vì thế, nỗi đau này nảy sinh từ sự tỉnh
táo, trong sạch của tâm hồn Nguyễn Du khi đối diện con
đường đầy hỗn tạp và nhơ bẩn chốn quan trường. Sự suy thoái
của chế độ phong kiến đương thời đã làm sụp đổ rường cột đạo
đức, làm tan vỡ giấc mơ và niềm hi vọng tạo dựng một xã hội
Nghiêu Thuấn. Bằng cảm quan nhạy bén của một nghệ sĩ lớn,
Nguyễn Du nhìn thấu bản chất của hiện thực đó: “Đời sau người
người đều là Thượng Quan/ Mặt đất này đâu đâu cũng là sông
Mịch La” (Phản Chiêu hồn). Ông không chấp
nhận say, đục theo thời nhưng đành bất lực trước thực tại. Bấy
nhiêu giằng xé, thất vọng khiến tâm hồn nhà thơ luôn u uất, có
lúc hoá thành bi phẫn cất lên tiếng kêu thương ai oán của một
con người khát khao khẳng định tài năng, ước mơ về một cuộc

nghèo không có thuốc/ Cuộc phù sinh ba mươi năm phải lo vì có
thân), "Đa bệnh nhất thân cung đạo lộ" (Tấm thân nhiều bệnh
phó mặc cho đường sá - Thủy Liên đạo trung tảo hành). Ông
đau buồn, thương hại cho thân bị cầm tù, trói buộc: "Trắc thân
bất xuất hữu hình ngoại " (Tấm thân không thể ra ngoài vòng
hữu hình - Mộ xuân mạn hứng), "Thử thân dĩ tác phàm lung vật/
Hà xứ trùng tầm mãn hạn du"(Thân này đã làm chim trong lồng/
Biết tìm đâu lại cuộc chơi phóng lãng? - Tân thu ngẫu hứng)
Ý thức và niềm thương cảm cho sự mong manh, hữu hạn của
chiếc thân trần thế kết đọng lại trong hình ảnh con người đầu
bạc, tóc ngắn trong thơ chữ Hán Nguyễn Du. Đây vốn là những
thi liệu ước lệ quen thuộc của thơ xưa. Nhiều tác giả cùng thời
với Nguyễn Du như Nguyễn Đề, Lê Quang Định, Trịnh Hoài
Đức, Ngô Thì Nhậm, Đoàn Nguyễn Tuấn, Ngô Nhân Tĩnh
cũng mượn hình ảnh nàyđể mô tả sự đổi thay của con người trên
dòng chảy thời gian. Họ thường bộc lộ cách nhìn mang tính ước
lệ, khuôn mẫu - ung dung, điềm tĩnh trước sự biến đổi tất yếu
của hình xác con người. Nhiều khi họ còn tự hào coi đó là bằng
chứng của tấm lòng báo quốc (Phong sương vốn là tiết của
người bầy tôi/ Đành để cho trong gương hai mái tóc bạc- Lê
Quang Định) Có người còn tả tóc bạc để khoe hồn trẻ trung,
tình tứ hoặc nhân chuyện râu tóc đổi thay mà nêu cao chí khí
không già (Đêm khuya thắp nến ngắm râu ông/ Nực cười cho ta
cũng đã là một cụ già/ Ngày tháng soi gương cán rìu chưa nát/
No buồm trung tín thuyền vẫn đương trôi - Ngô Thì Nhậm)
Với Nguyễn Du, mái đầu bạc đã trở thành “tín hiệu” riêng của
nỗi thương thân. Có đến 45 lần ông “tự hoạ” mình với chi tiết
ngoại hình giàu ý nghĩa ẩn dụ này: bạch phát, bạch đầu, phát
đoản, tản phát, đầu bạch, đầu dĩ bạch như ngân Hình ảnh đầu
bạc xuất hiện nhiều nhất ở Thanh Hiên thi tập - khi nhà thơ

cá nhân riêng tư nhất, thực tại nhất của con người. Truyện
Kiềulà một truyện thương thân, xót thân thấm thía nhất”
(5)

Như thế, thương thân, xót thân là một nguồn cảm hứng lớn và
được thể hiện nhất quán trong sáng tác của Nguyễn Du. Hình
tượng con người thương thân trong thơ chữ Hán góp phần lí
giải nỗi thương đời sâu nặng trong Đoạn trường tân thanh –
theo quy luật ứng xử đẹp đẽ, chân thật nhất của tình người:
“Thương người như thể thương thân”. Bởi vì, nỗi thương thân
của Nguyễn Du đâu chỉ nảy sinh từ cảnh ngộ riêng mà còn bắt
nguồn từ mối đồng cảm sâu xa của nhà thơ với mọi nỗi đau bao
trùm thân phận con người: “Tang tử binh tiền thiên lí lệ”(Giọt lệ
nơi nghìn dặm khóc cho cuộc binh đao ở quê hương - Bát
muộn); "Tứ hải phong trần gia quốc lệ" (Bốn bể gió bụi, lệ rơi
vì tình nhà nợ nước - My trung mạn hứng). Con người thương
thân trong các thi tập Nguyễn Du vừa in đậm dấu ấn tâm hồn tác
giả, vừa thể hiện những suy tư, trăn trở của một lớp người, một
thế hệ.
Khi viết về Đỗ Phủ, Nguyễn Du đã ngậm ngùithương cảm:
“Nhất cùng chí thử khởi công thi” (Một thân nghèo đến thế, há
phải vì hay thơ?). Nhà thơ cũng từng nói, trong tiếng ve kêucó
điệu thanh thương não nùng, buốt giá nhưng “Bất thị sầu nhân
bất hứa tri”
(6)
. Người nghệ sĩ phải biết sống sâu sắc với những
khát khao, ước vọng; thấm thía cả những nỗi đau của bản thân
mới có thể hiểu người, hiểu đời - để mà chia sẻ, yêu thương
Con người thương thân và những nghiệm sinh đau đớn đã là một
yếu tố quan trọng góp phần tạo nên chiều sâu và tầm vóc cái tôi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status