TIỂU LUẬN:
Phân tích một bộ phận nào đó của ý
thức xã hội trong giai đoạn nào đó
phải dựa trên trên cở tồn tại xã hội 1) Từ một hiện tượng không thể kết luận đúng một sự vật. Bởi vì:
Bản chất là tổng hợp tất cả những mặt, những mối liên hệ tất nhiên tương
đối ổn định ở bên trong sự vật, quy định sự vận động và phát triển của sự vật đó.
Còn hiện tượng là biểu hiện của những mặt, những mối liên hệ ấy ra bên ngoài.
Bản chất chính là mặt bên trong, mặt tương đối ổn định của hiện thực khách
quan. Nó ẩn giấu đằng sau cái vẻ bề ngoài của hiện tượng và biểu lộ ra qua những
nội dung của hiện tượng được quyết định không chỉ bởi bản chất của nó, bởi tác
động qua lại của nó với các sự vật chung tác động qua lại với các sự vật khác
chung quanh lại thường xuyên biến đổi. Vì vậy, hiện tượng cũng thường xuyên
biến đổi, trong khi đó bản chất là cái tương đối ổn định, là cái giữ nguyên trong
các biến đổi này của hiện tượng.
Vì bản chất là cái tất nhiên, tương đối ổn định ở bên trong sự vật, quy định
sự vận động và phát triển của sự vật, còn hiện tượng là sự biểu hiện của bản chất
ra bên ngoài, là cái không ổn định và biến đổi nhanh hơn so với bản chất nên:
trong quá trình nhận thức, để hiểu đầy đủ bà đúng đắn về sự vật, không nên dừng
lại ở hiện tượng mà phải đi sâu vào tìm hiểu bản chất của nó.
Vì hiện tượng bao giờ cũng biểu hiện bản chất dưới dạng đã cải biến, nhiều
khi xuyên tạc bản chất, nên quá trình nắm bắt bản chất của sự vật là một quá trình
hết sức khó khăn, lâu dài công phu chứ không thể chỉ qua một hiện tượng
Để phân tích một bộ phận nào đó của ý thức xã hội trong giai đoạn
nào đó phải dựa trên trên cở tồn tại xã hội
Bởi vì tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hôi, ý thức xã hội phản ánh tồn tại
xã hội, phụ thuộc vào tồn tại xã hội. Khi tồn tại xã hội biến đổi, nhất là phương
thức sản xuất biến đổi, thì những tư tưởng và lý luận xã hội, những quan điểm về
chính trị và pháp quyền, triết học, đạo đức… sớm muộn gì cũng phải biến đổi
theo. Vì thế, ở những thời kỳ lịch sử khác nhau, người ta thấy có những lý luận, tư
tưởng, quan điểm khác nhau chính là do những điều kiện khác nhau của đời sống
vật chất xã hội, trước hết là điều kiện kinh tế xã hội quyết định. Điều này thể hiện
rất rõ qua các tư tưởng cơ bản của mỗi thời đại
2) Vì sao nước ta hiện nay sản xuất nhỏ vẫn còn phổ biến
Phát triển kinh tế là vấn đề quan trọng nhất từ trước tới nay của xã hội loai
người. Kể từ khi con người xuất hiện, xã hội loài người đã trải qua và hình thành
xã hội: cuộc sống nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và
đỉnh cao đang huớng tới xã hội chủ nghĩa. Tương ứng với mỗi tình thái xã hội
trong một hình thái kinh tế mang nét đặc trưng riêng. Tư bản chủ nghĩa cũng vậy,
rất thấp , nền kinh tế lạc hậu, khoa học kĩ thuật thấp, trình độ quản lí còn yếu kém
Sau chiến thắng mùa xuân năm 1975, đất nước thống nhất, cả nước cùng quá độ
lên CNXH trong điều kiện đất nước chịu đựng những đảo lộn kinh tế và xã hộ`i
với quy mô lớn sau cuộc chiến tranh ác liệt, lâu dài, tình hình thế giới có những
mặt diễn biến không thuận lợi. Đây cũng là thời điểm mô hình kinh tế tập trung,
quan liêu bao cấp bộc lộ một cách toàn diện mặt tiêu cực của nó mà hậu quả của
nó là xuất hiện cuộc khủng hoảng kinh tế sâu sắc vào cuối những năm 70 đầu
những năm 80.
* Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng - bước ngoặt trong sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Đại hội Đảng lần thứ VI thực sự là đại hội của những quyết sách lớn nhằm
xoay chuyển tình hình và tạo ra một bước ngoặt cho sự phát triển của đất nước ta.
ý nghĩa bước ngoặt được thể hiện ở mấy điểm sau đây:
- Thời kỳ tìm tòi, thử nghiệm từ năm 1979 đến năm 1986 đã chuẩn bị tiền
đề, điều kiện và những yếu tố cần thiết cho công cuộc đổi mới cực kỳ to lớn này.
Đây là thời kỳ vận động tiệm tiến với những đột phá quan trọng để đi đến bước
nhảy vọt tại Đại hội Đảng lần thứ VI. Đại hội Đảng lần thứ VI là cột mốc mở ra
cục diện mới của nước ta trên con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Từ những quan điểm nêu trên của các Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI,
VIII, IX của Đảng và tư cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội, ta có thể rút ra một số nhận xét về đặc trưng cơ bản và chủ yếu
của mô hình kinh tế mới này là:
- Chuyển nền kinh tế từ kinh tế hiện vật, bao cấp là chủ yếu sang nền kinh tế
hàng hoá, vận hành theo cơ chế thị trường, dưới sự quản lý của nhà nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là cách tổ chức sản xuất tối ưu để xây dựng cơ sở vật
chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội mà hiệu quả kinh tế cuối cung là năng suất lao
động cao, chất lượng tốt, tạo ra nhiều sản phẩm thặng dư.
- Nền kinh tế mở hội nhập với nền kinh tế thế giới trên nguyên tắc vừa hợp
tác vừa cạnh tranh và đảm bảo tính độc lập, tự chủ theo định hướng xã hội chủ
nghĩa.
- Thực tiễn kinh tế đất nước từ khi chuyển sang mô hình kinh tế mới đã và
đang chứng minh tính khách quan khoa học, tính hiệu quả của mô hình kinh tế đó.
Chỉ trong một thời gian ngắn, mô hình kinh tế mới đã đem lại những thành tựu rất
quan trọng, góp phần tích cực đưa đất nước thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế -
xã hội gay gắt và tạo ra những tiền đề cho thời kỳ phát triển mới, thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Là một mô hình kinh tế hoàn toàn mới, thời gian đưa vào thực hiện chưa
được bao lâu nên chúng ta chưa thể xem đó là một mô hình đã được thiết kế xong
xuôi, hoàn chỉnh mà cần có thời gian và kinh nghiệm thực tiễn để bổ sung, phát
triển và hoàn thiện mô hình đó.