SINH TRƯỞNG CỦA RỪNG TRÀM (Melaleuca cajuputi Powell)
Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
ThS. PHẠM XUÂN QUÝ
TÓM TẮT
Bài báo giới thiệu kết quả nghiên
cứu sinh trưởng của rừng tràm
(Melaleuca cajuputi Powell) được trồng
trên đất ngập nước phèn ở đồng bằng
sông Cửu Long. Quá trình sinh trưởng
của rừng tràm cajuputi được phân tích từ
100 cây giải tích bình quân và 189 ô tiêu
chuẩn đại diện cho những lâm phần từ 2-
12 tuổi trên ba cấp đất khác nhau. Kết
quả nghiên cứu cho thấy, đường kính và
chiều cao của rừng tràm cajuputi trồng
có sự chuyển tiếp từ giai đoạn sinh
trưởng nhanh sang giai đoạn sinh trưởng
chậm ở tuổi 5 năm sau khi trồng. Bốn đại
lượng ZD
max
và ΔD
max
, ZH
max
và ΔH
max
trên cả ba cấp đất I, II và III đều xảy ra ở
tuổi 2 và 3. Hai đại lượng ZV
max
và ΔV
max
Nhưng muốn đạt được điều đó, rõ ràng
cần phải có những hiểu biết tốt về đặc
trưng lâm học của rừng tràm cajuputi.
Trước đây đã có một số công trình
nghiên cứu về rừng tràm cajuputi. Tuy
vậy, cho đến nay vẫn chưa có công trình
nào đi sâu nghiên cứu về sinh trưởng của
rừng tràm cajuputi trên những cấp đất
khác nhau ở đồng bằng sông Cửu Long.
Vì thế, mục tiêu của nghiên cứu này là
mô tả và phân tích so sánh sự khác biệt
về sinh trưởng và năng suất của những
lâm phần tràm cajuputi ở những giai
đoạn tuổi và cấp đất khác nhau.
55
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu là rừng
tràm cajuputi trồng trong giai đoạn 12
tuổi trên ba cấp đất khác nhau ở ba tỉnh
Long An, Kiên Giang và Cà Mau thuộc
vùng đồng bằng sông Cửu Long. Rừng
được trồng với mật độ 20.000 cây/ha và
chưa qua tỉa thưa. Cấp đất của rừng tràm
cajuputi là do tác giả xây dựng. Địa điểm
thu thập mẫu được chọn điển hình ở ba
khu vực Thạnh Hóa - Mộc Hóa tỉnh
Long An, Hòn Đất tỉnh Kiên Giang và U
Minh hạ tỉnh Cà Mau.
Để làm rõ quá trình sinh trưởng
/ha) theo tuổi (A, năm) bằng
8 hàm khác nhau – đó là hàm Tarazaki
(1907), Gompertz (1925), Kosun-Strand
(1935), Schumacher (1939), Drakin-
Vuevxki (1940), Assmann-Franz (1964),
Korf (1973) và S-curve; trong đó các hệ
số của các hàm được xác định bằng
phương pháp hồi quy phi tuyến của
Marquardt. Tiếp theo, chọn mô hình phù
hợp nhất theo 5 tiêu chuẩn thống kê - đó
là max(R
2
), sai lệch tuyệt đối nhỏ nhất
(minMAE), sai lệch tuyệt đối tính theo
phần trăm nhỏ nhất (minMAPE),
min(Y
lt
-Y
tn
)
2
và biểu diễn gần đúng nhất
quy luật biến đổi D, H, V và M theo tuổi.
Tiêu chuẩn thứ năm được hiểu theo
nghĩa “Mô hình phản ánh đúng hoặc gần
đúng nhất tuổi cây đạt ZY
max
và ΔY
max
”
) (1)
R
2
= 91,9%; Se = ± 0,54; MAE = 0,430; MAPE = 13,8%.
Đối với những lâm phần tràm cajuputi trên ba cấp đất, mô hình
D
- A có dạng:
D
(I)
= 16,1394*exp(-2,7296*A
-0,50732
) (2)
R
2
= 96,3%; Se = 0,373; MAE = 0,291; MAPE = 7,0%.
D
(II)
= 17,6317*exp(-3,13936*A
-0,49627
) (3)
R
2
= 98,6%; Se = 0,215; MAE = 0,171; MAPE = 5,9%.
D
(III)
= 23,2391*exp(-3,86249*A
-0,45255
) (4)
R
2
2
= 94,5%; Se = 0,6088; MAE = 0,486; MAPE = 13,8%.
H
(III)
= 34,8248*exp(-3,98899*A
-0,375745
) (8)
R
2
= 84,9%; Se = ±0,8456; MAE = 0,650; MAPE = 17,9%.
Kết quả phân tích thống kê cho thấy, mô hình Drakin-Vuevxki biểu diễn tốt
nhất quá trình biến đổi thể tích thân cây tràm cajuputi theo tuổi. Đối với toàn bộ rừng
tràm cajuputi ở đồng bằng sông Cửu Long, mối quan hệ
V
- A có dạng:
V
= 0,025939*(1-exp(-0,188157*A))
3,78191
(9)
R
2
= 99,98%; Se = ±0,00007; MAE = 0,00004; MAPE = 4,9%.
Đối với những lâm phần tràm cajuputi trên ba cấp đất, mô hình
V
- A có dạng:
V
(I)
= 0,033315*(1-exp(-0,185692*A))
3,66804
(10)
Đối với những lâm phần tràm cajuputi trên ba cấp đất, mô hình
V
- A có dạng:
M
(I)
= exp(5,83519 – 6,94539/A) (14)
R
2
= 99,5%; Se = ±0,0795; MAE = 4,8; MAPE = 4,8%.
M
(II)
= exp(5,76094 – 8,65189/A) (15)
R
2
= 99,2%; Se = ±0,1319; MAE = 5,3; MAPE = 8,9%.
M
(III)
= exp(5,58462 – 11,4123/A) (16)
R
2
= 98,6%; Se = ±0,2275; MAE = 8,1; MAPE = 16,8%.
Bằng cách biến đổi các mô hình
(1) đến (16) có thể xác định được lượng
tăng trưởng thường xuyên hàng năm,
lượng tăng trưởng bình quân năm và suất
tăng trưởng D, H, V và M của rừng tràm
cajuputi tương ứng với tuổi và cấp đất
khác nhau. Dưới đây chỉ ghi lại tóm tắt
quá trình sinh trưởng D, H, V và M của
rừng tràm cajuputi ở khu vực đồng bằng
12 7,1 0,31 0,59 4,3 8,6 0,37 0,72 4,3
Bảng 2. Sinh trưởng thể tích thân cây và trữ lượng rừng tràm cajuputi
12 tuổi ở đồng bằng sông Cửu Long
Tuổi
(năm)
Thể tích thân cây (V, m
3
/cây): Trữ lượng rừng (M, m
3
/ha):
Cả thời
kỳ
ZV
∆V
Pv% Cả thời kỳ ZM
∆M
Pm%
(1) (2) (3) (4) (5) (6) (7) (8) (9)
2 0,00032 0,00029 0,00016 89,8
3,4 3,4 1,7 98,9
4 0,00233 0,00125 0,00058 53,7
32,3 17,1 8,1 52,8
6 0,00592 0,00193 0,00099 32,6
68,5 17,8 11,4 25,9
8 0,01004 0,00206 0,00125 20,6
99,6 14,8 12,5 14,9
10 0,01388 0,00185 0,00139 13,4
124,8 11,9 12,5 9,5
12 0,01708 0,00151 0,00142 8,8
145,0 9,6 12,1 6,6
ZH và ΔH
H (m)
(b)
.
.
ZV và ΔV
V (m/cây)
Hình 2. Quá trình biến đổi thể tích thân cây bình quân (a) và trữ lượng bình quân (b) của
rừng tràm cajuputi 12 tuổi ở đồng bằng sông Cửu Long.
ZM và ΔM
M (m/ha)
(a)
(b)
A (năm) A (năm)
Những tính toán cũng nhận thấy,
so với trữ lượng rừng tràm cajuputi trên
cấp đất I tại tuổi 5 (85,3 m
3
/ha hay
100%) và tuổi 10 (170,8 m
3
/ha hay
100%), đại lượng này trên cấp đất II
(tương ứng 56,3 và 133,7 m
3
/ha) thấp
hơn tương ứng 29,0 m
3
/ha hay 34,0% và
37,1 m
tuổi có sự chuyển tiếp từ giai đoạn sinh
trưởng nhanh sang giai đoạn sinh trưởng
chậm ở tuổi 5 năm sau khi trồng. Tốc độ
sinh trưởng đường kính và chiều cao ở
giai đoạn từ 1-5 tuổi lớn hơn 2 lần so với
giai đoạn từ 6-12 tuổi.
(2) Bốn đại lượng ZD
max
và ΔD
max
, ZH
max
và ΔH
max
trên cả ba cấp đất I, II và III
đều xảy ra ở tuổi 2 và 3. Hai đại lượng
ZV
max
và ΔV
max
xuất hiện tương ứng ở
tuổi 8 và 12. Đại lượng ZM
max
trên ba cấp
đất I, II và III xảy ra ở tuổi 4, 5 và 6;
tương tự ΔM
max
rơi vào tuổi 7, 8 và 9.
Ngoài ra, tuổi thành thục số lượng của
cây cá thể trên cả ba cấp đất I, II và III
9. Chế Đình Lý (1997), Mô hình hóa trong lâm nghiệp, Tài liệu dành cho học viên
cao học ngành Lâm nghiệp, Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh, 147 trang.
10.Phùng Trung Ngân, Châu Quang Hiền (1987), Rừng ngập nước ở Việt Nam, Nxb.
Giáo dục.
11.Phạm Xuân Quý (2010), Xây dựng biểu cấp đất rừng tràm (Melaleuca cajuputi) ở
khu vực Tây Nam Bộ, Tạp chí Nông nghiệp & PTNT số ra 4/2010, trang 103-
108.
12.Nguyễn Hải Tuất và Nguyễn Trọng Bình (2005), Khai thác và sử dụng SPSS để xử
lý số liệu nghiên cứu trong lâm nghiệp, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội.
13.Benjachaya, S., T. Jirayut, P.Amonchot, L. Suthiwilairatana. C. Chuayna, B.
Sompoh and W.Sonthiwat (2002), Evaluation on Utilization Potential of
Melaleuca cajuputi Powell, pp- 33-41 in The 38th Kasetsart University
Annual Confeence, Bangkok.
14.Pham The Dung, Kieu Tuan Dat (2005), The influence of planted density on
growing of Melaleuca species on sulphate acid soil in Thanh Hoa forest
experimental station. Science report. Forest science Sub – Institute south Viet
Nam (FSSIV).
15.Hoamuangkaew, W. (2002), Finacial Analysis of Melaleuca cajuputi
Reforestation in Toe Daeng Peat Swamp Forest, Narathiwat Province,
Proceeding of The First Thai –Biomass Utilization Symposium, Faculty of
Forestry, Kasetsart University, Bangkok, Thailand. PP 91-20.
GROWTH OF MELALEUCA CAJUPUTI POWELL PLANTATIONS
IN THE MEKONG DELTA
SUMMARY
This report introduces a summary result of study on Melaleuca cajuputi Powell
plantation on sulphate soil in Mekong Delta. Increment process of Melaleuca cajuputi
Powell plantation is analyzed through selection of 100 sample stems from stand on
average and 189 sample slots that represents stands at the age from 2 and 12 in three
different site classes. The result shows that diameter and height of Melaleuca cajuputi
Powell planted at the age of 12 have a transition from fast increment stage to slow one