Môn học: Môi trờng xây dựng - Biên soạn Ths- Gvc Lê công Chính Bộ môn: Công nhệ- TCTC
Chơng 1: Các vấn đề chung về
khoa học môi trờng.
1.1. Định nghĩa:
Môi trờng bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo có quan hệ
mật thiết với nhau, bao quanh con ngời, có ảnh hởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn
tại, phát triển của con ngời và thiên nhiên (Điều 1, Luật BVMT của Việt Nam,
1993).
Từ định nghĩa tổng quát này, các khái niệm về MT còn đợc hiểu theo các nghĩa
khác nhau, nhng tựu trung lại không nằm ngoài nội dung của định nghĩa kinh điển
trong Luật BVMT.
Định nghĩa l: MT theo nghĩa rộng nhất là tổng hợp các điều kiện bên ngoài có ảnh
hởng tới một vật thể hoặc một sự kiện. Bất cứ một vật thể, một sự kiện nào cũng tồn
tại và diễn biến trong một MT. Khái niệm chung về MT nh vậy đợc cụ thể hoá đối
với từng đối tợng và từng mục đích nghiên cứu.
Đối với cơ thể sống thì ''Môi trờng sống'' là tổng hợp những điều kiện bên ngoài có
ảnh hởng tới đời sống và sự phát triển của cơ thể (Lê Văn Khoa, 1995).
Định nghĩa 2: MT bao gồm tất cả những gì bao quanh sinh vật, tất cả các yếu tố vô
sinh và hữu sinh có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên sự sống, phát triển và sinh
sản của sinh vật (Hoàng Đức Nhuận, 2000).
Theo tác giả, MT có 4 loại chính tác động qua lại lẫn nhau:
- Môi trờng tự nhiên bao gồm nớc, không khí, đất đai, ánh sáng và các sinh vật.
- Môi trờng kiến tạo gồm những cảnh quan đợc thay đổi do con ngời.
- Môi trờng không gian gồm những yếu tố về địa điểm, khoảng cách, mật độ, ph-
ơng hớng và sự thay đổi trong MT.
- Môi trờng văn hoá - xã hội bao gồm các cá nhân và các nhóm, công nghệ, tôn
giáo, các định chế, kinh học, thẩm mỹ học, dân số học và các hoạt động khác của
con ngời.
Định nghĩa 3: MT là một phần của ngoại cảnh, bao gồm các hiện tợng và các thực
thể của tự nhiên, mà ở đó, cá thể, quần thể, loài, có quan hệ trực tiếp hoặc gián
nhanh chóng, sâu sắc và phạm vi tác động ngày càng mở rộng, kể cả ở ngoài phạm
vì TĐ. Về mặt xã hội, các cá thể con ngời họp lại thành cộng đồng, gia đình, bộ tộc,
quốc gia, xã hội theo những loại hình, phơng thức và thể chế khác nhau. Từ đó tạo
nên các mối quan hệ, các hình thái tổ chức kinh tế xã hội có tác động mạnh mẽ tới
MT vật lý, MT sinh học.
Trong thế kỷ XXI, dự đoán sẽ xuất hiện tng bừng của một nền kinh tế mới. Nền
kinh tế này có tên gọi là ''kinh tế tri thức'' và nhiều tên gọi khác nhng nội dung khoa
học kỹ thuật của nó thì vẫn chỉ là một. Đó là: khoa học và công nghệ trở thành lực
lợng sản xuất trực tiếp ; thông tin và tri thức trở thành một nguồn tài nguyên vô
cùng quý giá; hàm lợng trí tuệ trong từng sản phẩm ngày càng gia tăng, nhất là
công nghệ thông tin, đặc biệt là lntemet là phơng tiện lao động phổ biến nhất và có
hiệu quả nhất.
Trang:
2
Môn học: Môi trờng xây dựng - Biên soạn Ths- Gvc Lê công Chính Bộ môn: Công nhệ- TCTC
Với những đặc trng nh trên, nền kinh tế mới có sức sống mãnh liệt hơn nhiều so
với những nền kinh tế cũ: kinh tế nguyên thuỷ, kinh tế nông nghiệp và kinh tế công
nghiệp. Nền kinh tế mới đợc phát triển dựa trên tri thức khoa học cho nên tốc độ
tăng trởng của nó tỷ lệ thuận với tốc độ tăng trởng của khối lợng tri thức khoa học
mà loài ngời tích luỹ đợc. Các nhà nghiên cứu lịch sử khoa học cho rằng, số lợng tri
thức mà loài ngời sáng tạo ra chỉ trong thế kỷ XX bằng tổng tri thức khoa học mà
loài ngời đã tích luỹ trong suốt lịch sử tồn tại hơn năm trăm nghìn năm của mình.
Trong thế kỷ XXI, khối lợng tri thức lại có thể đợc nhân lên gấp bội. Do đó, cần
phải khôn khéo và tìm mọi cơ hội và mọi phơng thức để nắm lấy cái cốt lõi nhất của
vấn đề là tri thức cho sự phát triển Phải nắm lấy ngay kẻo muộn. Muộn lần này sẽ
phải trả giá gấp bội so với những lần bỏ lỡ trớc ( Chu Hảo, 2000 ).
Nh vậy MT sống của con ngời theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã
hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con ngời nh tài nguyên thiên nhiên,
không khí, đất, nớc, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội Với nghĩa hẹp thì MT
sống của con ngời chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và nhóm nhân tố xã hội trực
Không giống nh Sinh học, Địa chất học, Hoá học và Vật lý học, và những ngành
khoa học tìm kiếm việc thiết lập các nguyên lý chung về chức năng của thế giới tự
nhiên, KHMT là một ngành khoa học ứng dụng, một dạng của các phơng án giải
quyết vấn đề là sự tìm kiếm những thay thế cấu trúc đối với tổn thất MT. Khoa học
sinh thái và những nguyên lý sinh học tập trung nghiên cứu các mối quan hệ tơng
hỗ giữa những cơ thể sống và MT của chúng, là những cơ sở và nền tảng của
KHMT. Chúng ta nghiên cứu chi tiết những vấn đề của sinh thái học, sử dụng những
cái gì đã biết về sinh thái học để tập trung giải quyết những vấn đề cụ thể về MT.
Khoa học MT là khoa học tổng hợp, liên ngành, nó sử dụng và phối hợp thông tin
từ nhiều lĩnh vực nh: sinh học, hoá học, địa chất, thổ nhỡng, vật lý, kinh tế, xã hội
học, khoa học quản lý và chính trị, để tập trung vào các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu đặc điểm của các thành phần MT (tự nhiên hoặc nhân tạo) có ảnh h-
ởng hoặc chịu ảnh hởng bởi con ngời, nớc, không khí, đất, sinh vật, hệ sinh thái
(HST), khu công nghiệp, đô thị, nông thôn, Ơ đây, KHMT tập trung nghiên cứu
mối quan hệ và tác động qua lại giữa con ngời với các thành phần của MT sống.
- Nghiên cứu công nghệ, kỹ thuật xử lý ô nhiễm bảo vệ chất lợng, MT sống của con
ngời.
- Nghiên cứu tổng hợp các biện pháp quản lý về khoa học kinh tế, luật pháp, xã hội
nhằm BVMT và phát triển bền vững (PTBV) Trái Đất, quốc gia, vùng lãnh thổ,
ngành công nghiệp.
- Nghiên cứu về phơng pháp nh mô hình hoá, phân tích hoá học,vật lý, sinh học
phục vụ cho 3 nội dung trên.
Tuy nhiên, không phải chỉ liệt kê một cách ảm đạm các vấn đề MT đi đôi với
những giải đoán cho một tơng lai hoang vắng và buồn tẻ. Ngợc lại, mục tiêu của
KHMT và mục tiêu của chúng ta nh những cá thể, những công dân của thế giới là
xác định, thấu hiểu các vấn đề mà tổ tiên của chúng ta và chính chúng ta đã khơi
dậy, xúc tiến. Còn nhiều vấn đề phải làm và phải làm nhiều hơn nữa ở mỗi cá thể,
mỗi quốc gia và trên phạm vi toàn cầu.
Trang:
4
5
-10
4
0(CN) 1650 1840 1930 1994 2010
Dânsố(Triệungời)
Diện tích(ha/ng)
0,125
120.000
1,0
15.000
5.0
3.000
200
75
545
27,5
1.000
15
2.000
7,5
5.000
3,0
7.000
1,88
Bảng 2. Diện tích đất canh tác trên đầu ngời ở Việt Nam
Năm 1940 1960 1970 1992 2000
Bình quân đầu ngời 0,2 0,16 0,13 0,11 0,1
Yêu cầu về không gian sống của con ngời thay đổi theo trình độ khoa học và công
nghệ. Trình độ phát triển càng cao thì nhu cầu về không gian sản xuất sẽ càng giảm.
Tuy nhiên, trong việc sử dụng không gian sống và quan hệ với thế giới tự nhiên, có
- Chức năng cung cấp năng lợng, thông tin.
- Chức năng giải trí của con ngời: cung cấp mặt bằng, nền móng và phông tự nhiên
cho việc giải trí ngoài trời của con ngời (trợt tuyết, trợt băng, đua xe, đua ngựa, ).
1.3.2. Môi trờng là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống
và sản xuất của con ngời.
Trang:
6
Môn học: Môi trờng xây dựng - Biên soạn Ths- Gvc Lê công Chính Bộ môn: Công nhệ- TCTC
Trong lịch sử phát triển, loài ngời đã trải qua nhiều giai đoạn. Bắt đầu từ khi con
ngời biết canh tác cách đây khoảng 14 - 15 nghìn năm, vào thời kỳ đồ đá giữa cho
đến khi phát minh ra máy hơi nớc vào thế kỷ thứ XVIII, đánh dấu sự khởi đầu của
công cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trong mọi lĩnh vực. Xét về bản chất thì mọi
hoạt động của con ngời để duy trì cuộc sống đều nhằm vào việc khai thác các hệ
thống sinh thái của tự nhiên thông qua lao động cơ bắp, vật t công cụ và trí tuệ.
Với sự hỗ trợ của các hệ thống sinh thái, con ngời đã lấy từ tự nhiên những nguồn
tài nguyên thiên nhiên cần thiết phục vụ cho việc sản xuất ra của cải vật chất nhằm
đáp ứng nhu cầu của mình.
Rõ ràng, thiên nhiên là nguồn cung cấp mọi nguồn tài nguyên cần thiết. Nó cung
cấp nguồn vật liệu, năng lợng, thông tin (kể cả thông tin di truyền) cần thiết cho
hoạt động sinh sống, sản xuất và quản lý của con ngời. Nhu cầu của con ngời về các
ngụồn tài nguyên không ngừng tăng lên cả về số lợng, chất lợng và mức độ phức tạp
theo trình độ phát triển của xã hội. Chức năng này của MT còn gọi là nhóm chức
năng sản xuất tự nhiên gồm :
- Rừng tự nhiên: có chức năng cung cấp nớc, bảo tồn tính ĐDSH và độ phì nhiêu
của đất, nguồn gỗ củi, dợc liệu và cải thiện điều kiện sinh thái.
- Các thủy vực: có chức năng cung cấp nớc, dinh dỡng, nơi vui chơi giải trí và các
nguồn thủy hải sản.
- Động thực vật: cung cấp lơng thực và thực phẩm và các nguồn gen quý hiếm.
- Không khí, nhiệt độ, năng lợng mặt trời (NLMT), gió, nớc: Để chúng ta hít thở,
cây cối ra hoa và kết trái.
sinh vật, lịch sử xuất hiện và phát triển văn hoá của loài ngời.
- Cung cấp các chỉ thị không gian và tạm thời mang tính chất tín hiệu và báo động
sớm các hiểm hoạ đối với con ngời và sinh vật sống trên TĐ nh phản ứng sinh lý
của cơ thể sống trớc khi xảy ra các tai biến tự nhiên và các hiện tợng tai biến tự
nhiên, đặc biệt nh bão, động đất, núi lửa,
Lu trữ và cung cấp cho con ngời sự đa dạng các nguồn gen, các loại động thực
vật, các HST tự nhiên và nhân tạo, các vẻ đẹp cảnh quan có giá trị thẩm mỹ để th-
ởng ngoạn, tôn giáo và văn hoá khác.
1.4. Phơng pháp tiếp cận trong nghiên cứu và giải quyết
những vấn đề môi trờng.
Để duy trì chất lợng MT hay nói đúng hơn là duy trì đợc cân bằng của tự nhiên,
đa tất cả các hoạt động của con ngời đạt hiệu quả tốt nhất, vừa phát triển kinh tế,
vừa hài hoà với tự nhiên thì việc quy hoạch và quản lý lãnh thổ trên quan điểm sinh
thái - MT là giải pháp hữu hiệu nhất: Theo yêu cầu của con ngời, các HST tự nhiên
đợc phân thành 4 loại chính: HST sản xuất, HST bảo vệ; HST đô thị và HSR với các
mục đích khác nh giải trí, du lịch, khái thác mỏ, Quy hoạch sinh thái học cũng có
nghĩa là sắp xếp và quản lý cân đối, hài hoà cả 4 loại HST đó.
Trong nghiên cứu, nhiều vấn đề MT đang đối mặt với chúng ta hiện nay, điều
quan trọng là không đợc phép quên một thực tế là chúng ta có thể làm đợc nhiều
việc để cải thiện tình trạng. Vai trò của KHMT không chỉ dừng lại ở việc xác định
Trang:
8
Môn học: Môi trờng xây dựng - Biên soạn Ths- Gvc Lê công Chính Bộ môn: Công nhệ- TCTC
các vấn đề, các bức xúc mà phải đề nghị và đánh giá các phơng án giải quyết tiềm
năng. Mặc dù, việc lựa chọn thực hiện phơng án giải quyết đợc đề nghị luôn luôn là
chủ đề của chính sách và chiến lợc của xã hội, KHMT ở đây đóng vai trò chủ chốt
trong giáo dục cả hai: các quan chức và cộng đồng. Việc giải quyết thành công
những vấn đề MT thờng bao gôm 5 bớc cơ bản sau:
Bớc l: Đánh giá khoa học: giai đoạn trớc tiên tập trung vào bất kỳ vấn đề MT nào
làsự đánh giá khoa học, thu thập thông tin, số liệu. Các số liệu phải đợc thu thập và
Thứ nhất: đó là các HSR và sinh thái nhân văn toàn cầu bị đe doạ bởi sự mất
cân bằng sâu sắc trong năng suất và trong phân bố hàng hoá và dịch vụ. Một tỷ lệ
đáng kể nhân loại hiện nay vẫn đang sống trong sự nghèo khó và xu hớng đợc dự
báo là sự khác biệt sẽ ngày càng tăng giữa những ngời thu đợc lợi ích từ sự phát
triển kinh tế và công nghệ và những ngời không hoặc thu lợi ít theo hai thái cực: sự
phồn thịnh và sự cùng cực đang đe doạ sự ổn định của toàn bộ hệ thống nhân văn và
cùng với nó là MT toàn cầu.
Thứ ha : thế giới hiện đang ngày càng biến đổi, trong đó sự phối hợp quản lý MT
ở quy mô quốc tế luôn bị tụt hậu so với sự phát triển kinh tế - xã hội. Những thành
quả về MT thu đợc nhờ công nghệ và những chính sách mới đang không theo kịp
nhịp độ và quy mô gia tăng dân số và phát triển kinh tế. Mỗi một phần trên bề mặt
TĐ đợc thiên nhiên ban tặng cho các thuộc tính MT của riêng mình, mặt khác, lại
cũng phải đơng đầu với hàng loạt các vấn đề mang tính toàn cầu đã và đang nổi lên.
Những thách thức đó là:
1.5.1. Khí hậu toàn cầu biến đổi và tần xuất thiên tai gia tăng.
Vào cuối những năm 1990, mức phát tán điôxyt cacbon (CO
2
) hàng năm xấp xỉ
bằng 4 lần mức phát tán năm 1950 và hàm lợng CO
2
đã đạt đến mức cao nhất trong
những năm gần đây. Theo đánh giá của Ban Liên Chính phủ về biến đổi khí hậu thì
có bằng chứng cho thấy về ảnh hởng rất rõ rệt của con ngời đến khí hậu toàn cầu.
Những kết quả dự báo gồm việc dịch chuyển của các đới khí hậu, những thay đổi
trong thành phần loài và năng suất của các HST, sự gia tăng các hiện tợng
thời tiết khắc nghiệt và những tác động đến sức khoẻ con ngời. Các nhà khoa học
cho biết, trong vòng 100 năm trở lại đây, TĐ đã nóng lên khoảng 0,5
o
C và trong thế
kỷ này sẽ tăng từ (1,5
- Nhiều HST bị mất cân bằng nghiêm trọng ở nhiều khu vực trên thế giới. Tất cả các
yếu tố này góp phần làm cho thiên nhiên mất đi khả năng tự điều chỉnh vốn có của
mình.
Việt Nam tuy cha phải là nớc công nghiệp, nhng xu hớng góp khí gây hiệu ứng
nhà kính làm biến đổi khí hậu toàn cầu cũng gia tăng theo năm tháng. Kết quả kiểm
kê của dự án Môi trờng toàn cầu (RETA) cảnh báo môi trờng toàn cầu đang bị đe
doạ nghiêm trọng.
Chơng 2.
Khái niệm cơ bản về môi trờng, sinh thái và hệ sinh thái.
2.1. Môi trờng , tài nguyên và phát triển.
2.1.1. Môi trờng.
Môi trờng là tổng hợp tất cả các yếu tố vật chất bao quanh và có ảnh hởng tới đời
sống và sự phát triển của mọi sinh vật.
Môi trờng sống của con ngời bao gồm tổng hợp tất cả cấc yếu tố vật chất(tự nhiên
và nhân tạo) bao quanh và có anh hởng tới sự sống và sự phát triển của từng cá nhân
và của những cộng đồng con ngời.
Môi trờng sống của con ngời là cả vũ trụ bao la, trong đó hệ Mặt Trời và Trái Đất
là bộ phận có ảnh hởng trực tiếp và rõ rệt nhất. Về mặt vật lý, Trái Đất gồm có:
thạch quyển (lithosphere) chỉ phần rắn của Trái Đất từ mặt đất đến độ sâu khoảng
60 km: thủy quyển (hydrosphere) tạo nên bởi các đại dơng, biển, ao hồ, băng tuyết
và các vùng nớc khác; khí quyển (atmosphere) với không khí và các loại khí khác
bao quanh mặt đất.Về mặt sinh học, trên Trái Đất có sinh quyển (biosphere) bao
Trang:
11
Môn học: Môi trờng xây dựng - Biên soạn Ths- Gvc Lê công Chính Bộ môn: Công nhệ- TCTC
gồm các cơ thể sống và những bộ phận của thạch quyển, thủy quyển và khí quyển là
các điều kiện vật lý của nuôi trờng sống của các cơ thể sống. Sinh quyển gồm các
thành phần hữu sinh và thành phần vô sinh, quan hệ chặt chẽ và tơng tác phức tạp
với nhau. Khác với các''quyển'' vật chất vô sinh, trong sinh quyển ngoài vật chất,
năng lợng, còn có thông tin với tác dụng duy trì cấu trúc và cơ chế tồn tại và phát
tố đó nh là không khí, nớc, âm thanh, ánh sáng, bức xạ, cảnh quan, thẩm mỹ, đạo
đức, quan hệ chính trị - xã hội tại địa bàn sinh sống và làm việc của con ngời.
Nh đã trình bày, thuật ngữ môi trờng có nội dung rộng lớn và đa dạng.
Để đảm bảo chính xác, nhất quán và tiện lợi trong trình bày, trong tài liệu này
thuật ngữ môi trờng sẽ đợc dùng để chỉ môi trờng sống chung của con ngời và các
nhân tố thiên nhiên và xã hội của nó, thuật ngữ mồi trờng sống sẽ đợc dùng để chỉ
môi trờng hiểu theo nghĩa hẹp với các nhân tố về chất lợng đối với sức khỏe và tiện
nghi sinh sống cho con ngời.
2.1.2. Ô nhiễm môi trờng.
Ô nhiễm môi trờng là sự thay đổi tính chất của môi trờng, vi phạm các tiêu
chuẩn của môi trờng, gây ảnh hởng xấu tới sinh vật và môi trờng thiên nhiên.
2.1.3. Tài nguyên:
Hiểu theo nghĩa rộng tài nguyên bao gồm tất cả các nguồn vật chất có trên Trái
Đất và trong không gian vũ trụ liên quan mà con ngời có thể sử dụng phục vụ cuộc
sống và sự phát triển của mình.
Tài nguyên có thể đợc phân loại theo tài nguyên thiên nhiên gắn liền với các
nhân tố thiên nhiên và tài nguyên con ngời gắn liền với các nhân tố về con ngời và
xã hội.
Tài nguyên còn đợc phân thành tài nguyên tái tạo đợc và tài nguyên không tái tạo
đợc.
Tài nguyên tái tạo đợc là những tài nguyên dựa vào nguồn năng lợng đợc cung
cấp hầu nh là liên tục và vô tận từ vũ trụ và Trái Đất, dựa vào trật tự thiên nhiên,
nguồn thông tin vật lý và sinh học đã hình thành để tiếp tục tồn tại sinh sôi, nảy nở
và chỉ mất đi lúc không còn nguồn năng lợng và thông tin nói trên. Tài nguyên tái
tạo đợc cũng có thể đinh nghĩa một cách đơn giản hơn, là những tài nguyên có thể
tự duy trì hoặc tự bổ sung một cách tên tục nếu đợc quản lý một cách khôn ngoan
[JORGENSEN S.E,1981]. Năng lợng mặt trời, năng lợng nớc, gió, không khí, tài
nguyên sinh học là những tài nguyên tái tạo đợc.
Tài nguyên không tái tạo đợc tồn tại một cách hữu hạn, sẽ mất đi hoặc hoàn toàn
bị biến đổi, không còn giữ đợc tính chất ban đầu sau quá trình sử dụng. Các loại
Tính bất hợp lý của nền kinh tế thế giới, bất công về kinh tế đối với các nớc thu
nhập thấp ngày càng tăng, tạo nên nhiều khó khăn mới cho các nớc nghèo và gây
nên nhiều tình trạng bất ổn cho nền kinh tế thế giới.
Để phần khắc phục những khó khăn đó, một số tổ chức quốc tế đã đúc rút kinh
nghiệm thành bại trong thực tế, xây dựng một là mô hình chiến lợc và mục tiêu phát
triển kinh tế cho các nớc đang phát triển. Từ năm l960 Liên Hiệp Quốc đa ra chiến
lợc phát triển 10 năm lần thứ nhất, với mục tiêu là dùng viện trợ của các nớc phát
triển và du nhập kỹ thuật mới để nâng cao thu nhập của các nớc đang phát triển.
Những mục tiêu đó nói chung đã không đạt đợc. Tiếp đó trong những năm bảy mơi
Trang:
14
Môn học: Môi trờng xây dựng - Biên soạn Ths- Gvc Lê công Chính Bộ môn: Công nhệ- TCTC
Liên Hiệp Quốc lại đa ra chiến lợc phát triển l0 năm lần thứ hai, bên cạnh những
mục tiêu đã nêu ra trớc đây cho thập kỷ sáu mơi, một số mục tiêu mới đợc bổ sung.
Đó là mục tiêu về bình đẳng xã hội, về công bằng trong phân phối thành quả chung
của phát triển trong xã hội mà các tác giả của Chiến lợc cho rằng là nguyên nhân
quan trọng dẫn đến sự không thành công của Chiến lợc của thập kỷ sáu mơi.
Những mục tiêu đề ra lần thứ hai này cũng không đạt đợc. Lý do chính là sự bất
hợp lý trong trật tự kinh tế thế giới, sự mất cân đối của nền kinh tế thế giới và sự bất
bình đẳng trong quan hệ mậu dịch giữa nớc phát triển và nớc chậm phát triển. Bên
cạnh những mục tiêu về hình thành trật tự kinh tế thế giới mới, năm l981 Liên Hiệp
Quốc lại tiếp tục đa ra Chiến lợc phát triển kinh tế 10 năm lần thứ ba.
Việc đúc rút kinh nghiệm cụ thể của các quốc gia về phát triển kinh tế trong thời
gian qua cho thấy có thể phân biệt ba mô hình chiến lợc phát triển.
Mô hình phát triển cổ điển kiểu mới(Neoclassical Grawth Model) lấy cơ chế thị
trờng, kế hoạch hóa theo sở hữu t nhân, tích lũy vốn bằng tiết kiệm từ trong nớc và
thu hút vốn từ nớc ngoài. Mô hình này hiện nay tỏ ra không hiệu lực, do những nh-
ợc điểm thờng gặp về cấu trúc và thể chế kinh tế - xã hội tại các nớc đang phát triển
nh thiếu một thị trờng năng động, thiếu hạ tầng cơ sở, thiếu kiến thức quản lý và
kiến thức kỹ thuật, ảnh hởng tiêu cực của các thế hệ chính trị bảo thủ ở trong và
Một nguyên nhân khác của sự thất bại trong các mô hình đó là chủ trơng phát
triển thờng là ''từ trên xuống'', do các cơ quan chỉ đạo cấp cao đặt ra và thờng không
hoặc ít mang lại kết quả thiết thực cho đa số ngời lao động có thu nhập thấp và phải
chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội. Do đó gần đây các tổ chức đã nhấn mạnh đến con
đờng phát triển từ dới lên'', nhằm tiến hành nhữag thay đổi và cải cách ngay từ cơ
sở, đáp ứng nhu cầu cơ bản về đời sống của những tầng lớp xã hội nghèo hèn nhất
ngay tại từng địa phơng nhỏ, sử dụng mọi tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên con
ngời, những thể chế, phong tục, tập quán truyền thống sản xuất sẵn có tại chỗ. Đó
là một t tởng có tính chiến lợc gần đây về phát triển kinh tế xã hội tại các nớc chậm
phát triển [Bartelmus,Peter,1987]
Trên cơ sở những đờng lối và quan điểm chung chỉ đạo toàn bộ sự nghiệp phát
triển kinh tế-xã hội, các nớc vạch ra chiến lttợc phát triển của mình. Chiến lợc nêu
lên những mục tiêu cần thiết nhng đồng thời là hợp lý và khả thi cho từng giai đoạn
phát triển lớn. Từ chiến lợc, các kế hoạch dài hạn, kế hoạch trung hạn và kế hoạch
ngắn hạn đợc xác định đối với cả nớc, từng vùng lãnh thổ trong nớc và từng ngành
kinh tế, văn hóa, kỹ thuật. Các kế hoạch này lại đợc cụ thể hóa một bớc thành các
chơng trình hành động, các đề án công trình, hoặc các luật lệ, quy định đảm bảo
cho việc thực hiện đúng đắn và nghiêm túc những chỉ tiêu kế hoạch. Đó là những
''hoạt động phát triển'' hoặc còn đợc gọi là'''hành động phát triển'', mà tác động đến
tài nguyên và môi trờng là chủ đề nghiên cứu của chúng ta.
Về phát triển kinh tế - xã hội, Việt Nam có hai đặc điểm cơ bản: là một nớc đang
phát triển với thu nhập vào loại rất thấp, là một nớc có thể chế xã hội chủ nghĩa. Đ-
Trang:
16
Môn học: Môi trờng xây dựng - Biên soạn Ths- Gvc Lê công Chính Bộ môn: Công nhệ- TCTC
ờng lối xây dựng chủ nghĩa xã hội phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam đã đợc
xác định qua đại hội Đảng CS Việt nam và các hội nghị của Quốc hội nớc cộng hòa
xã hội Chủ nghĩa Việt Nam(CHXHCN Việt Nam). Đờng lối này đang đợc chế tác
hoàn chỉnh qua việc xây dựng Cơng lĩnh của ĐCSVN và chiến lợc phát triển kinh tế
xã hội trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Các kế hoạch hoặc phơng hớng
17
Môn học: Môi trờng xây dựng - Biên soạn Ths- Gvc Lê công Chính Bộ môn: Công nhệ- TCTC
hoạt động tiêu cực về môi trờng, mà đánh giá tác động môi trờng (ĐTM) có nhiệm
vụ phát hiện, đánh giá mức độ nghiêm trọng và đề xuất biện pháp khắc phục hoặc
đình chỉ. Các hoạt động phát triển luôn luôn có hai mặt lợi và hại Bản thân thiên
nhiên cũng có hai mặt. Thiên nhiên là nguồn tài nguyên và phúc lợi đối với con ng-
ời, nhng đồng thời cũng là nguồn thiên tai, thảm họa đối với đời sống và sản xuất
của con ngời.
Khoa học kinh tế cổ điển không giải quyết thành công mối quan hệ phức tạp
giữa phát triển và môi trờng. Từ đó nảy sinh lý thuyết không tởng về đình chỉ phát
triển'', cụ thể là cho vận tốc phát triển bằng không hoặc âm để bảo vệ nguồn tài
nguyên vật lý vốn hữu hạn của Trái Đất. Đối với tài nguyên sinh học cũng có ''chủ
nghĩa bảo vệ'', chủ trơng không can thiệp, động chạm vào thiên nhiên, nhất là tại
các địa bàn cha đợc điều tra nghiên cứu đầy đủ. Chủ nghĩa bảo vệ cũng là một điều
không tởng, nhất là trong điều kiện các nớc dang phát triển, nơi mà tài nguyên
thiên nhiên là nguồn vốn cơ bản cho mọi hoạt động phát triển của con ngời.
Một phần đáng kể của nguồn nguyên liệu và năng lợng đợc tiêu thụ một cách
quá mức tại các nớc phát triển vốn đợc khai thác tại các nớc đang phát triển. Bên
cạnh hiện tợng ''ô nhiễm do thừa thãi'' xảy ra tạo các nớc công nghiệp hóa phát triển
trong những thập kỷ gần đây, tại hầu hết các nớc đang phát triển, thu nhập thấp đã
xuất hiện hiện tợng ''ô nhiễm do nghèo đói'. Thiếu lơng thực, nớc uống, nhà ở,
thuốc thang, vệ sinh, nghèo đói, mù chữ, bất lực trớc thiên tai là nguồn gốc cơ bản
của những vấn đề môi trờng nghiêm trọng đang đặt ra cho nhân dân các nớc đang
phát triển.
Hội nghị về môi trờng sống của con ngời của Liên Hiệp Quốc họp năm 1972 tại
Thụy Điển đã đi đến kết luận rằng nguyên nhân của nhiều vấn đề quan trọng về
môi trờng không phải là do phát triển mà chính là hậu quả của kém phát triển. T t-
ởng đó đã đợc thể hiện trong Chiến lợc phát triển l0 năm lần thứ ba của Liên Hiệp
Quốc: chiến lợc đã đề cập đến mối quan hệ giữa phát triển với môi trờng dân số, tài
nguyên thiên nhiên, bảo vệ đất, bảo vệ rừng, vệ sinh các khu ''ổ chuột'' trong các
- Chức năng thứ nhất: yêu cầu phạm vi không gian thích hợp cho mỗi con ngời, ví
dụ phải có bao nhiêu mét vuông, hecta hay kilômet vuông cho một ngời. Không
gian này lại phải đạt những tiêu chuẩn nhất định về nhân tố vật lý, hóa học, sinh
học, cảnh quan và xã hội.
- Chức năng thứ ha: yêu cầu môi trờng phải có nguồn vật liệu, năng lợng, thông
tin (kể cả thông tin di truyền) cần thiết cho hoạt động sinh sống, sản xuất, quản lý
của con ngời. Đỏi hỏi này không ngừng tăng lên về số lợng, chất lợng và độ phức
tạp theo trình độ phát triển của xã hội.
- Chúc năng thứ ba - chức năng tái tạo: trớc đây trong các xã hội săn bắt, hái lợm,
nông nghiệp, lúc dân số nhân loại còn ít, đợc giải quyết theo các chu trình phân huỷ
Trang:
19
Môn học: Môi trờng xây dựng - Biên soạn Ths- Gvc Lê công Chính Bộ môn: Công nhệ- TCTC
tự nhiên, làm cho phế thải sau một thời gian nhất định lại trở lại thành nguyên liệu
thiên nhiên. Sự gia tăng dân số nhanh chóng và quá trình công nghiệp hóa đã làm
cho chức năng thứ ba trở thành vô cùng quan trọng. Nếu môi trờng không còn làm
nổi chức năng này thì chất lợng cuộc sống của con ngời dù thừa thãi về lơng thực,
hàng hóa, thông tin cũng không còn có chất lợng cao. Quá trình ''độc hóa'' môi tr-
ờng thậm chí còn có thể dẫn xã hội loài ngời đến diệt vong.
Việc xem xét môi trờng theo ba chức năng nói trên cho phép ta hiểu rõ bản chất
của các vấn đề gay cấn về môi trờng ở mức toàn cầu, từng nớc hay từng địa phơng
giúp ta đánh giá và dự báo tình trạng môi trờng nơi này một cách cụ thể và đúng
đắn hơn.
Ơ Việt Nam năm 1986 chơng trình quốc gia nghiên cứu về tài nguyên và môi tr-
ờng, với sự cộng tác của Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN), đã đề xuất
với Nhà nớc CHXHCN Việt Nam một chiến lợc quốc gia về bảo vệ môi trờng. Trên
cơ sở chiến lợc này, trong các năm 1990 - 1991 một kế hoạch quôc gia về môi trờng
và phát triển bền vững đã đợc Hội đồng Bộ trởng nớc CHXHCN Việt Nam chấp
nhận và chính thức ban hành ngày 12- 6 -1991.
Kế hoạch quốc gia đã xác định bảy mục tiêu lớn và thể chế và tổ chức là:
Sinh thái học là khoa học cơ sở cho công tác quản lý tài nguyên và bảo vệ môi tr-
ờng. Thuật ngữ sinh thái học (ecology), bắt nguồn từ chữ Hy Lạp (Oikos) là nhà,
nơi ở, đợc Emst Heckel, nhà bác học ngơi Đức đề xớng năm1866 và dùng nó để xác
định khoa học về mối quan hệ tơng hỗ giữa sinh vật và môi trờng, là tập hợp tất cả
các hiểu biết về kinh tế tự nhiên. Nói cách khác, sinh thái học nghiên cứu mối quan
hệ tổng hợp phức tạp mà Đác Uyn gọi là các điều kiện sinh ra đấu tranh sinh tồn.
Chính học thuyết tiến hóa của Đác Uyn đợc hình thành trên cơ sở nhận thức về mối
quan hệ chặt chẽ giữa sinh vật và môi trờng.
Sinh thái học là khoa học tổng hợp, nghiên cứu về mối quan hệ tơng hỗ giữa sinh
vật và môi trờng.
Những năm gần đây, sinh thái học đã trở thành khoa học toàn cầu. Mọi ngời đều
công nhận rằng con ngời cũng nh các sinh vật khác không thể sống tách khỏi môi
trờng cụ thể của mình. Tuy nhiên, con ngời khác với sinh vật khác là phần nào có
khả năng thay đổi môi trờng cho phù hợp với lợi ích riêng của mình. Mặc dù thế,
con ngời không nên cho rằng mình luôn luôn có sức mạnh vô song mà không có sai
lầm. Sai lầm của loài ngời đã nhiều lần dẫn đến sự khủng hoảng sinh thái trầm
trọng. Từ thời cổ xa, thung lũng sông Tygô và Ofrat phần vinh đã biến thành hoang
mạc và xói mòn hoặc hóa mặn do hệ thống tới tiêu bố trí không hợp lý. Nguyên
Trang:
21
Môn học: Môi trờng xây dựng - Biên soạn Ths- Gvc Lê công Chính Bộ môn: Công nhệ- TCTC
nhân sụp đổ của nền văn minh Mozopotami vĩ đại cũng do một tai hoạ sinh thái.
Một trong những nguyên nhân là tan vỡ nền văn minh Maja ở Trung Mỹ, sự diệt
vong của triều đại Khơ me trên lãnh thổ Campuchia là do khai thác rừng nhiệt đới
quá mức. Rõ ràng khủng khoảng sinh thái hiển nhiên không phải là phát kiến của
thế kỷ thứ XX, mà là bài học trong quá khứ bị lãng quên. Vậy nếu chúng ta muốn
đạt đợc một sự thỏa mãn nào đó, trong phần lớn các trờng hợp phải chấp nhận
những điều kiện của tự nhiên. Những điều kiện đó phản ánh thông qua những quy
luật sinh thái cơ bản mà các sinh vật phải phục tùng.
Heckel cho rằng sinh thái học là khoa học về kinh tế của tự nhiên. Điều đó rất có
cũng nh tất cả các mối tơng tác giữa sinh vật với nhau và giữa sinh vật với môi tr-
ờng.
2.2.2. Hệ sinh thái.
1.Định nghĩa.
Hệ sinh thái là hệ thống tác dụng tơng hỗ giữa các sinh vật với môi trờng vệ sinh
là một hệ chức năng, đợc mô tả nh một thực tế khách quan, xác định chính xác
trong không gian và thời gian.
Hệ sinh thái là một khái niệm rộng và linh hoạt, vì thế có thể áp dụng cho tất cả
các trờng hợp có mối quan hệ tơng hỗ giữa sinh vật và nuôi trờng có sự: trao đổi vật
chất, năng lợng và thông tin giữa chúng với nhau, thậm chí trong các trờng hợp chỉ
xảy ra trong một thời gian ngắn.
2. Đặc điểm cơ bản.
Tất cả các hệ sinh thái có những đặc điểm cơ bản là xác định về cấu trúc và chức
năng. Quan trọng nhất là tất cả các hệ sinh thái đều có các thành phần vô sinh
(abiotic) và sinh vật (biotic) và giữa chúng có sự trao đổi chất, năng lợng và thông
tin.
Hệ sinh thái bao gồm bốn thành phần chủ yếu sau (bốn tác nhân chủ yếu):
- Thành phần vô sinh: chất vô cơ, nớc, không khí, cacbonic, oxy,
Sinh vật sản xuất: có nhiệm vụ tổng hợp các thành phần hữu cơ từ các chất vô sinh,
bao gồm: sinh vật có khả năng quang hợp (sử dụng năng lợng Măt Trời để tổng hợp
và giải phóng ô xy) một số loài vi khuẩn dùng năng lợng oxy hơn các muối để tổng
hợp các chất hữu cơ (không giải phóng oxy trong quá trình tổng hợp)
- Sinh vật tiêu thụ: là loài không cú khả năng tổng hợp chất hữu cơ cho mình từ các
chất vô sinh, do đó phải dùng sinh vật sản xuất hoặc dùng các động vật khác làm
thức ăn. Nó thuộc loài ăn thực vật (ăn sinh vật sản xuất); động vật ăn cỏ, động vật
ăn thịt, động vật vừa ăn cỏ vừa ăn thịt (ngời, chó, mèo, ).
- Sinh vật hoại sinh: dùng xác thực hoặc động vật làm thức ăn (loại này sống nhờ sự
phân hủy các chất trên), gồm nấm mốc, một vài loài vi khuẩn hoại sinh (a khí và
không a khí, loài không a khí sẽ tạo ra nhiều chất độc)
Trang:
có o xy, ni tơ, cacbonic trong khí quyển. Nitrat, phospho, canxi có trong nớc và
nhiều chất khác có trong dự trữ hữu cơ tích lại trong sinh khối và mức trao đổi giữa
Trang:
24
Môn học: Môi trờng xây dựng - Biên soạn Ths- Gvc Lê công Chính Bộ môn: Công nhệ- TCTC
nguồn thức ăn với tác nhân sinh học giảm xuống thấp. Trái lại ở hệ sinh thái trẻ thì
các chất dinh dỡng quay vòng rất nhanh. Nh vậy hệ sinh thái trởng thành có nhiều
nét khác với hệ sinh thái trẻ, khả năng tích lũy chất dinh dỡng lớn, chu trình dinh d-
ỡng quay vòng chậm.
5. Sự cân bằng sinh thái (sự cân bằng cơ thể - môi trờng).
Hệ sinh thái là một chỉnh thể cân bằng mà khả năng điều hòa phụ thuộc vào thể
chế cấu trúc và chức năng của hệ. Thể chế ấy biểu hiện chức năng của hệ trong mỗi
giai đoạn phát triển. Trái với một hệ sinh thái trởng thành, hệ sinh thái trẻ nói chung
đều ít ổn định. Cấu trúc một hệ sinh thái trẻ bao giờ cũng giản đơn, số lợng các thể
loại ít, số lợng các cá thể trong mỗi loài cũng thờng không nhiều. Do vậy quan hệ
và tơng tác giữa các yếu tố trong thành phần không phức tạp, mạng lới các dây
chuyền thức ăn cũng giản đơn. Khi hệ sinh thái phát triển và trởng thành lên thì số
lợng cá thể và thể loại sẽ tăng, quan hệ và tơng tác phức tạp hóa về tính chất. Ưu thế
nhiều mặt của một hệ sinh thái trởng thành so với một hệ sinh thái trẻ chính là ở
chỗ này. Do số lợng lớn và tính đa dạng của các mối quan hệ, các tơng quan tác
động và ảnh hởng lẫn nhau nên dù xảy ra một sự tắc nghẽn ở con đờng nào, một
hiện tợng mất cân bằng ở khu vực nào đó cũng không dẫn đến sự rối loạn chung của
toàn bộ hệ sinh thái và đe dọa đến sự tồn tại của nó .
Rừng nguyên sinh là đại điện cho một hệ sinh thái tởng thành (giàu). Nhiều rừng
mới khôi phục, những cánh rừng trồng ít nhiều thuần loại thờng trẻ hơn nhiều
(nghèo). Ví dụ, một hệ sinh thái tự nhiên nh cánh rừng nguyên sinh có nhiều mức
tiêu thụ trong dây chuyền thức ăn (động vật ăn cỏ động vật ăn thịt) thì chính bản
thân cấu trúc của hệ, qua thời gian, đã điều hòa kích thớc các quần thể sinh vật và
năm này qua năm khác đã tạo ra một mô hình về phân phối năng lợng, giữ cho hệ
ổn định.