LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KHOA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ PHÁT
TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH PR ĐIỆN TỬ
1.1. Tính cấp thiết
Sự phát triển mạnh mẽ của Internet đã làm cho nhu cầu tiêu dùng
ngày càng cao, và khuynh hướng tiêu dùng cũng thường xuyên thay đổi tạo
thành động lực thúc đẩy sản xuất phát triển. Sự đa dạng của nhu cầu tiêu
dùng, sự phong phú trong sản xuất đã xuất hiện hàng ngàn sản phẩm và dịch
vụ mới ra đời tạo sự cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt hơn. Tồn tại và
phát triển trong thị trường mà người tiêu dùng là nhân tố quyết định, đòi hỏi
một sản phẩm hoặc dịch vụ khi đưa ra thị trường không chỉ đáp ứng nhu cầu
khách hàng mà sản phẩm còn phải được người tiêu dùng ưa thích. Phát triển
một sản phẩm mới hay đưa ra thị trường một dịch vụ nào đó, doanh nghiệp
phải trải qua một quá trình nghiên cứu, phát triển và tổ chức hoạt động
quảng bá nhằm xây dựng thương hiệu cho sản phẩm. Tất cả các hoạt động
thúc đẩy, kích thích tiêu dùng của khách hàng đều được thực hiện thông qua
hoạt động marketing của các doanh nghiệp. Đặc biệt là với sự bùng nổ của
công nghệ thông tin thì e – marketing đã trở thành một phần không thể thiếu
được trong mỗi doanh nghiệp.
Trong tình hình cạnh tranh hiện nay, có khá nhiều doanh nghiệp thực
sự quan tâm và đầu tư hoạt động marketing để xây dựng hình ảnh của doanh
nghiệp & thương hiệu cho sản phẩm, dịch vụ. Một trong những công cụ
marketing được sử dụng là hoạt động PR. Tuy nhiên, không phải doanh
nghiệp nào cũng có những chương trình PR hiệu quả. Đặc biệt là trong việc
phát triển những chương trình PR qua mạng Internet.
SVTH: Nguyễn Thị Nhi –K41I4 - GVHD: GS.TS Nguyễn Bách Khoa
1
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KHOA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
Những năm trở lại đây, việc xuất hiện và phát triển mạnh mẽ của các
loại hình Web 2.0 như xây dựng nội dung cho website, blog, mạng cộng
đồng, tổ chức sự kiện trực tuyến, video trực tuyến… đã tạo ra những nền
5 Quy trình thanh toán điện tử. 3/5
6
Chưa có bộ phận chuyên trách xây dựng, phát triển
và bảo vệ thương hiệu của công ty.
2/5
Bảng 1.1: Những vấn đề cấp thiết đặt ra trên bình diện chung về kinh doanh
của công ty cổ phần giải pháp phần mềm Hoà Bình
1.2. Xác lập và tuyên bố vấn đề.
PR trực tuyến được coi là công cụ hỗ trợ đắc lực, thông minh cho các
doanh nghiệp trong việc làm thương hiệu và gây ấn tượng tích cực với
người sử dụng Internet, tăng độ tín nhiệm của doanh nghiệp. Tất cả
điều này dẫn tới kết quả cuối cùng đó là hình ảnh doanh nghiệp được
biết đến một cách tốt đẹp hơn.
PR điện tử dựa trên nền tảng Internet bao gồm:
□ Xây dựng nội dung trên Website của doanh nghiệp
□ Xây dựng cộng đồng điện tử
□ Các sự kiện trực tuyến
SVTH: Nguyễn Thị Nhi –K41I4 - GVHD: GS.TS Nguyễn Bách Khoa
3
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KHOA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
Hiện nay tại công ty cổ phần giải pháp phần mềm Hòa Bình đã triển khai
chương trình PR điện tử trên cả 3 nội dung trên & sử dụng những công cụ
PR hiện đại như: blog, video trực tuyến, email, forum, SEO… Nhưng hiệu
quả của các chương trình này chưa cao để tạo lập hình ảnh doanh nghiệp &
định vị thương hiệu cho mô hình sàn giao dịch điện tử tại website
thuộc công ty cổ phần giải pháp phần mềm Hoà Bình
Vì vậy trong phạm vi bài viết này, em xin trình bày một số giải pháp
phát triển chương PR điện tử tại công ty cổ phần giải pháp phần mềm Hoà
Bình dựa trên sử dụng công cụ PR điện tử.
1.3. Mục đích nghiên cứu.
SVTH: Nguyễn Thị Nhi –K41I4 - GVHD: GS.TS Nguyễn Bách Khoa
5
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KHOA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
CHƯƠNG 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN
VỀ PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH PR ĐIỆN TỬ
CỦA CÔNG TY CỔ PHẨN GIẢI PHÁP PHẦN MỀM
HÒA BÌNH
2.1. Phân định một số khái niệm cơ bản
2.1.1. E – marketing
Để hiểu được quan điểm về e - marketing, chúng ta đi xem xét khái
niệm marketing truyền thống.Theo GS. Philip Kotler – ông tổ của ngành
marketing thì: Marketing là làm việc với thị trường để thực hiện những vụ
trao đổi với mục đích thoả mãn những nhu cầu và mong muốn của con
người. Hay marketing chính là một dạng hoạt động của con người nhằm
thoả mãn các nhu cầu và mong muốn thông qua trao đổi. Vậy với định nghĩa
của e - marketing truyền thống, ta sẽ đi nghiên cứu các quan điểm về e -
marketing:
Theo GS. Philip Kotler: “E - marketing là quá trình lập kế hoạch về sản
phẩm, giá, phân phối và xúc tiến đối với sản phẩm, dịch vụ và ý tưởng để
đáp ứng nhu cầu của tổ chức và cá nhân - dựa trên các phương tiện điện tử
và Internet”.
Theo tác giả Strauss trong cuốn E-Marketing thì:
E - marketing là sự ứng dụng hàng loạt những công nghệ thông tin cho:
Việc chuyển đổi những chiến lược Marketing để tạo ra nhiều giá trị
khách hàng hơn thông qua những chiến lược phân đoạn, mục tiêu,
khác biệt hóa và định vị hiệu quả hơn.
Việc tạo ra những sự trao đổi làm thỏa mãn những mục tiêu của khách
hàng là người tiêu dùng cuối cùng và những khách hàng là tổ chức.
SVTH: Nguyễn Thị Nhi –K41I4 - GVHD: GS.TS Nguyễn Bách Khoa
6
Gần đây, phần lớn ảnh hưởng này được thực hiện thông qua sự tiếp xúc giữa
con người với con người - giữa nhân viên phụ trách quan hệ công chúng với
đại diện của hãng truyền thông, cụ thể là các nhà báo (báo viết, báo nói và
báo hình). Đặc biệt, trong thời đại ngày nay, mạng Internet với các tính năng
ưu việt đã ảnh hưởng không nhỏ đến vai trò và phương thức thực hiện PR.
Chưa có nhiều định nghĩa về PR điện tử, tuy nhiên, dựa trên một số nghiên
cứu ta có thể nói, PR trong xu thế mới, hay PR điện tử là hình thức quản lý
quan hệ cộng đồng có nhiều yếu tố liên quan đến: management consulting -
Tư vấn quản lý, business intelligence - tri thức kinh doanh, publishing - xuất
bản thông tin, direct marketing - tiếp thị trực tiếp và Internet strategy - chiến
lược internet.
Ta thấy rõ, PR điện tử chính là tối ưu hoá internet,công nghệ như là một
kênh trao đổi thông tin hai chiều giữa doanh nghiệp và các đối tượng chính
của nó. Đây không phải đơn giản là xây dựng một website bắt mắt, hay gửi
thông tin bằng email cho tất cả Chính vì vậy, người hoạt động PR điện tử
cần chuyên nghiệp hơn từ những nghiệp vụ PR truyền thống để kết hợp với
các kỹ năng cần có mới như: Online constituent intelligence - tri thức về
điện tử/internet, communication architecture - cấu trúc đa giao tiếp,
dialogue facilitation and community building - thúc đẩy giao tiếp và xây
dựng cộng động, và hơn hết: Master of communication tool - hiểu rõ tất cả
các phương tiện giao tiếp, nhất là các phương tiện công cụ mới.
2.2. Cơ sở lý luận phát triển chương trình PR điện tử
2.2.1. Lập kế hoạch chương trình PR điện tử
• Sự cần thiết: : Cần có mục tiêu để đánh giá; Có thể tính toán thời gian
và chi phí; Cho phép chọn ưu tiên và lịch trình thực hiện các hoạt
SVTH: Nguyễn Thị Nhi –K41I4 - GVHD: GS.TS Nguyễn Bách Khoa
8
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KHOA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
động; Cho phép quyết định tính khả thi của việc tiến hành các mục
tiêu đã đề ra.
công
chúng
Chọn
phương
tiện
truyền
thông
Hoạch
định
ngân
sách
Đánh
giá
kết
quả
9
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KHOA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
- Để công chúng biết về hoạt động xã hội của lãnh đạo công ty;
- Để ủng hộ một chương trình trao học bổng, tài trợ,…;
- Để công chúng biết đến hoạt động nghiên cứu của tổ chức;
- Để các chính trị gia, quan chức chính phủ biết về hoạt động của tổ
chức vì có thể bị ảnh hưởng của các luật, qui định mới,…
Xác định nhóm công chúng
10 nhóm công chúng cơ bản:
• Cộng đồng;
• Nhân viên hiện tại;
• Nhân viên tiềm năng;
• Nhà đầu tư góp vốn;
• Nhà cung cấp;
• Nhà phân phối;
Email
Diễn đàn ( Forum)
4. Lên kế hoạch & thực hiện những sự kiện điện tử đặc biệt
PR luôn phải kế hoạch và tổ chức, điều hành những hoạt động thường gọi là
tổ chức sự kiện (event).Các sự kiện rất phong phú, từ các buổi hội nghị, triển
lãm, những lễ kỷ niệm, cuộc thi, giải thưởng, cho đến những sản phẩm mới,
những buổi họp báo, giao lưu… tất cả đều được tổ chức, thực hiện thông
qua môi trường Internet.
Những hoạt động này được tiến hành nhằm mục đích khác nhau như thu hút
sự chú ý của các nhóm công chúng đặc biệt nào đó, quảng bá về một số hoạt
động, sản phẩm mới và đặc biệt của của doanh nghiệp, tổ chức, khách
hàng…Đây là một trong những mảng hoạt động chính của PR.
5. Nghiên cứu & đánh giá
SVTH: Nguyễn Thị Nhi –K41I4 - GVHD: GS.TS Nguyễn Bách Khoa
11
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KHOA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
Đây là hoạt động không thể thiếu, cần trở thành nguyên tắc và thói quen.
Một chương trình của PR điện tử chuyên nghiệp phải được liên tục đánh giá
để rút kinh nghiệm, làm tiền đề cho việc xây dựng những kế hoạch sau này.
2.3. Tổng quan tình hình khách thể nghiên cứu:
Vấn đề PR điện tử được nhiều ngành nghề, doanh nghiệp quan tâm do vai
trò của nó trong việc xây dựng hình ảnh doanh nghiệp & thương hiệu cho
sản phẩm, dịch vụ, đồng thời PR điện tử cũng là một phần trong chính sách
xúc tiến điện tử của các tổ chức, doanh nghiệp hiện nay.
Về cơ sở lý luận, những công trình nghiên cứu, bài báo, sách viết đưa ra một
cách nhìn tổng quan về hoạt động PR điện tử trong các doanh nghiệp trên
thế giới & Việt Nam hiện nay như:
Khái niệm, vai trò, ưu nhược điểm của PR điện tử so với PR truyền thống,
những công cụ & quy tắc mới của PR điện tử, phác thảo kế hoạch thực hiện
chương trình PR điện tử
PR trực tuyến được thực hiện như thế nào?
Làm PR thông qua Blog
PR với web 2.0
Xu hướng PR
Thành công hơn với những quy tắc mới trong PR
PR & Media trong khủng hoảng
10 ý tưởng PR sáng tạo
Hoạt động PR ở Việt Nam còn chưa chuyên nghiệp
2.4. Phân định nội dung của vấn đề nghiên cứu
• Vai trò của PR trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
SVTH: Nguyễn Thị Nhi –K41I4 - GVHD: GS.TS Nguyễn Bách Khoa
13
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KHOA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
1. PR thắt chặt các mối quan hệ và hỗ trợ nguồn nhân lực trong tổ chức: PR
có khả năng thu hút và giữ chân được những người có tài làm việc cho
mình qua việc quan hệ tốt nội bộ.
2. PR hỗ trợ hoạt động tiếp thị của doanh nghiệp đạt kết quả cao:
PR được xem chính là chữ P thứ 5 của Marketing 4Ps thuộc marketing mix,
biểu thị cho sự cảm nhận (Perception) của khách hàng về công ty, về sản
phẩm…Doanh nghiệp kết hợp hoạt động tiếp thị với PR để tạo ra ảnh hưởng
mạnh nhất. Thông thường các doanh nghiệp khi tung một sản phẩm mới ra
thị trường thường để PR đi trước tạo ra một nhân thức mới đối với cộng
đồng, đánh thức một nhu cầu nào đó của cộng đồng bằng bài viết báo chí
(editorial), sau đó là những thước phim truyền hình (TVC) hay hàng loạt các
quảng cáo báo (printads), tăng cường sự nhận biết về sản phẩm thương hiệu
cho khách hàng mục tiêu. PR đã làm được điều mà hầu hết các nhà
marketing của các doanh nghiệp đều cho đó là mục tiêu của họ: thông tin cụ
thể về thông điệp của doanh nghiệp và sản phẩm đến với khách hàng. Qua
PR những thông điệp được truyền đạt đến với khách hàng mục tiêu một cách
xa bạn hàng vạn dặm. Đôi lúc, chỉ với một lời bình luận (comment) được
đăng tải trên blog cũng ít nhiều giúp bạn có thêm ý tưởng cho sản phẩm và
dịch vụ của mình. Quan trọng hơn, một khi sản phẩm của bạn đã được tiếp
thị đến đúng đối tượng thì tốc độ lan tỏa trên mạng của nó sẽ trở nên nhanh
chóng vô cùng.
Video điện tử: Website video điện tử đã được xem là một trong những lĩnh
vực phát triển nhanh nhất trên thế giới truyền thông. Những website như
YouTube hằng ngày vẫn thu hút hàng ngàn lượt khách truy cập. Đối với
SVTH: Nguyễn Thị Nhi –K41I4 - GVHD: GS.TS Nguyễn Bách Khoa
15
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KHOA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
những doanh nghiệp cỡ vừa và nhỏ, video online quả là một lời gợi ý đặc
biệt hấp dẫn, bởi lẽ việc sản xuất và phát tán nội dung quảng cáo bằng hình
thức này ít tốn kém hơn nhiều so với những phương tiện quảng bá truyền
thống. Video online có thể đem đến cho họ một cơ hội để “san bằng địa thế”
với các công ty lớn hơn nếu đoạn phim hấp dẫn và được phát tán đúng cách.
Để tối đa hóa chiến dịch quảng cáo, một khi các video đã được kích hoạt
trên các website như YouTube, bạn nên gửi cho khách hàng của mình một
email kèm theo đường link kết nối đến đoạn video đó.
Siêu phương tiện truyền thông: Thực chất, đây là một ấn bản thông tin
dạng văn bản (text) được kết hợp với các yếu tố đa truyền thông khác như
hình ảnh, video clip, đường link đến các blog, các tag số hóa, đường dẫn
RSS và các công cụ tìm kiếm. Hình thức quảng bá thông qua các dụng cụ
truyền thông tân tiến này tỏ ra có ích trong việc giúp các công ty trực tiếp
với tới cánh cửa thị trường. Mặt khác, mức độ điện tử từ phương pháp này
đặc biệt có lợi đối với các blogger, bởi lẽ hình thức (format) của các ấn bản
tin tức đa truyền thông luôn khuyến khích người đọc tự do để lại ý kiến phản
hồi cho tác giả trang web hay blog, và đấy rõ ràng là một cơ hội tuyệt vời
cho phép họ thu thập những thông tin xác đáng nhất.
Trong những năm gần đây, các chuyên gia tiếp thị điện tử nhận ra tầm
doanh nghiệp. Việc phản hồi ngay các câu bình luận không đúng trên các
diễn đàn sẽ giúp công ty dập tắt tin đồn trước khi nó lan rộng ra cộng đồng.
Có hàng ngàn các diễn đàn như vậy, nên việc lựa chọn và giám sát một số
diễn đàn thuộc ngành của bạn thông qua các công cụ tìm kiếm có thể coi là
lựa chọn tốt nhất.
SVTH: Nguyễn Thị Nhi –K41I4 - GVHD: GS.TS Nguyễn Bách Khoa
17
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KHOA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
Mạng cộng đồng: Trong một “xã hội ảo” thực sự, mọi người sống theo một
quy luật xã hội mở, với các nhu cầu cũng đặc biệt hơn so với bình thường,
và tất nhiên, cách tiếp cận thông tin cũng rất khác. Theo chủ quan cá nhân
tôi, tại Việt Nam chưa có một chiến dịch PR nào thực sự được cấu thành dựa
trên nền tảng của các dịch vụ ảo này, nhưng có cung tất có cầu, việc các dịch
vụ truyền thông phát triển trên các nền tảng này là điều tất yếu.
Với hệ thống thành viên kết nối rộng khắp, mạng cộng đồng là một phương
tiện mới có tính đột phá trong việc lèo lái và đưa thông tin của doanh nghiệp
trực tiếp đến khách hàng. Mọi thành phần cấu thành nên các mạng xã hội
đều có thể là công cụ thông tin cự kỳ hiệu quả, đáp ứng mọi nhu cầu quảng
bá và truyền thông của doanh nghiệp.
SVTH: Nguyễn Thị Nhi –K41I4 - GVHD: GS.TS Nguyễn Bách Khoa
18
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KHOA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU & CÁC
KẾT QUẢ PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN
CHƯƠNG TRÌNH PR ĐIỆN TỬ TẠI CÔNG TY CỔ
PHẨN GIẢI PHÁP PHẦN MỀM HÒA BÌNH
3.1. Hệ thống các phương pháp nghiên cứu thực trạng phát
triển chương trình PR điện tử tại công ty cổ phần giải pháp
phần mềm Hòa Bình
3.1.1. Phương pháp thu thập dữ liệu về thực trạng phát triển chương
hơn, dữ liệu thu được mang tính khách quan hơn, độ tin cậy cao hơn.
Nhược điểm: tốn nhiều thời gian, công sức để thu thập, xử lý dữ liệu
Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp:
Qua hệ thống các website của công ty: thông tin về doanh nghiệp, các
chương trình PR điện tử đã và đang được triển khai.
Qua các báo cáo, bài báo, đánh giá của các chuyên gia trong lĩnh vực PR về
các yếu tố ảnh hưởng, mức độ phát triển của các công cụ PR điện tử… trong
thời đại công nghệ thông tin bùng nổ hiện nay.
3.1.2. Phương pháp phân tích, xử lý dữ liệu về thực trạng phát triển
chương trình PR điện tử tại công ty cổ phần giải pháp phần mềm Hòa
Bình
Sử dụng phần mềm SPSS: Là một hệ thống phần mềm thống kê toàn diện
được thiết kê để thực hiện tất cả các bước trong phân tích thông kê mô tả, xử
lý dữ liệu được thu thập trực tiếp từ các phiếu điều tra. Cách thức tiến hành:
SVTH: Nguyễn Thị Nhi –K41I4 - GVHD: GS.TS Nguyễn Bách Khoa
20
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KHOA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
phần mềm SPSS dùng để thống kê tần suất xuất hiện của các biến của PR
trong phiếu điều tra.
Phân tích thống kê kết hợp miêu tả các kết quả điều tra, phỏng vấn chuyên
gia về mức độ ứng dụng, mức độ hiệu quả sử dụng các công cụ PR điện tử
tại công ty cổ phần giải pháp phần mềm Hòa Bình.
Phân tích các yếu tố về kinh tế - xã hội làm cơ sở cho các dự đoán về mức
độ ảnh hưởng của các yếu tố môi trường đến việc phát triển các chương trình
PR điện tử tại công ty cổ phần giải pháp phần mềm Hòa Bình.
3.2. Đánh giá tổng quan tình hình & ảnh hưởng của các nhân
tố môi trường đến việc phát triển chương trình PR điện tử tại
công ty cổ phần giải pháp phàn mềm Hòa Bình.
3.2.1. Đánh giá tổng quan tình hình phát triển chương trình PR điện tử
của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay.
cần thiết. Nhịp sống hiện đại không cho phép dành nhiều thời gian tìm hiểu
kỹ càng trước lúc sử dụng dịch vụ, sản phẩm. Cường độ hiện diện là yếu tố
ảnh hưởng đáng kể tới cảm xúc và quyết định tiêu dùng. Thế nên, không có
gì khó hiểu khi việc xuất hiện thường xuyên, đều đặn trên các công cụ tìm
kiếm, các website trung gian (hỗ trợ quảng cáo, PR) không thể thiếu đối với
doanh nghiệp trong nền kinh tế số.
Tốc độ tăng trưởng truyền thông trên Internet đang vượt rất nhanh so với các
phương tiện truyền thống Giới phân tích kinh doanh khẳng định xu hướng
này vẫn tiếp tục tăng nhanh do khả năng lưu trữ và liên kết tốt. Tivi, báo chí
hay tổ chức các sự kiện công chúng là hình thức doanh nghiệp truyền tải
thông tin một chiều, thời gian ngắn, lan tỏa hẹp. Còn Internet khiến quá trình
truyền thông điệp tới cộng đồng người rộng khắp, liên tục, rộng khắp và đan
xen.
SVTH: Nguyễn Thị Nhi –K41I4 - GVHD: GS.TS Nguyễn Bách Khoa
22
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KHOA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
Ngoài ra còn nhiều website của các tổ chức, doanh nghiệp cá nhân mở ra để
quảng bá thương hiệu cho doanh nghiệp tại Việt Nam, các hình thức phổ
biến là cung cấp vị trí đặt quảng cáo, bài viết PR, các dịch vụ gia tăng như
SEO, tăng thứ hạng trên bảng xếp hạng gửi thư tiếp thị (Spam)… và sự bùng
nổ này kéo theo nhiều phiền toái, tác động tiêu cực từ người sử dụng
Internet.
Tình hình sụt giảm kinh tế tại nhiều nước trên thế giới đã khiến không ít
doanh nghiệp lao đao. Không chỉ tập trung ở khu vực tài chính và địa ốc,
khủng hoảng đang mang tính toàn diện và toàn cầu. Đặc biệt là các doanh
nghiệp vừa và nhỏ - đang phải đối mặt với việc vừa đảm bảo sinh tồn, vừa
cố gắng không để người lao động thất nghiệp. Khủng hoảng kinh tế toàn cầu
đang từng ngày, từng giờ tác động lên mọi ngành nghề, lĩnh vực văn hóa –
xã hội.
Nguồn nhân lực cho các hoạt động PR điện tử hiện nay trong cả nước đều
sự kết nối thông tin hiệu quả nhất - lời nói. Tính đến cuối năm 2005, hơn 2 tỉ
người, gần 1/3 dân số thế giới – đã có điện thoại di động. Gần 800 triệu điện
thoại di động được bán ra mỗi năm trên khắp thế giới. Đến năm 2008, ước
tính có khoảng 600 triệu người có thể ngay lập tức có được thông tin của các
sự kiện nhờ có các camera kỹ thuật số tinh vi, trong đó phần nhiều là nhờ
tính năng của những chiếc điện thoại di động của họ. Những công cụ này tạo
ra một “thế hệ thông tin toàn cầu” có khả năng chưa từng có để tạo lập, sản
xuất, chia sẻ và tham gia vào những gì đang diễn ra của cuộc sống. Mạng
lưới toàn cầu cho phép con người đưa tin tức, suy nghĩ, ý tưởng và hình ảnh
đi bất cứ đâu, vào bất kỳ thời điểm nào.
SVTH: Nguyễn Thị Nhi –K41I4 - GVHD: GS.TS Nguyễn Bách Khoa
24
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KHOA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
Sự phát triển của truyền thông đa phương tiện đã làm cho các hoạt động PR
điện tử đa dạng hóa hình thức truyền tải thông tin của doanh nghiệp. Bên
cạnh đó, nó còn làm tăng hiệu quả truyền đạt thông điệp của doanh nghiệp
thông qua các hiệu ứng về âm thanh, hình ảnh…đồng thời cũng buộc những
người làm PR điện tử phải đầu tư thời gian, sáng tạo nhiều hơn nữa để có
được những chương trình PR điện tử hay & hiệu quả.
Xuất hiện ngày càng nhiều trung tâm thông tin, báo “lá cải”:
Trong thế giới mạng Internet, ngày càng có nhiều trang web, blog, báo
online, cổng thông tin… cung cấp nhiều loại thông tin, nhiều câu chuyện “lá
cải” … làm cho nguồn thông tin mà công chúng bị quá tải, khó kiểm soát
được đâu là nguồn tin đáng tin cậy làm giảm hiệu quả truyền tải các thông
điệp của các chương trình PR điện tử. Vấn đề đặt ra là PR điện tử phải làm
thế nào để định hướng được nguồn thông tin hoặc hạn chế những tai tiếng
không tốt cho doanh nghiệp.
Tình trạng khủng hoảng kinh tể đang từng ngày lan rộng và có những ảnh
hưởng tiêu cực tới mọi mặt xã hội, mọi ngành kinh tế của nhiều nước trên
thế giới. Đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, họ phải tính toán, cân đối