Khóa luận tốt nghiệp Đại học văn bằng hai năm 2009GVHD: ThS. Hồ Nguyên Khoa
MỤC LỤC
MỤC LỤC .................................................................................................................. 1
LỜI NÓI ĐẦU ............................................................................................................ 6
1. CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT THỰC TRẠNG VÀ BÀI HỌC KINH DOANH
QUA MẠNG Ở VIỆT NAM ................................................................................................ 9
1.1 Khái niệm thương mại điện tử ............................................................................... 9
Khái niệm thương mại điện tử..................................................................................................9
Định nghĩa theo nghĩa hẹp...................................................................................................9
Định nghĩa theo nghĩa rộng...............................................................................................10
Các đặc trưng của thương mại điện tử...................................................................................11
Cơ sở để phát triển các loại giao dịch TMĐT........................................................................12
Các loại hình giao dịch thương mại điện tử...........................................................................13
Business-to-business (B2B)...............................................................................................13
Business-to-consumer (B2C):............................................................................................13
Các hình thức hoạt động của thương mại điện tử...................................................................14
Các hoạt động chủ yếu của TMĐT bao gồm.....................................................................14
Cửa hàng trực tuyến...........................................................................................................15
Quy định của Việt Nam về TMĐT....................................................................................15
Phương diện xuyên biên giới.............................................................................................16
Khái niệm electronic commerce hay e-commerce.................................................................16
1.2 Cơ sở cho sự phát triển của thương mại điện tử ................................................ 17
Số lượng người sử dụng Internet............................................................................................17
Việc sử dụng Internet.............................................................................................................18
Sự phát triển của TMĐT........................................................................................................19
Internet là phương tiện truyền thông cao cấp.........................................................................19
Người sử dụng Internet - khách hàng tiềm năng....................................................................21
1.3 Thực trạng thương mại điện tử tại Việt Nam ..................................................... 22
Biểu đồ tăng trưởng Internet Việt Nam..................................................................................22
Thực trạng thương mại điện tử tại Việt Nam.........................................................................22
Tác động của TMĐT đến con người hiện đại....................................................................23
2.2.1.9 Nhà cung cấp ........................................................................................................ 37
2.2.1.10 Đối thủ cạnh tranh .............................................................................................. 37
2.2.1.11 Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn ................................................................................. 39
2.3 Thực trạng sản xuất kinh doanh của công ty .................................................. 39
Nguồn nhân lực......................................................................................................................40
Trang thiết bị kỹ thuật máy móc.............................................................................................40
Tình hình sử dụng mặt bằng, nhà xưởng................................................................................42
Nguồn tài chính của công ty...................................................................................................42
2.3.1.1 Bảng cân đối kế toán ............................................................................................ 42
2.3.1.2 Báo cáo kết quả kinh doanh .................................................................................. 45
Năng lực cốt lõi......................................................................................................................47
Giá trị gia tăng........................................................................................................................47
Lợi thế cạnh tranh...................................................................................................................47
2.4 Kết luận chương II và đề xuất kiến nghị ............................................................ 48
Điểm mạnh............................................................................................................................48
Điểm yếu...............................................................................................................................49
Đề xuất - Kiến nghị...............................................................................................................49
SVTH: Hồ Hà Đông - Lớp B13QTH Trang 2
Khóa luận tốt nghiệp Đại học văn bằng hai năm 2009GVHD: ThS. Hồ Nguyên Khoa
2.4.1.1 Lợi ích của công ty ................................................................................................ 50
2.4.1.2 Những lợi ích đối với khách hàng ......................................................................... 51
2.4.1.3 Những lợi ích đối với xã hội .................................................................................. 51
3. CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH DOANH TMĐT TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN ĐẠI NGUYỄN - ĐÀ NẴNG ........................................................................... 52
3.1 Cơ sở tiền đề xây dựng giải pháp TMĐT ............................................................ 52
Phương hướng, mục tiêu của Công ty Cổ phần Đại Nguyễn.................................................52
3.1.1.1 Phương hướng ........................................................................................................ 52
3.1.1.2 Mục tiêu .................................................................................................................. 52
Dự đoán nhu cầu thị trường của Công ty...............................................................................53
Phân tích xu thế khách hàng...................................................................................................54
Khóa luận tốt nghiệp Đại học văn bằng hai năm 2009GVHD: ThS. Hồ Nguyên Khoa
Mục tiêu hiệu quả kinh tế.......................................................................................................76
Mục tiêu đời sống của cán bộ - nhân viên..............................................................................78
3.3 Kết luận chương III .............................................................................................. 78
THAY LỜI KẾT ....................................................................................................... 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................... 82
PHỤ LỤC ................................................................................................................. 83
NHẬN XÉT CỦA ĐƠN VỊ THỰC TẬP ............................................................... 84
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN ................................................. 85
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN ................................................... 86
DANH MỤC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ
Hình 1.1: Các loại giao dịch B2B trong TMĐT....................................................12
Hình 1.2: Số người sử dụng Internet.....................................................................22
Hình 1.3: Tỉ lệ số dân sử dụng Internet (% dân)..................................................22
Hình 2.4: Biểu đồ mô tả lượng lao động trong công ty........................................40
Hình 2.5: Biểu đồ mô tả cơ cấu tài sản qua 3 năm...............................................43
Hình 2.6: Biểu đồ mô tả cơ cấu nguồn vốn qua 3 năm........................................43
Hình 3.7: Mô hình E-Marketing.............................................................................62
Hình 3.8: Quy trình phát triển khách hàng...........................................................68
Hình 3.9: Cấu trúc B2B của Công ty Cổ phần Đại Nguyễn................................68
Hình 3.10: Tiến trình B2B của Công ty Cổ phần Đại Nguyễn............................70
Hình 3.11: Sơ đồ cơ cấu lại tổ chức của Công ty Cổ phần Đại Nguyễn.............72
SVTH: Hồ Hà Đông - Lớp B13QTH Trang 4
Khóa luận tốt nghiệp Đại học văn bằng hai năm 2009GVHD: ThS. Hồ Nguyên Khoa
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Quan điểm của doanh nghiệp về tác dụng của website......................25
Bảng 1.2: Xếp hạng các yếu tố thúc đẩy sự phát triển TMĐT ở Việt Nam........25
Bảng 2.3: Sơ đồ tổ chức của công ty......................................................................31
Bảng 2.4: Số liệu kinh tế của Việt Nam trong các năm.......................................33
Bảng 2.5: Danh sách một số khách hàng của công ty..........................................37
hàng hóa, dịch vụ của người tiêu dùng, doanh thu từ TMĐT trên thế giới đang tăng
mạnh qua mỗi năm. Chỉ tính riêng ở Tây Âu, giá trị kinh tế Internet tăng trưởng ở mức
70% trong 5 năm qua và hiện ước đạt hơn 1.500 tỷ USD. Ích lợi của việc sử dụng
Internet trong kinh doanh là rất dễ nhận thấy do khả năng rút ngắn được khoảng cách về
không gian và thời gian, mở rộng thị trường trong và ngoài nước, khả năng tiếp thị hàng
hóa được tăng cường.
Tại Việt Nam, sau 12 năm kết nối Internet (từ năm 1997), số người sử dụng
internet đã tăng với tốc độ rất nhanh (trên 100% mỗi năm), đến nay (tháng 6/2009) số
người sử dụng Internet tại Việt Nam ước đạt 21,5 triệu người, tỉ lệ dân số sử dụng
Internet/(%dân) đạt 24,98 người/100dân (nguồn trang web www.mic.gov.vn, Bộ Thông
tin - Truyền thông). Số các trang web tiến hành cung cấp TMĐT đang dần dần xuất hiện
mặc dù chưa được nhiều. Do một số đặc điểm khách quan và chủ quan, các website
TMĐT tuy đã thu hút được một số lượng khách hàng nhất định song về cơ bản chúng
chưa được coi là mô hình kinh doanh TMĐT thành công ở Việt Nam.
Cùng với sự bùng nổ của thời đại công nghệ thông tin trên thế giới và khu vực, sự
hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới nhất là từ khi Việt Nam gia nhập vào Tổ chức
thương mại thế giới - WTO, và sắp tới là việc hình thành thị trường chung cho toàn bộ
các nền kinh tế khu vực ASEAN, chắc chắn những nhà doanh nghiệp của Việt Nam sẽ
phải dấn bước vào môi trường kinh doanh ảo - kinh doanh trên Internet. Tuy nhiên,
Internet là môi trường có nhiều điểm khác biệt với đời sống thực, do đó khi một doanh
nghiệp tiến hành kinh doanh trên Internet thì cần phải có những hiểu biết về công nghệ
hiện đại, về tâm lý của người tiêu dùng trên mạng,... để đưa ra những quyết định phù
hợp trong quá trình kinh doanh.
Cùng với sự xuất hiện và phát triển của TMĐT, hình thức sơ khai là thiết lập một
website để có thể đưa những thông tin liên quan đến doanh nghiệp, đến những sản
phẩm, dịch vụ, điểm mạnh, lợi thế cạnh tranh cũng như khả năng cung ứng sản phẩm,
dịch vụ của mình đến khách hàng truyền thống, tìm kiếm khách hàng tiềm năng thông
qua mạng Internet cũng bắt đầu xuất hiện tại Việt Nam. Các doanh nghiệp Việt Nam
SVTH: Hồ Hà Đông - Lớp B13QTH Trang 6
Khóa luận tốt nghiệp Đại học văn bằng hai năm 2009GVHD: ThS. Hồ Nguyên Khoa
phần Đầu tư Xây dựng Thương mại và Quảng cáo Đại Nguyễn - Đà Nẵng và tiềm năng
để có thể thực hiện việc mở rộng kinh doanh thông qua mạng Internet - Áp dụng
TMĐT. Chương thứ hai cũng là nội dung chính của khóa luận này. Trong chương cuối
cùng - chương ba, sẽ nghiên cứu những giải pháp để có thể phát triển kinh doanh
Thương mại điện tử tại Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Thương mại và Quảng cáo
Đại Nguyễn nói riêng, và tại hầu hết các doanh nghiệp ở Việt Nam nói chung, đưa ra
những khó khăn, vướng mắc, những hạn chế cần phải khắc phục cũng như những biện
pháp cụ thể để khắc phục những hạn chế này để trong thời gian đến, hình thức kinh
doanh TMĐT của các doanh nghiệp Việt Nam sẽ ngày càng phát triển nhanh và bền
vững trong thời gian tới.
SVTH: Hồ Hà Đông - Lớp B13QTH Trang 7
Khóa luận tốt nghiệp Đại học văn bằng hai năm 2009GVHD: ThS. Hồ Nguyên Khoa
Do còn hạn chế về mặt thời gian và kiến thức, Khóa luận này khó tránh khỏi
những thiếu sót và hạn chế. Vì vậy, em rất mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý từ quý
Thầy (Cô), Ban Giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Thương mại và Quảng
cáo Đại Nguyễn.
Sau cùng, cho phép em được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy giáo ThS. Hồ
Nguyên Khoa, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành luận Khóa luận
tốt nghiệp này.
Xin chân thành cảm ơn và kính chúc quý Thầy (Cô) cùng toàn thể gia đình mạnh
khỏe, hạnh phúc và thành đạt.
Sinh viên thực hiện
Hồ Hà Đông
SVTH: Hồ Hà Đông - Lớp B13QTH Trang 8
Khóa luận tốt nghiệp Đại học văn bằng hai năm 2009GVHD: ThS. Hồ Nguyên Khoa
1. CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT THỰC TRẠNG VÀ BÀI
HỌC KINH DOANH QUA MẠNG Ở VIỆT NAM
1.1 Khái niệm thương mại điện tử
Khái niệm thương mại điện tử
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia:
Theo nghĩa hẹp, TMĐT chỉ đơn thuần bó hẹp TMĐT trong việc mua bán hàng hóa
và dịch vụ thông qua các phương tiện điện tử, nhất là qua Internet và các mạng liên
thông khác.
SVTH: Hồ Hà Đông - Lớp B13QTH Trang 9
Khóa luận tốt nghiệp Đại học văn bằng hai năm 2009GVHD: ThS. Hồ Nguyên Khoa
Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO): "Thương mại điện tử bao gồm việc
sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán
trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình, cả các sản phẩm giao
nhận cũng như những thông tin số hóa thông qua mạng Internet".
Theo Ủy ban Thương mại điện tử của Tổ chức hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình
Dương (APEC): "Thương mại điện tử là công việc kinh doanh được tiến hành thông
qua truyền thông số liệu và công nghệ tin học kỹ thuật số".
Định nghĩa theo nghĩa rộng
Thương mại điện tử hiểu theo nghĩa rộng là các giao dịch tài chính và thương mại
bằng phương tiện điện tử như: Trao đổi dữ liệu điện tử, chuyển tiền điện tử và các hoạt
động như gửi/rút tiền bằng thẻ tín dụng.
Theo quan điểm này, có hai định nghĩa khái quát được đầy đủ nhất phạm vi hoạt
động của TMĐT:
Luật mẫu về Thương mại điện tử của Ủy ban Liên hợp quốc về Luật Thương mại
quốc tế (UNCITRAL) định nghĩa: "Thuật ngữ thương mại [commerce] cần được diễn
giải theo nghĩa rộng để bao quát các vấn đề phát sinh từ mọi quan hệ mang tính chất
thương mại dù có hay không có hợp đồng. Các quan hệ mang tính thương mại
[commercial] bao gồm, nhưng không chỉ bao gồm, các giao dịch sau đây: bất cứ giao
dịch nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ; thỏa thuận phân phối; đại
diện hoặc đại lý thương mại, ủy thác hoa hồng (factoring), cho thuê dài hạn (leasing);
xây dựng các công trình; tư vấn, kỹ thuật công trình (engineering); đầu tư; cấp vốn,
ngân hàng; bảo hiểm; thỏa thuận khai thác hoặc tô nhượng, liên doanh và các hình
thức về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hóa hay hành khách
bằng đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ".
Theo định nghĩa này, có thể thấy phạm vi hoạt động của TMĐT rất rộng, bao quát
vai trò cơ bản và công nghệ thông tin được coi là điều kiện tiên quyết. Một khía cạnh
quan trọng khác là không còn phải thay đổi phương tiện truyền thông, một đặc trưng cho
việc tiến hành kinh doanh truyền thống. Thêm vào đó là tác động của con người vào quy
trình kinh doanh được giảm xuống đến mức tối thiểu. Trong trường hợp này người ta
gọi đó là “Thẳng đến gia công” (Straight Through Processing). Để làm được điều này
đòi hỏi phải tích hợp rộng lớn các các tính năng kinh doanh.
Nếu liên kết các hệ thống ứng dụng từ các lĩnh vực có tính năng khác nhau hay
liên kết vượt qua ranh giới của doanh nghiệp cho mục đích này thì đây là một lĩnh vực
ứng dụng truyền thống của tích hợp ứng dụng doanh nghiệp. Quản lý nội dung doanh
nghiệp (Enterprise Content Management – ECM) được xem như là một trong những
công nghệ cơ bản cho kinh doanh điện tử.
Qua nghiên cứu các khái niệm về TMĐT như trên, hiểu theo nghĩa rộng thì hoạt
động thương mại được thực hiện thông qua các phương tiện thông tin liên lạc đã tồn tại
hàng chục năm nay và đạt tới doanh số hàng tỷ USD mỗi ngày. Theo nghĩa hẹp thì
TMĐT chỉ mới tồn tại được vài năm nay nhưng đã đạt được những kết quả rất đáng
quan tâm, TMĐT chỉ gồm các hoạt động thương mại được tiến hành trên mạng máy tính
mở như mạng Internet. Trên thực tế, chính các hoạt động thương mại thông qua mạng
Internet đã làm phát sinh thuật ngữ TMĐT.
Các đặc trưng của thương mại điện tử
Để xây dựng khung pháp luật thống nhất cho TMĐT, ta cần nghiên cứu và tìm ra
các đặc trưng của TMĐT. So với các hoạt động thương mại truyền thống, TMĐT có
một số điểm khác biệt cơ bản sau:
- Các bên tiến hành giao dịch trong TMĐT không cần tiếp xúc trực tiếp với nhau
và không đòi hỏi phải biết nhau từ trước.
- Các giao dịch thương mại truyền thống được thực hiện với sự tồn tại của khái
niệm biên giới quốc gia, còn TMĐT được thực hiện trong một thị trường không có biên
SVTH: Hồ Hà Đông - Lớp B13QTH Trang 11
Khóa luận tốt nghiệp Đại học văn bằng hai năm 2009GVHD: ThS. Hồ Nguyên Khoa
giới (thị trường thống nhất toàn cầu). TMĐT trực tiếp tác động tới môi trường cạnh
tranh toàn cầu.
B2B và B2C là hai loại hình giao dịch TMĐT quan trọng nhất.
Business-to-business (B2B)
Mô hình TMĐT giữa các doanh nghiệp với doanh nghiệp. TMĐT B2B (Business-
to-business) là việc thực hiện các giao dịch giữa các doanh nghiệp với nhau trên mạng,
ta thường gọi là giao dịch B2B. Các bên tham gia giao dịch B2B gồm: người trung
gian trực tuyến (ảo hoặc click-and-mortar), người mua và người bán. Các loại giao
dịch B2B gồm: mua ngay theo yêu cầu khi giá cả thích hợp và mua theo hợp đồng dài
hạn, dựa trên đàm phán cá nhân giữa người mua và người bán. Các loại giao dịch B2B
cơ bản:
- Bên Bán - (một bên bán nhiều bên mua) là mô hình dựa trên công nghệ web trong
đó một công ty bán cho nhiều công ty mua. Có 3 phương pháp bán trực tiếp trong mô
hình này: Bán từ catalog điện tử, Bán qua quá trình đấu giá, Bán theo hợp đồng cung
ứng dài hạn đã thỏa thuận trước. Công ty bán có thể là nhà sản xuất loại click-and-
mortar hoặc nhà trung gian, thông thường là nhà phân phối hay đại lý
- Bên Mua - một bên mua - nhiều bên bán.
- Sàn Giao dịch - nhiều bên bán - nhiều bên mua.
- TMĐT phối hợp - Các đôi tác phối hợp nhau ngay trong quá trình thiết kế chế tạo
sản phẩm
Business-to-consumer (B2C):
Mô hình TMĐT giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng. Đây là mô hình bán lẻ trực
tiếp đến người tiêu dùng. Trong TMĐT, bán lẻ điện tử có thể từ nhà sản xuất, hoặc từ
một cửa hàng thông qua kênh phân phối. Hàng hóa bán lẻ trên mạng thường là hàng hóa,
máy tính, đồ điện tử, dụng cụ thể thao, đồ dùng văn phòng, sách và âm nhạc, đồ chơi,
sức khỏe, mỹ phẩm, giải trí,...
SVTH: Hồ Hà Đông - Lớp B13QTH Trang 13
Khóa luận tốt nghiệp Đại học văn bằng hai năm 2009GVHD: ThS. Hồ Nguyên Khoa
Mô hình kinh doanh bán lẻ có thể phân loại theo quy mô các loại hàng hóa bán
(tổng hợp, chuyên ngành), theo phạm vi địa lý (toàn cầu, khu vực), theo kênh bán (bán
trực tiếp, bán qua kênh phân phối).
Một số hình thức các cửa hàng bán lẻ trên mạng: Brick-and-mortar là loại cửa
đã rẻ đi rất nhiều. Thêm vào đó là xu hướng kết nối nhiều thông tin chào hàng khác nhau
thông qua các giao diện lập trình ứng dụng để thành lập một thị trường chung có mật độ
chào hàng cao. Ngoài ra các thị trường độc lập trước đây còn được tích hợp ngày càng
nhiều bằng các giải pháp phần mềm cho một cổng Web toàn diện.
SVTH: Hồ Hà Đông - Lớp B13QTH Trang 14
Khóa luận tốt nghiệp Đại học văn bằng hai năm 2009GVHD: ThS. Hồ Nguyên Khoa
Cửa hàng trực tuyến
Cửa hàng trực tuyến đưa hàng vào trong Internet để bán. Đây là một chương trình
phần mềm có tính năng giỏ hàng. Người mua chọn lựa các sản phẩm và đặt chúng vào
giỏ hàng. Đằng sau một cửa hàng trực tuyến như thế là một việc kinh doanh thật sự, tiến
hành các đơn đặt hàng. Có nhiều chương trình phần mềm cho kênh bán hàng này.
Một cửa hàng trực tuyến hiện đại không chỉ tạo khả năng cho người dùng xem
món hàng hai chiều và đọc một ít thông số kỹ thuật của món hàng đó. Trong lãnh vực
hàng tiêu dùng cao cấp người ta cũng đã tạo ảnh ba chiều của sản phẩm để cảm giác của
khách hàng càng gần hiện thực càng tốt. Ngoài ra còn có các chương trình cấu hình mà
qua đó màu sắc, trang bị và thiết kế của sản phẩm có thể thay đổi để phù hợp với tưởng
tượng cá nhân của từng khách hàng. Bằng cách này người sản xuất hay người chào bán
còn có thêm thông tin rất có giá trị về ý thích của khách hàng.
Các hình thức được biết nhiều của TMĐT là mua bán sách và nhạc cũng như mua
bán đấu giá trong Internet. Thông qua việc Internet bùng nổ vào cuối thập niên 1990,
cửa hàng trực tuyến ngày càng có tầm quan trọng nhiều hơn. Những người bán hàng
trong Internet có lợi thế là họ không cần đến một diện tích bán hàng thật sự mà thông
qua các trang Web sử dụng một không gian bán hàng ảo. Các cửa hàng trực tuyến cũng
thường hay không cần đến nhà kho hay chỉ cần đến rất ít, vì thường có thể cung cấp cho
khách hàng trực tiếp từ người sản xuất hay có thể đặt hàng theo nhu cầu. Lợi thế do tiết
kiệm được những phí tổn cố định này có thể được tiếp tục chuyển tiếp cho khách hàng.
Ngay cả những người bán sách trong Internet tại Đức, bắt buộc phải bán sách theo giá
cố định, cũng vẫn có lợi thế là - thông qua việc không thu tiền cước phí gửi - tiết kiệm
được cho khách hàng một chuyến đi đến nhà bán sách mà vẫn có cùng một giá.
Các ngành hưởng lợi của xu hướng này, bên cạnh các cửa hàng trực tuyến, đặc biệt
nước ngoài. Thế nhưng nguyên tắc quốc gia xuất xứ cũng không phải là hoàn hảo:
Người mua thường không am hiểu luật lệ của nước khác và vì thế không dễ dàng đại
diện được cho quyền lợi của mình. Ngoài ra việc hành luật của từng nước thường khác
nhau và người bán từ một số quốc gia nhất định hay có nhiều lợi thế hơn so với những
người khác. Trên lý thuyết, mỗi nước đều có khả năng thay đổi luật lệ một cách tương
ứng để đẩy mạnh nền kinh tế quốc gia.
Tuy có những mặt bóng tối này, thương mại trong Internet xuyên quốc gia tất
nhiên cũng có nhiều ưu thế. Nhiều món hàng chỉ được bán trong một số nước nhất định.
Người muốn mua có thể tìm được sản phẩm cần dùng trong Internet với sự giúp đỡ của
các máy truy tìm đặc biệt và cũng có thể so sánh giá của những người bán trong các
nước khác nhau. Một phần thì không những là giá của từng nhóm sản phẩm khác nhau
mà thuế giá trị thặng dư cũng còn khác nhau, do đó mặc dù là tiền gửi hàng cao hơn
nhưng việc đặt mua ở nước ngoài có thể mang lại nhiều lợi ích hơn. Trong phạm vi của
EU người mua không phải đóng thuế nên phí tổn tổng cộng minh bạch cho người mua.
Nói tóm lại, TMĐT xuyên biên giới mặc dầu bị ghìm lại do còn có điều không
chắc chắn trong pháp luật nhưng có tiềm năng phát triển lớn. Một bộ luật thống nhất cho
châu Âu quan tâm nhiều hơn nữa đến lợi ích của người tiêu dùng về lâu dài chắc chắn sẽ
mang lại thêm nhiều tăng trưởng.
Khái niệm electronic commerce hay e-commerce
E-commerce (Thương mại điện tử) đã tồn tại dưới nhiều hình thức trước khi mạng
Intemet được đưa vào sử dụng, và những hình thức này vẫn tồn tại trong đó có phương
thức trao đổi dữ liệu điện tử - EDI (electronic data -interchange) áp dụng phổ biến trong
cả mạng máy tính không theo giao thức TCP/IP. EDI được một số người coi là có tầm
quan trọng trong hình thức kinh doanh giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp (B to B)
hơn cả mạng Intemet.
SVTH: Hồ Hà Đông - Lớp B13QTH Trang 16
Khóa luận tốt nghiệp Đại học văn bằng hai năm 2009GVHD: ThS. Hồ Nguyên Khoa
Mối quan tâm ngày càng tăng đối với TMĐT có thể được xuất phát từ tác động
của Intemet lên phương thức kinh doanh giữa doanh nghiệp với khách hàng (B to C),
chuyển đổi phương thức này thành TMĐT. Đã có những cơ sở không thể phủ nhận để
Nếu như năm 2001, số người sử dụng Internet là 375 triệu người thì đến năm 2005 con
số này đã tăng lên hơn hơn 1 tỷ người và đến tháng 6/2009 là gần 6,77 tỷ người (Nguồn
Internet World Stats).
Do tốc độ tăng lên nhanh chóng như vậy nên ngày nay rất khó để có thể đưa ra con
số chính xác số người truy cập vào mạng Internet tại một thời điểm. Người ta ước tính
hiện nay trên thế giới có xấp xỉ 1 tỷ người truy cập trực tuyến trong đó 1/3 là người Mỹ
và Canada. Hơn 80% dân số thế giới ngày nay truy cập vào mạng tại nơi làm việc hoặc
SVTH: Hồ Hà Đông - Lớp B13QTH Trang 17
Khóa luận tốt nghiệp Đại học văn bằng hai năm 2009GVHD: ThS. Hồ Nguyên Khoa
tại nhà riêng. Lịch sử đã cho thấy số lượng người sử dụng tăng khoảng 400% mỗi năm.
Điều này càng khẳng định cho các doanh nghiệp không thể không quan tâm tới lượng
khách hàng tiềm năng lớn và mức tăng trưởng này.
Việc sử dụng Internet
Ngày càng có nhiều người xem truyền hình chuyển sang sử dụng thời gian rảnh rỗi
của mình bên chiếc máy tính để truy cập vào mạng thay vì ngồi bên chiếc TV như trước
kia. Một nghiên cứu thực hiện vào năm 2006 đã chỉ ra rằng 3/4 số người sử dụng máy
tính cá nhân sẵn sàng từ bỏ TV để dành nhiều thời gian hơn bên chiếc máy vi tính của
mình. Công ty tư vấn Forrester Research đã thăm dò ý kiến của 17.000 người ở Anh,
Đức, Hà Lan, Thuỵ Điển và Pháp thì 80% số người rất quan tâm và thích thú trước sự
tiến triển của kỹ nghệ truyền thông, nhất là nguồn thông tin vô giới hạn đến từ Internet.
Theo kết quả một cuộc thăm dò do Lois Harris tiến hành trên tờ Tuần báo kinh doanh
(Business Week) của Mỹ năm 2008, thì 48% người sử dụng Internet dành ít thời gian
hơn cho việc xem TV, 26% dành ít thời gian hơn cho việc đọc sách báo. Thời gian
người ta dành cho Internet cũng đang tăng lên nhanh chóng. Chẳng hạn như ở Mỹ là
nước có tỷ lệ người sử dụng Internet nhiều nhất thế giới, năm 2006 trung bình một
người sử dụng Internet 6,6 giờ/tuần, 23% trong số đó sử dụng hơn 16 giờ/tuần và 83%
số này truy cập mạng hàng ngày. Ngày nay số thời gian mà người ta dành cho Internet
đã tăng lên gần gấp đôi. Năm 2007 là 12,4 giờ/tuần và năm 2008 là 15,8 giờ/tuần.
Việc sử dụng Internet đã thu hút một số lượng người lớn hơn bất cứ hoạt động nào
liên quan tới máy vi tính. Trong khi các trò chơi thu hút hầu hết những người trẻ tuổi
bức thư, trong khi có thể gần như ngay lập tức nhận được thư trả lời.
Việc tăng lên của việc sử dụng Internet sẽ tạo thêm nhiều cơ hội cho các doanh
nghiệp TMĐT có thể tiếp cận được dễ dàng với các khách hàng của mình, phát triển
khách hàng tiềm năng cũng như chăm sóc khách hàng một cách chu đáo hơn, tiết kiệm
chi phí hơn.
Sự phát triển của TMĐT
Một ứng dụng của TMĐT là các hoạt động mua bán trên mạng đã thúc đẩy nhu
cầu mở rộng các hình thức hỗ trợ thanh toán, hỗ trợ giao hàng, sử dụng chữ ký số, tiền
điện tử, cổ phiếu mạng, an toàn dữ liệu, bảo mật dữ liệu,...của các doanh nghiệp. Trên
thực tế, ngay cả khi các doanh nghiệp chưa có điều kiện để tham gia vào hoạt động kinh
doanh trực tuyến, các doanh nghiệp cũng vẫn thường tiến hành nhiều hình thức tự giới
thiệu về mình trên mạng như một bước chuẩn bị ban đầu cho việc chính thức gia nhập
vào đội ngũ kinh doanh trên mạng của mình.
Vào năm 2005, 15 Website được nhiều người truy cập nhất đều là Website giáo
dục, trong danh sách này không có Website thương mại nào. Đến năm 2007, cả 15
Website được nhiều người truy cập nhất đều là các Website cung cấp nội dung và
thương mại. Việc chuyển đổi lên nền kinh tế mạng đang diễn ra nhanh hơn người ta có
thể dự tính. Số người tiêu dùng trực tuyến đã tăng từ 225 triệu người năm 2005 lên đến
825 triệu người năm 2008. Số trang Web đang tăng lên nhanh chóng từ 7,5 tỷ lên tới
12,5 tỷ. Doanh số TMĐT tăng lên với tốc độ rất cao, năm 2006 là 615 tỷ USD, năm
2007 là 1.600 tỷ USD và đến cuối năm 2008, các giao dịch TMĐT trên toàn cầu đã tạo
ra thu nhập trên 3.000 tỷ USD. Doanh số kinh doanh điện tử trung bình cho mỗi khách
hàng tăng từ 2.200 USD lên 4.300 USD, giá trị kinh doanh thương mại B2B tăng từ
1.200 tỷ USD năm 2005 lên 2.100 tỷ năm 2008. Trong năm 2008, gần một nửa trong
tổng số những người truy cập Internet (3 tỷ người) đã thực hiện mua bán trực tuyến trên
mạng (Theo Báo Tin học và Đời sống).
Internet là phương tiện truyền thông cao cấp
Internet là phương tiện truyền thông cao cấp, nó có rất nhiều ưu điểm mà các
phương tiện truyền thông khác không thể có được.
Trước hết, Internet là phương tiện truyền thông duy nhất hiện nay có thể thu hút
trưng mà các phương tiện thông tin đại chúng khác không thể có được. Trong khi đặc
trưng việc cung cấp thông tin của các phương tiện truyền thông đại chúng truyền thống
mang tính thụ động, thì việc cung cấp thông tin trên mạng lại theo yêu cầu của người sử
dụng, nghĩa là việc điều khiển quá trình thông tin liên lạc nghiêng về phía người sử dụng
hơn là bản thân phương tiện truyền thông. Khối lượng thông tin khổng lồ trên mạng lại
càng hướng việc điều khiển quá trình thông tin về phía người sử dụng và tạo ra các cơ
cấu nội dung thông tin phù hợp với sở thích và mối quan tâm cụ thể của từng cá nhân
người sử dụng. Khả năng này đã tạo cho các quảng cáo trên mạng một đặc tính mà các
hình thức quảng cáo khác không có được, đó là tính tương tác.
Thứ năm, Internet không chỉ là một kênh thông tin mà còn là kênh giao dịch và
phân phối. Sở dĩ có được đặc tính này là nhờ khả năng tương tác và phản hồi của
Internet. Khách hàng có thể vừa tìm thông tin lại vừa có thể thực hiện ngay việc mua
bán và thanh toán ở ngay trên mạng. Không một phương tiện truyền thông nào có thể
SVTH: Hồ Hà Đông - Lớp B13QTH Trang 20
Khóa luận tốt nghiệp Đại học văn bằng hai năm 2009GVHD: ThS. Hồ Nguyên Khoa
thực hiện được các chức năng marketing này ngay lập tức mà không cần đến sự hỗ trợ
của các phương tiện khác.
Một trang Web trên mạng có thể giúp cho người ta quảng bá cho bất cứ cái gì mà
người ta có thể nghĩ tới. Internet cũng giúp cho việc tìm kiếm thông tin của khách hàng
trên mạng trở nên vô vùng đơn giản. Nếu một người muốn tìm kiếm thông tin về sản
phẩm và dịch vụ của một công ty, tất cả những việc cần làm chỉ là tìm đến một công cụ
tìm kiếm và đánh vào thông tin mà họ quan tâm, các công cụ tìm kiếm sẽ giúp họ tìm tới
trang Web của công ty. Ngày càng có nhiều người tìm kiếm các thông tin về các sản
phẩm và các công ty và so sánh sản phẩm của các công ty với nhau trước khi ra quyết
định mua hàng. Việc sử dụng máy chủ bảo mật giúp cho việc mua bán trở nên dễ dàng
hơn và giảm bớt những lo ngại trước đây liên quan tới việc thanh toán. Internet sẽ chứng
minh nó là động cơ lớn nhất của khách hàng để họ bắt đầu tìm kiếm và mua hàng qua
chiếc máy tính cá nhân của mình, và trên thực tế nó đã trở thành nơi mà các khách hàng
thường lui tới để tìm kiếm các sản phẩm và dịch vụ. Điều đó tạo ra cơ hội để các nhà
kinh doanh trong lĩnh vực TMĐT có thể dễ dàng tung ra những lời mời chào về sản
năm trở lại đây. Hiện nay, các trang web dịch vụ mua sắm trực tuyến có hướng đầu tư
sâu hơn về mặt chất lượng để phát triển. Các doanh nghiệp đã chú trọng đến đầu tư nâng
cấp chất lượng giao diện website, cung cấp dịch vụ tốt hơn như truy cập nhanh, giao
diện đẹp, dễ sử dụng, cung cấp nhiều thông tin cho từng sản phẩm về giá cả, xuất xứ.
SVTH: Hồ Hà Đông - Lớp B13QTH Trang 22
Khóa luận tốt nghiệp Đại học văn bằng hai năm 2009GVHD: ThS. Hồ Nguyên Khoa
Tác động của TMĐT đến con người hiện đại
Các sàn giao dịch thương mại trực tuyến được hoạt động dưới hình thức những
siêu thị điện tử kinh doanh nhiều mặt hàng và tùy theo lợi thế, mục đích của từng siêu
thị điện tử sẽ có một vài nhóm hàng hóa chủ lực. Vì vậy, không khác gì những mô hình
chợ trực tiếp, chợ trên mạng cũng tập trung khá phong phú về chủng loại cũng như mẫu
mã.
Hiện cả nước có khoảng 80 doanh nghiệp kinh doanh sàn giao dịch điện tử, trong
đó không ít trang web đã tạo được uy tín trên thị trường. Có đến hơn 10.000 mặt hàng
thuộc các ngành hàng như: kim khí điện máy, quà lưu niệm, hoa, sách, quần áo, hàng thể
thao, trò chơi, trang sức, mỹ phẩm, kinh doanh quảng cáo,...
Đối với người mua: nhờ TMĐT người mua sẽ có nhiều cơ hội kiểm tra món hàng
và tham khảo thật chi tiết doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm trước khi quyết định lựa
chọn món hàng, có cơ hội tham khảo để chọn giá cả vừa ý nhất với mình, mà không
phải chịu bất cứ sự khó chịu nào từ phía người bán hàng. Hơn thế, người mua còn nhận
được sự tư vấn trực tuyến, dễ dàng đặt món hàng theo yêu cầu của mình với bất kỳ nhà
cung cấp hay sản xuất nào trên toàn thế giới; có cơ hội mua được hàng với giá rẻ cũng
như mua được những món hàng độc đáo, mới lạ mà không tốn nhiều thời gian, công sức
cho việc tìm kiếm. Tuy nhiên, nếu không sáng suốt để lựa chọn thì như tất cả các dạng
thương mại khác, nguy cơ chọn phải hàng kém chất lượng, cũng như gặp một số dạng
lừa đảo trực tuyến, gian lận thương mại có thể xảy ra.
Đối với người bán: nhờ có TMĐT người bán có nhiều cơ hội để quảng bá và bán
được sản phẩm của mình đến tất cả mọi nơi vì thị trường không biên giới, tiết kiệm
được chi phí song người bán cũng có thể sẽ phải chịu nhiều sự cạnh tranh từ rất nhiều
phía đòi hỏi họ phải nỗ lực hết sức để phục vụ khách hàng ngày càng tốt hơn và lợi
dịch trực tuyến. Một số website bán hàng qua mạng nổi tiếng trên thế giới đã ngăn
không cho các giao dịch thanh toán trực tuyến từ các máy tính tại Việt Nam. Điều đó
ảnh hưởng nghiêm trọng trong việc phát triển TMĐT nói chung và tạo điều tiếng xấu
trong giới công nghệ thông tin Việt Nam. Tội phạm trực tuyến trong nước tuy không
nhiều nhưng đã có và gây ảnh hưởng rất lớn đối với niềm tin của khách hàng dành cho
các doanh nghiệp có bán hàng trực tuyến nói riêng và các doanh nghiệp chuyên kinh
doanh TMĐT nói chung.
Theo đánh giá sau cuộc khảo sát được Vụ Thương mại điện tử thực hiện cuối năm
2008, tình hình hoạt động của các sàn giao dịch TMĐT đã có được những bước phát
triển hơn về hình thức lẫn chất lượng so với các năm từ 2005 trở về trước. Các doanh
nghiệp kinh doanh "chợ ảo" có xu hướng phát triển website chất lượng hơn, thông tin bổ
ích hơn, đảm bảo vấn đề chất lượng hàng hóa nhằm tạo lập uy tín, lòng tin cậy của
khách hàng để thực hiện mục tiêu mở rộng thị trường.
Theo thống kê mới nhất, tính đến tháng 8/2009, Việt Nam đã có khoảng 21,8 triệu
người truy cập Internet, chiếm 25,3% dân số cả nước. Tỷ lệ này cũng ngang bằng với tỷ
lệ chung của toàn cầu năm 2008.
Nếu cuối năm 2007 số người truy cập Internet ở Việt Nam là khoảng 5,21 triệu
người, đến cuối năm 2008 con số này đã tăng lên gần 400%, tức khoảng 20,8 triệu
người, tám tháng sau đó, con số này đã lên đến hơn 21,8 triệu, dự đoán đến cuối năm
2009, số người Việt Nam truy cập Internet có thể lên đến 22 đến 23 triệu người, chiếm
tỷ lệ 25,6% - 26,7% dân số cả nước. Những thống kê này cho thấy một tín hiệu lạc quan
về sự phát triển TMĐT ở Việt Nam trong giai đoạn 2010 – 2015.
Theo thống kê của Vụ Thương mại điện tử thuộc Bộ Công thương, đến cuối năm
2004, Việt Nam đã có khoảng 4.206.588 website của các doanh nghiệp, trong đó số tên
miền .vn (như .com.vn, .net.vn,...) đã tăng từ 10.000 (năm 2005) lên 25.510 (năm 2007)
và 39.037 (năm 2008).
Năm 2007, 2008 là năm các website sàn giao dịch B2B (marketplace), các website
rao vặt, các siêu thị trực tuyến B2C,... đua nhau ra đời. Tuy nhiên, các website này vẫn
SVTH: Hồ Hà Đông - Lớp B13QTH Trang 24
Khóa luận tốt nghiệp Đại học văn bằng hai năm 2009GVHD: ThS. Hồ Nguyên Khoa
nghiệp ở Việt Nam không nên chờ đợi để áp dụng công cụ kinh doanh có tính chất của
cuộc cách mạng này. Thay vào đó, các doanh nghiệp cần giành lấy lợi thế rút ra từ
những bài học của những doanh nghiệp đã sử dụng hình thức kinh doanh thông qua
mạng Internet hiện tại ở Việt Nam và trên thế giới.
Một số bài học
- Phối hợp việc sử dụng Internet với các mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp.
Người quản lý hàng đầu trong doanh nghiệp cần điều hành TMĐT thay cho việc giao
cho các cán bộ kỹ thuật công nghệ thông tin (IT) hoặc nhân viên Phòng Kinh doanh.
- Đảm bảo rằng doanh nghiệp có đủ nguồn lực để tiếp thị và duy trì kinh doanh,
chứ không phải chỉ để thiết kế và cài đặt website của mình. Một số chuyên gia gợi ý
rằng 1/3 nguồn nhân lực nên dành cho chi phí khởi sự, 1/3 dành để khuyến mãi và 1/3
cuối cùng để cập nhật và duy trì.
SVTH: Hồ Hà Đông - Lớp B13QTH Trang 25