giải pháp phát triển nghiệp vụ môi giới chứng khoán tại công ty cổ phần chứng khoán phố wall - Pdf 10

Chyên đề thực tập Khoa Ngân hàng-Tài
chính
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA NGÂN HÀNG – TÀI CHÍNH
***
CHUYÊN ĐỀ
THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Đề tài :
Giải pháp phát triển nghiệp vụ môi giới chứng khoán tại
công ty cổ phần chứng khoán Phố Wall.
Giáo viên hướng dẫn: PGS. TS. Nguyễn Thị Thu Thảo.
Sinh viên: Dương Minh Thi.
Khoa: Ngân hàng – Tài chính.
Lớp : Tài chính quốc tế 48.
Mã SV: CQ482678
Hà Nội 04/2010
Dương Minh Thi Lớp Tài chính quốc tế 48
Chyên đề thực tập Khoa Ngân hàng-Tài
chính
Mục lục
Lời cảm ơn.
Lời mở đầu 1
Dương Minh Thi Lớp Tài chính quốc tế 48
Chyên đề thực tập Khoa Ngân hàng-Tài
chính
LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, em xin cảm ơn sự chỉ bảo tận tình của giáo viên hướng dẫn là PGS.
TS. Nguyễn Thị Thu Thảo. Đồng. thời, em cũng nhận được sự góp ý chân thành của
các thầy cô giáo khoa Ngân hàng – Tài chính trường đại học Kinh Tế Quốc Dân.
Ngoài ra, em cũng được các cán bộ phòng thông tin lưu trữ, phòng tổ chức
hành chính, phòng môi giới chứng khoán. công ty cổ phần chứng khoán Phố Wall đã

em chọn đề tài: “Giải pháp phát triển nghiệp vụ môi giới chứng khoán tại công
ty cổ phần chứng khoán Phố Wall” làm chuyên đề thực tập.
Dương Minh Thi Lớp Tài chính quốc tế 48
Chuyên đề thực tập 2 Khoa Ngân hàng – Tài chính
1.Mục đích nghiên cứu của đề tài.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu một cách tổng quát, hệ thống cơ
sở lý luận chung về công ty chứng khoán, về hoạt động môi giới chứng khoán nói
chung và cụ thể về môi giới chứng khoán nói riêng Nêu ra một số giải pháp và
kiến nghị nhằm phát triển hoạt động này tại công ty cổ phần chứng khoán phố Wall.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng: Hoạt động môi giới tại công ty cổ phần chứng khoán Phố Wall.
Phạm vi: Số liệu thực tế của đề tài được giới hạn trong hoạt động môi giới
tại công ty cổ phần chứng khoán Phố Wall trong giai đoạn 2008 – 2009 và định
hướng phát triển của công ty trong giai đoạn từ năm 2010 – 2015
3. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành chuyên đề, tôi đã sử dụng các phương pháp khoa học như:
phương pháp so sánh,. phương pháp phân tích hoạt động kinh doanh.
4. Kết cấu của đề tài :
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, chuyên đề bao
gồm ba chương:
Chương 1 : Những vấn đề chung về công ty chứng khoán và nghiệp
vụ môi giới chứng khoán.
Chương 2 : Thực trạng nghiệp vụ môi giới tại công ty cổ phần
chứng khoán phố Wall.
Chương 3 : Giải pháp phát triển nghiệp vụ môi giới tại công ty cổ
phần chứng khoán phố Wall.
Dương Minh Thi Lớp Tài chính quốc tế 48
Chuyên đề thực tập 3 Khoa Ngân hàng – Tài chính
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ

Dương Minh Thi Lớp Tài chính quốc tế 48
Chuyên đề thực tập 4 Khoa Ngân hàng – Tài chính
- Công ty trách nhiệm hữu hạn : Chủ sở hữu công ty là một pháp nhân có
quyền chuyển nhượng một phần hay toàn bộ vốn điều lệ của mình cho một tổ chức
cá nhân khác theo quy định của pháp luật. Công ty này không được phép phát hành
cổ phiếu. Đây là công ty đòi hỏi trách nhiệm của những thành viên giới hạn trong
số vốn mà họ đã góp,. Vì thế điều này gây tâm lí nhẹ nhàng hơn với các nhà đầu tư.
Mặt khác về phương diện huy động vốn cũng đơn giản và linh họạt hơn so với các
công ty hợp danh. Đồng thời vấn đề tuyển đội ngũ quản lí cũng năng động hơn,
không bị bó hẹp trong một số đối tác như công ty hợp danh.
- Công ty cổ phần: là doanh nghiệp, trong đó vốn điều lệ được chia thành
nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần,. Các cá nhân hay tổ chức nắm giữ quyền sở
hữu hợp pháp một phần hay toàn bộ phần vốn góp gọi là cổ đông,. Cổ đông có thể
là cá nhân hay tổ chức và tối thiểu là ba. Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm trong phạm
vi vốn góp vào công ty. Một công ty chứng khoán cổ phần được tổ chức như một
công ty cổ phần bình thường Công ty cổ phần được phép phát hành mọi loại chứng
khoán theo theo qui định của pháp luật về chứng khoán hiện hành.
Phân loại theo nghiệp vụ: do đặc điểm của từng công ty chứng khoán là có
thể chỉ hoạt động trên một số lĩnh vực nhất định nên có thể phân loại các công ty
chứng khoán theo các hoạt động nghiệp vụ kinh doanh:
- Công ty môi giới chứng khoán: là công ty chứng khoán chỉ thực hiện
nghiệp vụ môi giới chứng khoán tức là làm trung gian đại diện mua., bán chứng
khoán cho khách hàng để hưởng phí giao dịch. Tuy nhiên., hoạt động môi giới
chứng khoán ngày nay có sự hỗ trợ rất lớn của nghiệp vụ tư vấn trở thành hai
nghiệp vụ không thể tách rời tr ong một công ty chứng khoán nói chung.
- Công ty kinh doanh chứng khoán: hoạt động chính của công ty là tự tiến
hành các giao dịch mua và bán chứng khoán cho riêng mình. Lúc này công ty
đóng vai trò là người tạo lập thị trường. Hoạt động tự doanh có thể tiến hành cùng
lúc với hoạt động môi giới chứng khoán nhưng phải đảm bảo tách bạch tài khoản
của công ty với tài khoản của khách hàng,. Công ty có thể áp dụng nhiều nghiệp

kinh doanh bảo hiểm phải lập công ty độc lập hoạt động tách rời.
- Loại đa năng hoàn toàn: Các ngân hàng được kinh doanh chứng khoán,
kinh doanh bảo hiểm bên cạnh kinh doanh tiền tệ.
Ưu điểm của mô hình này là ngân hàng có thể kết hợp nhiều lĩnh vực kinh
doanh, nhờ đó giảm bớt rủi ro cho hoạt động kinh doanh chung và có khả năng
chịu đựng các biến động của thị trường chứng khoán. Mặt khác ngân hàng sẽ tận
dụng được thế mạnh chuyên môn và vốn để kinh doanh chứng khoán.
Tuy vậy, mô hình cũng bộc lộ một số hạn chế như không phát triển được thị
trường cổ phiếu vì các ngân hàng có xu hướng bảo thủ và thích hoạt động cho vay
hơn là bảo lãnh phát hành cổ phiếu, trái phiếu. Đồng thời các ngân hàng cũng rất dễ
gây lũng đoạn thị trường và các biến động trên thị trường chứng khoán (nếu có)
cũng sẽ ảnh hưởng mạnh tới hoạt động kinh doanh tiền tệ của ngân hàng do không
Dương Minh Thi Lớp Tài chính quốc tế 48
Chuyên đề thực tập 6 Khoa Ngân hàng – Tài chính
tách bạch giữa hai loại hình kinh doanh này. Do vậy, dần dần mô hình này không
còn được áp dụng nữa, mà thay vào đó là mô hình chuyên doanh chứng khoán.
Mô hình chuyên doanh chứng khoán:
Theo mô hình này, hoạt động chuyên doanh chứng khoán sẽ do các công ty
độc lập, chuyên môn hóa trong lĩnh vực chứng khoán đảm nhận, các ngân hàng
không được tham gia kinh doanh chứng khoán.
Ưu điểm của mô hình này là:
- Hạn chế rủi ro cho hệ thống ngân hàng.
- Tạo điều kiện cho thị trường chứng khoán phát triển.
Mô hình này được áp dụng ở nhiều nước, đáng chú ý là Mỹ, Nhật Bản,
Canada, Hàn Quốc.
Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, các nước này có xu hướng xóa bỏ dần
hàng rào ngăn cách giữa hai loại hình kinh doanh (tiền tệ và chứng khoán) và ngày
nay, các công ty chứng khoán lớn đã mở rộng kinh doanh cả trong lĩnh vực bảo
hiểm và kinh doanh tiền tệ.
1.1.3. Vai trò và chức năng của công ty chứng khoán.

công ty cổ phần và cả chính phủ nữa.
1.1.3.2. Vai trò của công ty chứng khoán:
- Vai trò làm cầu nối giữa cung cầu chứng khoán: công ty chứng khoán là
một định chế tài chính trung gian tham gia hầu hết vào quá trình luân chuyển chứng
khoán, từ khâu phát hành trên thị trường sơ cấp đến khâu giao dịch mua bán trên
thị trường thứ cấp.
Trên thị trường sơ cấp , công ty chứng khoán là cầu nối giữa nhà phát hành
và nhà đầu tư, giúp các tổ chức phát hành huy động vốn một cách nhanh chóng
thông qua nghiệp vụ bảo lãnh phát hành. Một doanh nghiệp khi thực hiện huy động
vốn bằng cách phát hành chứng khoán , thường họ không tự bán chứng khoán của
mình mà thông qua một tổ chức chuyên nghiệp tư vấn và giúp họ phát hành chứng
khoán. Đó là các tổ chức trung gian chuyên nghiệp như công ty chứng khoán. Công
ty chứng khoán với nghiệp vụ chuyên môn, kinh nghiệm nghề nghiệp và tổ chức bộ
máy thích hợp, họ thực hiện tốt vai trò trung gian môi giới mua bán, phát hành
chứng khoán, tư vấn đầu tư và thực hiện một số dịch vụ khác cho cả nhà đầu tư và
tổ chức phát hành . Với nghiệp vụ này , công ty chứng khoán thực hiện vai trò làm
cầu nối và kênh dẫn vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu vốn.
Trên thị trường thứ cấp, công ty chứng khoán là cầu nối giữa các nhà đầu
tư, là trung gian chuyển các khoản đầu tư thành tiền và ngược lại. Trong môi
trường đầu tư ổn định, các nhà đầu tư luôn chuộng những chứng khoán có tính
thanh khoản cao, vì họ luôn có nhu cầu chuyển đổi số vốn tạm thời nhàn rỗi thành
các khoản đầu tư và ngược lại . Công ty chứng khoán với nghiệp vụ môi giới, tư
vấn đầu tư đảm nhận tốt vai trò chuyển đổi này, giúp cho các nhà đầu tư giảm thiểu
Dương Minh Thi Lớp Tài chính quốc tế 48
Chuyên đề thực tập 8 Khoa Ngân hàng – Tài chính
thiệt hại về giá trị các khoản đầu tư của mình.
- Vai trò cung cấp cơ chế giá cả: thị trường chứng khoán nói chung và công
ty chứng khoán nói riêng thông qua các Sở giao dịch chứng khoán và thị trường
OTC có chức năng cung cấp cơ chế giá cả nhằm giúp các nhà đầu tư có được sự
đánh giá đúng thực tế và chính xác về giá trị các khoản đầu tư của mình. Giá cổ

Chuyên đề thực tập 9 Khoa Ngân hàng – Tài chính
ngược lại mà chịu mức thiệt hại không đáng kể. Nói cách khác có thể có một số
nhân tố bên ngoài ảnh hưởng đến giá trị khoản đầu tư, chẳng hạn như tin đồn trong
kinh tế nhưng nói chung giá trị khoản đầu tư không giảm đi đáng kể trong cơ chế
mua bán.
- Vai trò cung cấp các dịch vụ cho thị trường chứng khoán: công ty chứng
khoán với các chức năng và nghiệp vụ của mình, cung cấp các dịch vụ cần thiết góp
phần cho thị trường chứng khoán hoạt động ổn định như: thực hiện tư vấn đầu tư,
góp phần giảm chi phí giao dịch cho nhà đầu tư, cung cấp cơ chế xác định giá cho
các khoản đầu tư thông qua Sở giao dịch chứng khoán giúp các nhà đầu tư đánh giá
đúng và chính xác các khoản đầu tư của mình. Trên thị trường sơ cấp, khi thực hiện
nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán các công ty chứng khoán thực hiện vai
trò tạo cơ chế giá chứng khoán thông qua việc xác định và tư vấn cho các tổ chức
phát hành mức giá phát hành hợp lý. Trên thị trường thứ cấp, tất cả các lệnh mua
bán chứng khoán đều phải thông qua công ty chứng khoán và tập trung lại ở Sở giao
dịch, trên cơ sở đó giá chứng khoán được xác định theo quy luật cung cầu. Đồng
thời công ty chứng khoán còn cung cấp nhiều dịch vụ hỗ trợ khác giúp phát triền
thị trường chứng khoán. Với các dịch vụ đa dạng của mình, công ty chứng khoán là
chất xúc tác không thể thiếu cho hoạt động của thị trường chứng khoán.
- Tạo ra các sản phẩm mới: trong những năm gần đây chủng loại chứng
khoán phát triển rất nhanh do sự phát triển đa dạng của thị trường tài chính. Trong
đó có yếu tố dung lượng thị trường và biến động thị trường ngày càng lớn, khách
hàng ngày càng có nhận thức rõ ràng hơn đối với thị trường tài chính và sự lỗ nực
trong tiếp thị của các công ty chứng khoán.
Ngoài cổ phiếu và trái phiếu các công ty chứng khoán hiện nay còn bán thêm
trái phiếu chính phủ, chứng quyền, trái quyền, các hợp đồng tương lai, hợp đồng
quyền chọn, hợp đồng kỳ hạn … các sản phẩm đa dạng khác phù hợp với thay đổi
trên thị trường chứng khoán nói riêng và môi trường kinh tế nói chung.
- Thực hiện tư vấn đầu tư : các công ty chứng khoán với đầy đủ dịch vụ
không chỉ thực hiện các yêu cầu của khách hàng mà còn tham gia vào nhiều dịch

chính nguồn vốn của công ty, chứ không phải bằng tài khoản của khách hàng. Công
ty chứng khoán thực hiện nghiệp vụ tự doanh nhằm mục đích thu lợi hoặc đôi khi
nhằm mục đích can thiệp điều tiết giá trên thị trường. Hoạt động tự doanh hiện nay
được xem là một trong những hoạt động quan trọng nhất của công ty chứng khoán
bên cạnh hoạt động môi giới để tăng cao lợi nhuận cho công ty chứng khoán. Tuy
nhiên đây là một hoạt động khó khăn và phức tạp, hoạt động này có thể mang lại
cho công ty chứng khoán những khoản lợi nhuận lớn nhưng cũng có thể gây ra
những tổn thất không nhỏ . Để thực hiện nghiệp vụ này thành công, ngoài đội ngũ
nhân viên phân tích thị trường có nghiệp vụ giỏi và nhanh nhạy với những biến
động của thị trường, công ty chứng khoán còn phải có một chế độ phân cấp quản lý
Dương Minh Thi Lớp Tài chính quốc tế 48
Chuyên đề thực tập 11 Khoa Ngân hàng – Tài chính
và đưa ra những quyết định đầu tư hợp lý . Mặt khác , hoạt động tự doanh và môi
giới chứng khoán thường dễ nảy sinh xung đột lợi ích nên các nước thường yêu cầu
các công ty chứng khoán phải tổ chức hai hoạt động này ở hai bộ phận riêng biệt
(nếu công ty chứng khoán đó được phép thực hiện cả hai nghiệp vụ ) . Ở các nước
có thị trường chứng khoán phát triển thì nghiệp vụ tự doanh là rất phổ biến. Những
yêu cầu đối với công ty chứng khoán trong hoạt động tự doanh là:
Tách biệt quản lí: để nhằm đảm bảo tính minh bạch và rõ ràng trong hoạt
động của công ty chứng khoán . Sự tách bạch này bao gồm cả yếu tố con người và
các qui trình nghiệp vụ, giữa tài sản của công ty với tài sản của khách hàng.
Ưu tiên khách hàng : công ty chứng khoán phải ưu tiên thực hiện lệnh của
khách hàng trước để nhằm đảm bảo sự công bằng và nguyên tắc đạo đức khi công
ty chứng khoán tiến hành hoạt động tự doanh. Điều đó có nghĩa rằng, lệnh giao
dịch của khách hàng phải được xử lý trước lệnh tự doanh của công ty chứng khoán.
Do có tính đặc thù về khả năng tiếp cận thông tin và chủ động trên thị trường
chứng khoán nên các công ty chứng khoán có thể sẽ dự đoán trước được xu hướng
của thị trường và có thể sẽ mua hoặc bán tranh của khách hàng nếu không có
nguyên tắc này. Thực hiện nguyên tắc này , công ty chứng khoán đã đảm bảo được
tính công bằng cho các khách hàng trong quá trình giao dịch chứng khoán , đồng

phát hành, số lượng chứng khoán cần phát hành, định giá chứng khoán và phương
thức phân phối chứng khoán đến các nhà đầu tư thích hợp. Để được phép bảo lãnh
phát hành, công ty chứng khoán phải đệ trình một phương án bán và cam kết bảo
lãnh lên Ủy ban Cứng khoán Nhà nước. Khi phương án phát hành đáp ứng được các
nội dung cơ bản của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và được thông qua, công ty
chứng khoán có thể trực tiếp ký hợp đồng bảo lãnh hoặc thành lập tổ hợp bảo lãnh
để ký hợp đồng bảo lãnh giữa tổ hợp bảo lãnh và tổ chức phát hành.
Khi giấy phép phát hành do Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấp có hiệu lực,
công ty chứng khoán (hoặc nghiệp đoàn bảo lãnh) thực hiện phân phối chứng
khoán theo các hình thức chủ yếu sau:
Bán rộng rãi ra công chúng.
Bán trực tiếp cho các cổ đông hiện thời hay những nhà đầu tư có quan hệ
với tổ chức phát hành.
Bán riêng cho các tổ chức đầu tư tập thể, các quỹ đầu tư, quỹ bảo hiểm, quỹ
hưu trí.
Đến thời hạn theo hợp đồng, công ty bảo lãnh phát hành phải giao tiền bán
chứng khoán cho tổ chức phát hành theo giá trị chứng khoán phát hành trừ đi phí
bảo lãnh phát hành.
- Nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư: là hoạt động quản lý vốn của khách
hàng thông qua việc mua, bán và nắm giữ chứng khoán vì quyền lợi của khách hàng
theo hợp đồng được ký kết giữa công ty chứng khoán và khách hàng. Nghiệp vụ
này được thực hiện khi một số nhà đầu tư cá nhân và tổ chức muốn tham gia thị
Dương Minh Thi Lớp Tài chính quốc tế 48
Chuyên đề thực tập 13 Khoa Ngân hàng – Tài chính
trường chứng khoán nhưng họ không có đủ điều kiện về thời gian và kiến thức
chuyên môn để quyết định đầu tư, vì thế họ ủy thác cho công ty chứng khoán kèm
theo thỏa thuận về lãi, lỗ. Khi thực hiện nghiệp vụ này, công ty chứng khoán phải
quản lý tiền và chứng khoán cho khách hàng ủy thác theo đúng các điều kiện quy
định trong hợp đồng ký kết và điều quan trọng là khách hàng phải chịu mọi rủi ro
của khoản đầu tư. Để đảm bảo quyền lợi cho khách hàng, định kỳ công ty chứng

tư vấn cho khách hàng đầu tư.
Theo hình thức tư vấn: bao gồm tư vấn trực tiếp (thông qua việc gặp gỡ, thư
từ, điện thoại) hoặc tư vấn gián tiếp (thông qua sách báo, ấn phẩm).
Theo mức độ ủy quyền: bao gồm tư vấn ủy quyền (vừa tư vấn vừa quyết
định theo mức độ ủy quyền của khách hàng) và tư vấn gợi ý (gợi ý cách thức đầu tư
để khách hàng đưa ra quyết định cuối cùng).
1.1.4.2. Nghiệp vụ phụ trợ:
- Nghiệp vụ lưu ký chứng khoán : là công việc lưu giữ chứng khoán của
khách hàng và giúp khách hàng thực hiện các quyền của mình đối với chứng khoán
đã được lưu ký thông qua các thành viên lưu ký. Đây là quy định bắt buộc trong
giao dịch chứng khoán, khi thực hiện nghiệp vụ này công ty chứng khoán sẽ nhận
được các khoản thu phí lưu kí chứng khoán, phí gửi, phí rút và phí chuyển nhượng
chứng khoán.
- Nghiệp vụ tín dụng: đây là dịch vụ cho vay chứng khoán để khách hàng
thực hiện giao dịch bán khống,cho vay cầm cố chứng khoán,cho vay để thực hiện
mua kí quỹ, ứng trước tiền để mua bán chứng khoán cho khách hàng Trong hoạt
động này có thể coi các công ty chứng khoán như những ngân hàng thươg mại.
Hoạt động này cũng mang lại một nguồn thu nhập cho công ty chứng khoán. Nó
góp phần làm đa dạng hơn các về các sản phẩm dịch vụ cung cấp cho thị trường
chứng khoán. Tuy nhiên hoạt động này chủ yếu là ở các nước có thị trường chứng
khoán phát triển cao.
- Nghiệp vụ quản lý thu nhập của khách hàng (quản lý cổ tức): là hoạt động
giúp khách hàng theo dõi tình hình lãi lỗ, đứng ra thực hiện việc thu nhận và chi trả
cổ tức cho khách hàng thông qua tài khoản giao dịch.
- Quản lí quỹ: ở một số thị trường chứng khoán, pháp luật còn cho phép
công ty chứng khoán thực hiện nghiệp vụ quản lí qũy đầu tư . Công ty chứng khoán
sẽ cử đại diện của mình để quản lí quỹ, sử dụng vốn và tài sản đầu tư chứng
khoán. Công ty chứng khoán sẽ thu được phí dịch vụ và phí quản lý quỹ đầu tư.
1.2 . Nghiệp vụ môi giới của công ty chứng khoán.
1.2.1 . Bản chất, chức năng và vai trò nghiệp vụ môi giới.

giúp khách hàng tỉnh táo khi đưa ra quyết định.
- Đề xuất thời điểm giao dịch đầu tư.
1.2.1.3. Vai trò nghiệp vụ môi giới chứng khoán:
- Góp phần làm giảm chi phí giao dịch: trên các thị trường hàng hóa thông
thường, người mua người bán phải trực tiếp gặp nhau để thẩm định giá trị hàng hóa.
Điều này đòi hỏi phải có thời gian, công sức và cả tiền bạc để giao dịch có thể thành
công. Nhưng ở thị trường chứng khoán, việc giao dịch trở nên đơn giản hơn rất
Dương Minh Thi Lớp Tài chính quốc tế 48
Chuyên đề thực tập 16 Khoa Ngân hàng – Tài chính
nhiều, nhà đầu tư tiết kiệm được rất nhiều thời gian, công sức và chi phí nhờ hoạt
động môi giới . Chi phí môi giới mà nhà đầu tư phải bỏ ra là rất nhỏ so với giá trị
của khoản giao dịch.
- Cung cấp thông tin và tư vấn cho khách hàng: thông qua nghiệp vụ môi
giới, công ty chứng khoán sẽ cung cấp cho khách hàng thông tin chính xác và đưa
ra các khuyến nghị đầu tư để nhà đầu tư quyết định. Bằng kiến thức chuyên sâu và
các mối quan hệ rộng rãi của mình , nhân viên môi giới có thể dễ dàng tiếp cận các
nguồn thông tin khác nhau để chọn lọc và cung cấp cho nhà đầu tư.
Bất cứ nhà đầu tư nào cũng kì vọng vào nhà môi giới tư vấn cho họ về thời
điểm bán ra, mua vào , diễn biến thị trường….hay khi có trong tay lượng cổ phiếu
rồi thì các nhà đầu tư lại phải đối mặt với quyết định bán cổ phiếu đi để chấm dứt
tình trạng thua lỗ, hoặc vẫn nắm giữ nó chờ tăng giá….Vào những thời điểm nhạy
cảm như thế, các nhà môi giới sẽ giúp các nhà đầu tư cân bằng, sáng suốt bằng
cách xác định lại tỉ lệ lợi tức yêu cầu , mức độ chấp nhận rủi ro… rồi thông qua các
chỉ số kỹ thuật, giá cả, trạng thái và diễn biến thị trường từ đó đưa ra các quyết
định đầu tư cho phù hợp.
Những nhà môi giới đôi khi còn đóng vai trò như những người bạn đồng
hành quan trọng đối với mỗi nhà đầu tư. Có lúc nhà đầu tư tìm đến các nhà môi giới
chỉ để giải toả tâm lí hay những băn khoăn hay lo lắng, buồn vui…chứ không phải
tìm kiếm một giải pháp tài chính.
- Cung cấp các dịch vụ tài chính giúp khách hàng thực hiện giao dịch theo

nhàn rỗi . Cao hơn nữa qua quá trình tham gia vào thi trường tài chính họ hìmh
thành kĩ năng phân tích, lựa chọn và phối hợp các sản phẩm với nhau để giảm thiểu
rủi ro và tối đa hóa lợi nhuận cho bản thân. Như vậy, hoạt động môi giới chứng
khoán sẽ ngày càng thâm nhập vào cộng đồng xã hội, vào mọi tầng lớp dân cư và
góp phần tạo nên “văn hóa đầu tư” cho xã hội.
- Cải thiện môi trường kinh doanh: nghiệp vụ môi giới chứng khoán tạo ra
môi trường pháp lý và tuân thủ pháp luật Thị trường chứng khoán là lĩnh vực dễ
nảy sinh những xung đột lợi ích giữa các chủ thể tham gia thị trường do đó hoạt
động môi giới chứng khoán sẽ góp phần tạo dựng khung pháp lý cho các chủ thể.
Hoạt động môi giới sẽ đưa pháp luật đến với nhà đầu tư đồng thời nó cũng phản
ánh những bất cập trong khuôn khổ luật chứng khoán để kịp thời có những điều
chỉnh, sửa đổi cho phù hợp với thực tế đề ra.
1.2.2. Điều kiện thực hiện nghiệp vụ môi giới.
1.2.2.1. Đối với công ty chứng khoán.
Một công ty chứng khoán muốn hoạt động kinh doanh chứng khoán nói
chung hay thực hiện nghiệp vụ môi giới chứng khoán nói riêng thì phải có trụ sở
đảm bảo các yêu cầu sau:
- Có quyền sử dụng trụ sở làm việc tối thiểu một năm, trong đó diện tích làm
Dương Minh Thi Lớp Tài chính quốc tế 48
Chuyên đề thực tập 18 Khoa Ngân hàng – Tài chính
sàn giao dịch phục vụ nhà đầu tư tối thiểu 150 m
2
.
- Có đủ cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ hoạt động kinh doanh, bao gồm: sàn
giao dịch phục vụ khách hàng, thiết bị văn phòng, hệ thống máy tính cùng các phần
mềm thực hiện hoạt động giao dịch chứng khoán, trang thông tin điện tử, bảng tin
để công bố thông tin cho khách hàng, hệ thống kho, két bảo quản chứng khoán, tiền
mặt, tài sản có giá trị khác và lưu giữ tài liệu, chứng từ giao dịch.
- Có hệ thống phòng cháy chữa cháy theo quy định của pháp luật.
- Có hệ thống an ninh, bảo vệ an toàn trụ sở làm việc.

Người hành nghề chứng khoán nói chung cũng như nhân viên hành nghề môi
giới chứng khoán nói riêng không được sử dụng tiền , chứng khoán trên tài sản của
khách hàng khi không được khách hàng ủy thác bằng văn bản ; không được đồng
thời làm việc cho tổ chức khác có quan hệ về mặt sở hữu với công ty chứng khoán
nơi mình làm việc, không được đồng thời làm việc cho công ty chứng khoán , công
ty quản lý quỹ khác ; không được đồng thời làm giám đốc (Tổng giám đốc) của
một tổ chức chào, bán chứng khoán ra công chúng hoặc tổ chức này là công ty
chứng khoán . Người hành nghề chứng khoán nói chung hay nhân viên môi giới
chứng khoán nói riêng đang làm việc cho công ty chứng khoán chỉ được mở tài
khoản giao dịch chứng khoán cho mình (nếu có) tại công ty chứng khoán nơi mình
làm việc.
1.2.3. Quy trình giao dịch.
Quy trình nghiệp vụ môi giới chứng khoán:
Bước 1:
Bước 2:
Bước 3:
Bước 4:
Bước 5:
Dương Minh Thi Lớp Tài chính quốc tế 48
Nhận lệnh của
khách hàng
Kiểm tra lệnh
Nhập lệnh vào
hệ thống máy tính
Duyệt lệnh
Chuyên đề thực tập 20 Khoa Ngân hàng – Tài chính
Bước 6:
Bước 7:
Bước 8:
Bước 1: Nhận lệnh của khách hàng.

chứng từ
Chuyên đề thực tập 21 Khoa Ngân hàng – Tài chính
Bước 4: Duyệt lệnh.
- Nhân viên kiểm soát kiểm tra đối chiếu giữa phiếu lệnh, băng ghi âm đặt
lệnh, bản fax đặt lệnh với hệ thống máy tính tại công ty chứng khoán.
- Nếu phiếu lệnh không có sai sót , nhân viên kiểm soát duyệt xác nhận trên
phần mềm máy tính , ký nháy vào phiếu lệnh và chuyển phiếu lệnh cho nhân viên
đọc lệnh.
- Nếu phát hiện sai sót trong khâu nhập lệnh, nhân viên kiểm soát chuyển lại
phiếu lệnh cho nhân viên nhận lệnh để sửa lỗi và tiến hành thực hiện kiểm soát lại
từ đầu.
Bước 5: Truyền lệnh vào Sở giao dịch chứng khoán.
- Tất cả lệnh giao dịch phát sinh (lệnh đặt tại sàn, lệnh qua điện thoại, fax,
internet) sẽ được tập trung tại máy tính duyệt lệnh sau khi nhân viên kiểm soát đã
duyệt lệnh.
- Tất cả các lệnh đã được duyệt sẽ chuyển thẳng vào trong Sở giao dịch
chứng khoán và hiện lên trên màn hình (phần các lệnh đợi nhập) theo thứ tự ưu tiên
về thời gian.
- Trong trường hợp cần thiết , hoặc có trục trặc kỹ thuật có thể thay thế việc
đọc lệnh bằng các hình thức khác (qua fax, email).
Bước 6: Nhập lệnh tại Sở giao dịch chứng khoán.
Nguyên tắc nhập lệnh: lệnh đến trước được nhập trước, lệnh đến sau được
nhập sau và chỉ nhận lệnh từ công ty qua nhân viên đọc lệnh đã được phân công.
Bước 7: Thông báo kết quả giao dịch cho khách hàng.
Khi có kết quả khớp lệnh từ Sở giao dịch chứng khoán , nhân viên môi giới
thông báo cho khách hàng qua các hình thức:
- Qua màn hình thông báo kết quả tại công ty.
- Qua bản in kết quả giao dịch.
- Qua tin nhắn vào máy điện thoại di động (nếu đăng ký dịch vụ).
Bước 8: Ghép lệnh, giải phóng tiền, chứng khoán của khách hàng.

yếu . Đây là điểm then chốt trong hoạt động dịch vụ tài chính và phải được thực
hiện ngay từ khi tiếp xúc với khách hàng, người môi giới phải thể hiện được thái độ
quan tâm tới khách hàng , lắng nghe khách hàng và thuyết phục được khách hàng
để họ cảm thấy an tâm đầu tư.
- Kỹ năng bán hàng: người môi giới chỉ thực hiện thành công nghiệp vụ của
mình khi bán được những sản phẩm cho khách hàng . Vì thế, người môi giới muốn
bán được hàng cần chiếm được lòng tin, cảm tình của khách hàng. Muốn có được
sự tin tưởng và thiện cảm của khách hàng người môi giới cần truyền đạt rõ ràng,
chính xác, xúc tích những thông tin mà khách hàng muốn tìm hiểu, đồng thời cần
chân tình đưa ra những lời khuyên bổ ích cho khách hàng….Vì vậy , có thể nói kỹ
năng bán hàng là tổng hợp của tất cả các kỹ năng trên nên chỉ những người môi giới
thành thạo ba kỹ năng trên thì mới có thể thực hiện tốt kỹ năng bán hàng.
Dương Minh Thi Lớp Tài chính quốc tế 48

Trích đoạn Kết quả hoạt động kinh doanh. Giao dịch trái phiếu 3.Giao dịch lô lẻ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ MÔI GIỚI TẠI CÔNG TY CỔ PHẦNCHỨNG KHÓAN PHỐ WALL Chiến lược khách hàng. Phổ cập kiến thức, nâng cao nhận thức cho công chúng đầu tư về thị trường chứng khoán.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status