Chuyên đề thực tập
mở đầu
***
Một trong những đặc trng của thị trờng chứng khoán là hoạt động theo
nguyên tắc trung gian. Theo nguyên tắc này, các giao dịch trên thị trờng chứng
khoán bắt buộc phải đợc thực hiện qua công ty chứng khoán và nhân viên môi
giới chứng khoán. Chỉ có nh vậy mới đảm bảo cho các chứng khoán đợc giao
dịch là chứng khoán thực và hợp pháp, bảo vệ lợi ích của nhà đầu t, duy trì hoạt
động lành mạnh của cả thị trờng.
Môi giới chứng khoán là hoạt động nghiệp vụ mang tính nhà nghề cao,
đòi hỏi đặc biệt về kỹ năng, nghiệp vụ, chất lợng, đạo đức, đồng thời đỏi hỏi
một môi trờng hỗ trợ tơng đối phức tạp ( về tổ chức, pháp luật, thiết bị, văn hoá,
xã hội) . Thị trờng chứng khoán phát triển trình độ cao là tiền đề để hoạt động
môi giới có thể đảm nhận tốt chức năng cung cấp các dịch vụ và sản phẩm tài
chính. Ngợc lại, trong một thị trờng tài chính còn thô sơ, sự xuất hiện và phát
triển hoạt động môi giới chứng khoán sẽ là nhân tố thúc đẩy sự phát triển và
hoàn thiện thị trờng chứng khoán nói riêng và thị trờng tài chính nói chung.
Cùng với sự ra đời của thị trờng chứng khoán Việt Nam, các công ty
chứng khoán cũng đợc thành lập và đi vào hoạt động. Môi giới chứng khoán là
nghiệp vụ cơ bản mà hầu hết mọi công ty chứng khoán đều tham gia song mới ở
mức độ rất thấp và không có sự gắn kết quyền lợi, trách nhiệm với nhau và với
khách hàng. Nghiệp vụ môi giới của các công ty chứng chứng khoán Việt Nam
hiện nay cha thực sự đúng với nghiệp vụ môi giới vẫn thờng thấy trên các thị tr-
ờng chứng khoán thế giới. Để thu hút đợc đông đảo nhà đầu t và trở thành một
hoạt động dịch vụ có uy tín và chất lợng, hoạt động môi giới sẽ phải thay đổi và
phát triển hơn nữa. Nhận thức đợc điều đó, sinh viên chọn đề tài: Giải pháp
phát triển nghiệp vụ môi giới tại công ty chứng khoán Việt Nam
Mục đích nghiên cứu của chuyên đề
Trần Thị Ngọc Anh- Tài chính doanh nghiệp- K41-KTQD
Chuyên đề thực tập
- Chuyên đề cố gắng đi sâu nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận , phơng
nghiệm các nớc với t duy khoa học, khách quan và thực tiễn để đề xuất kiến
nghị những định hớng phát triển hoạt động môi giới chứng khoán ở Việt Nam.
Kết cấu chuyên đề: Ngoài lời mở đầu, Mục lục, Tài liệu tham khảo, Chuyên
đề gồm có ba phần chính chính:
Chơng I: Công ty chứng khoán và nghiệp vụ môi giới chứng khoán
Chơng II: Thực trạng nghiệp vụ Môi giới chứng khoán của các CtyCK tại
Việt Nam
Chơng III: Giải pháp phát triển nghiệp vụ môi giới chứng khoán của các
CtyCK tại Việt Nam.
Em xin chân thành cám ơn sự hớng dẫn, giúp đỡ và chỉ bảo tận tình của
thầy giáo Hoàng Xuân Quế, ông Trần Hoài Nam- Trởng phòng quản lý kinh
doanh chứng khoán cùng các cô, chú cán bộ, chuyên viên của Vụ Quản lý kinh
doanh chứng khoán Uỷ ban chứng khoán Nhà nớc để em có thể hoàn thành
tốt chuyên đề này.
ch ơng I
Công ty chứng khoán
và
Trần thị ngọc anh- Tài chính doanh nghiệp- K41-KTQD
3
Chuyên đề thực tập
Nghiệp vụ môi giới chứng khoán
1.1 Khái quát về công ty chứng khoán
1.1.1 Khái niệm và phân loại công ty chứng khoán
1.1.1.1 Khái niệm
Công ty chứng khoán(CtyCK ) là định chế tài chính trung gian trên thị tr-
ờng chứng khoán(TTCK). CtyCK là một tổ chức đợc Uỷ ban Chứng khoán Nhà
nớc cấp phép hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực chứng khoán, có t cách pháp
nhân, có vốn riêng và thực hiện chế độ hạch toán kinh tế độc lập. Nh vậy,
ctyCK thực chất là một doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp chứng khoán,
các nghiệp vụ chính của nó là phát hành, kinh doanh, môi giới, t vấn và quản lý
yếu thực hiện nghiệp vụ tự doanh, có nghĩa là tự bỏ vốn và tự chịu
trách nhiệm về hậu quả kinh doanh.
- Công ty giao dịch phi tập trung: Là công ty chứng khoán hoạt
động chủ yếu trên thị trờng OTC và họ đóng vai trò là nhà tạo thị
trờng.
- Công ty môi giới chứng khoán : Là công ty chứng khoán chỉ thực
hiện việc trung gian mua bán chứng khoán cho khách hàng để h-
ởng hoa hồng.
Trải qua quá trình hàng trăm năm, tơng thích với sự phát triển của thị
trờng( số lợng và chủng loại khách hàng, số lợng và chủng loại sản phẩm
dịch vụ tài chính), các công ty môi giới chứng khoán đợc hình thành và phát
triển theo hớng rất đa dạng, cả về phơng diện quy mô, địa bàn hoạt động
cũng nh tính chất hoạt động. Công ty môi giới có thể phân loại theo nhiều
tiêu thức khác nhau nh:
a) Phân loại theo phạm vi hoạt động
Công ty tầm quốc gia
Theo tài liêu của thị trờng Mỹ, các công ty tầm quốc gia là công ty
thành viên của NYSE. Trong tổng số 77000 nhân viên môi giới của công ty
này, 70% làm việc cho một trong số 11 hãng bán lẻ lớn nhất. Đa số các hãng
quốc gia của NYSE đều có chung đặc điểm sau:
- Cung cấp các sản phẩm đầu t cả gói, bao gồm các công cụ của quỹ
tơng hỗ, bảo hiểm nhân thọ, các khoản niên kim, các đơn vị đầu t
quỹ tín thác và những công ty hợp danh hữu hạn.
- Có năng lực nghiên cứu mạnh, với đội ngũ đông đảo chuyên gia
phân tích theo dõi hàng trăm công ty, trong đó có những công ty
quốc gia nổi tiếng đồng thời cả những công ty vừa đầy triển vọng.
Ngời đầu t có đợc những ngời môi giới thuộc những công ty môi
Trần thị ngọc anh- Tài chính doanh nghiệp- K41-KTQD
5
Chuyên đề thực tập
chóng hơn, do hội sở đặt ngay tại khu vực.
Trần thị ngọc anh- Tài chính doanh nghiệp- K41-KTQD
6
Chuyên đề thực tập
- Nghiên cứu khu vực. Các hãng tầm khu vực có xu hớng tập trung
vào những cổ phiếu trong phạm vi khu vực mình, mà công ty tầm
quốc gia thờng hay bỏ qua.
Công ty cổ phiếu nhỏ
Đây là những công ty chuyên làm ăn với những cổ phiếu có giá thấp, dới
5$ một cổ phiếu. Những công ty này thờng giao dịch những cổ phiếu có rủi ro
cao hơn so với những công ty khác. Lợi thế của cổ phiếu này là nếu nó diễn
biến tốt thì lợi nhuận cho một nhà đầu t là rất lớn. Song để hoạt động thành
công, các công ty này cũng đã trải qua khá nhiều thất bại. Bất lợi của công ty
này là năng lực nghiên cứu cũng nh chủng loại đầu t của họ rất hạn chế, ngời
môi giới ít đợc đào tạo hơn.
Các hãng chuyên phục vụ các định chế
Các hãng này theo truyền thống thờng phục vụ cho các định chế lớn, nh
các ngân hàng, các công ty bảo hiểm, quỹ hu trí... và những công ty khác quản
lý khối lợng tài sản lớn. Các hãng này cung cấp những kết quả nghiên cứu đầu
t và dịch vụ t vấn tinh vi, cung cấp cả những dịch vụ ngân hàng đầu t, kể cả việc
bảo lãnh phát hành chứng khoán, sáp nhập và thâu tóm.
Trên NYSE, có 80% cổ phiếu thờng là do các nhà đầu t cá nhân nắm giữ.
Tuy nhiên các định chế vẫn thống trị giao dịch- chiếm 2/3 tổng khối lợng giao
dịch. Trong những ngày mà khối lợng giao dịch lên tới 200 triệu cổ phiếu thì
gần 133 triệu trong đó là do các định chế giao dịch. Lợi thế của những công ty
này là với khối lợng giao dịch lớn, mức giảm giá là đáng kể; hoạt động nghiên
cứu mang tính nhà nghề cao với những báo cáo rất chi tiết.
b) Phân loại theo dịch vụ cung cấp
Công ty môi giới giảm giá
Hoạt động của công ty này chủ yếu là giúp khách hàng thực hiện các
sở ngắn hạn. Các nhà giao dịch năng động có thể đảo danh mục
đầu t của họ mỗi tháng một lần. Nếu sử dụng dịch vụ đầy đủ, chi
phí giao dịch của họ trong 12 tháng là một số khổng lồ( Chẳng hạn
với mức phí 2% cho một giao dịch, mỗi lần họ thay đổi một chứng
khoán, họ mất 2% cho việc bán ra và 2% cho việc mua vào, tức là
4% trong một tháng, và 48% một năm). Sử dụng dịch vụ môi giới
giảm gía sẽ tiết kiệm đợc rất nhiều chi phí giao dịch.
Những nhà đầu t chỉ giao dịch một lần. Nếu một ngời nhận đợc
món quà hay đợc thừa kế và muốn bán nó đi, ngời đó cần sử dụng
một công ty môi giới giảm gía để giúp tiến hành giao dịch, bởi
Trần thị ngọc anh- Tài chính doanh nghiệp- K41-KTQD
8
Chuyên đề thực tập
giao dịch này không đòi hỏi những dịch vụ đặc biệt hay lời khuyên
từ ngời môi giới.
Công ty môi giới dịch vụ đầy đủ
Công ty này cung cấp một dải dịch vụ hoàn hảo, từ việc đa ra kết quả
nghiên cứu, phân tích, cho lời khuyên đến việc theo dõi tài khoản và kịp thời đa
ra những khuyến nghị cần thiết cho khách hàng. Ngời môi giới dịch vụ đầy đủ
sẵn sàng trả lời mọi câu hỏi và giúp khách hàng giải quyết các vấn đề phát sinh.
Ngoài việc đa ra lời khuyên, ngời môi giới dịch vụ đầy đủ còn chào nhiều dịch
vụ khác không có đợc ở ngời môi giới giảm giá.
Những ngời đầu t sử dụng ngời môi giới dịch vụ đầy đủ là:
Những ngời luôn đánh giá cao sự thuận tiện của việc luôn luôn có sẵn một
cố vấn chuyên nghiệp hớng dẫn những quyết định mua bán của họ. Họ
thừa nhận những những hạn chế của bản thân trên thị trờng đầu t phức tạp
và coi ngời môi giới là các chuyên gia công nghiệp, ngời có thể giúp cho
các khoản đầu t của họ không ngừng lớn lên.
Những ngời đánh giá cao sự quan tâm cá nhân của một ngời môi giới dịch
vụ đầy đủ, muốn có một ngời môi giới luôn để mắt đến tài khoản của mình,
Mô hình ngân hàng đa năng một phần. Trong mô hình này, ngân hàng
muốn kinh doanh chứng khoán phải thành lập công ty con, có t cách pháp nhân
độc lập, do vậy loại bỏ đợc nhợc điểm của mô hình đa năng toàn phần, tạo sự
độc lập tơng đối giữa hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanh chứng
khoán. Tuy nhiên nó có nhợc điểm là tạo sự trùng chéo về tổ chức, làm giảm
hiệu quả hoạt động của các ngân hàng. Mô hình này đợc áp dụng tại Vơng quốc
Anh, Canada và úc.
Mô hình công ty chứng khoán độc lập ( chuyên doanh). Mô hình này
tách biệt hoàn toàn hai ngành công nghiệp ngân hàng và chứng khoán với việc
cấm ngân hàng tham gia hoạt động kinh doanh chứng khoán. Hoạt động chỉ
dành cho công ty chứng khoán chuyên doanh đảm nhận. Ưu điểm của mô hình
này là hạn chế rủi ro cho cả hệ thống ngân hàng và thị trờng chứng khoán. Mô
hình này đợc áp dụng tại Mỹ theo đạo luật Glass-Steagall và ở Nhật. Tuy nhiên,
mô hình công ty chứng khoán chuyên doanh làm giảm sự cạnh tranh trong hệ
thống tài chính, đồng thời làm lãng phí tiềm lực về tài chính và uy tín của các
ngân hàng trong việc trợ giúp thị trờng chứng khoán phát triển. Hiện nay, các n-
ớc áp dụng mô hình này cũng đang chuyển sang mô hình đa năng một phần
bằng cách nới lỏng các điều kiện cho phép các ngân hàng tham gia thị trờng
chứng khoán.
Các phân tích trên cho thấy, mỗi mô hình đều có u nhợc điểm riêng và
không có mô hình nào là tối u đối với một quốc gia. Với các nớc phát triển, trên
Trần thị ngọc anh- Tài chính doanh nghiệp- K41-KTQD
10
Chuyên đề thực tập
cơ sở các điều kiện thuận lợi về hạ tầng kỹ thuật, môi trờng pháp lý, kinh
nghiệm tổ chức quản lý và trình độ nhận thức cũng thu nhập của công chúng
cao, có thể áp dụng mô hình ngân hàng đa năng toàn phần sẽ phát huy đợc
những u thế của sự kết hợp giữa hai lĩnh vực kinh doanh này với nhau. Song đối
với các nớc đang phát triển, mô hình ngân hàng đa năng một phần lại đảm bảo
sự an toàn cần thiết cho hoạt động của các ngân hàng và của thị trờng chứng
- Giao dịch gián tiếp: tức là công ty chứng khoán đặt lệnh mua và
bán của mình trên sở giao dịch, lệnh của họ có thể thực hiện với
bất kỳ khách hàng nào xác định trớc.
- Giao dịch trực tiếp: là giao dịch giữa công ty chứng khoán và
khách hàng thông qua thơng lợng. Đối tợng giao dịch loại này th-
ờng là các loại trái phiếu, các cổ phiếu đăng ký giao dịch ở thị tr-
ờng OTC.
Luật các nớc quy định các công ty chứng khoán phải dành một tỷ lệ phần
trăm nhất định giao dịch của mình cho hoạt động bình ổn thị trờng. Các công ty
có nghĩa vụ mua vào khi giá chứng khoán lên để kìm giá và phải bán ra khi giá
chứng khoán giảm nhằm giữ giá chứng khoán.
c) Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành
Bảo lãnh phát hành là việc các tổ chức bảo lãnh giúp tổ chức phát hành thực
hiện các thủ tục trớc và sau khi chào bán chứng khoán nh định giá chứng khoán,
phân phối chứng khoán và bình ổn giá chứng khoán trong giai đoạn đầu.
Để đợc tham gia vào nghiệp vụ bảo lãnh, công ty chứng khoán phải có một
số vốn tơng đối lớn. Đây là hoạt động mang tính rủi ro khá cao, vì thế công ty
chứng khoán phải thực hiện một loạt các nghiên cứu kỹ lỡng trớc khi quyết
định có hay không chấp nhận bảo lãnh.
Thu nhập của công ty chứng khoán từ hoạt động bảo lãnh là phí bảo lãnh
hoặc một tỷ lệ hoa hồng nhất định trên số tiền thu đợc từ đợt phát hành. Mức
phí này tuỳ thuộc vào tính chất của đợt phát hành ( số lợng lớn hay nhỏ, thuận
lợi hay khó khăn,phát hành lần đầu hay phân phối sơ cấp, ...)
Có 3 phơng pháp bảo lãnh là bảo lãnh cam kết tối đa, bảo lãnh cam kết chắc
chắn và bảo lãnh cam kết tất cả hoặc không. Bảo lãnh cam kết tối đa là việc tổ
chức bảo lãnh cam kết phân phối tối đa số chứng khoán của tổ chức phát hành
mà không cam kết có phân phối đợc hết số chứng khoán đó hay không. Trong
trờng hợp này, tổ chức phát hành có thể gặp rủi ro do không huy động đủ vốn
kinh doanh.
Trần thị ngọc anh- Tài chính doanh nghiệp- K41-KTQD
qua việc mua bán và nắm giữ các chứng khoán theo uỷ thác và vì quyền lợi của
khách hàng.
Trần thị ngọc anh- Tài chính doanh nghiệp- K41-KTQD
13
Chuyên đề thực tập
Đối với nghiệp vụ này, khách hàng uỷ thác cho công ty thay mặt mình quyết
định đầu t theo một chiến lợc hay những nguyên tắc đã đợc khách hàng chấp
thuận
Trong hoạt động quản lý danh mục đầu t, các trung gian tài chính đảm bảo sự
tách biệt giữa tài sản của khách hàng. Tuỳ theo sự tín nhiệm của khách hàng đối
với công ty mà họ có thể ủy quyên một phần hoặc toàn bộ đối với việc quản lý
tài sản. Định kỳ hoặc theo yêu cầu khách hàng, công ty gửi các bản sao kê về
tình hình tài sản trong danh mục cho các khách hàng , đồng thời không đợc tiết
lộ các thông tin về tài sản của khách hàng trừ các trờng hợp đặc biệt.
Trong họat động quản lý danh mục đầu t, công ty chứng khoán sẽ nhận đợc lệ
phí quản lý tài sản từ phía khách hàng. Hoạt động này cũng góp phần tăng uy
tín và phát triển các hoạt động khác nh lu ký, thanh toán, t vấn.
1.1.3.2 Các nghiệp vụ phụ trợ
a) Nghiệp vụ tín dụng
Công ty chứng khoán có thể cho khách hàng của mình vay để họ mua
chứng khoán và thế chấp chính những chứng khoán đó. Khi khách hàng không
trả đợc nợ, công ty có quyền bán các chứng khoán đó để thu hồi khoản vay.
Giao dịch mua bán với số tiền cho vay này đợc thực hiện trên tài khoản bảo
chứng. Quy trình thực hiện mua bán không khác các giao dịch công ty thực hiện
cho khách hàng trên tài khoản giao dịch.
Rủi ro sẽ xảy ra đối với công ty chứng khoán nếu chứng khoán đợc mua
từ tiền vay giảm giá. Vì thế công ty chứng khoán khi mở tài khoản bảo chứng
cho khách hàng đòi hỏi một tỷ lệ ký quỹ nhất định. Ngoài ra, công ty cũng đa
sách lợc quản lý khoản vay, tránh tập trung vào một loại khách hàng để thu hồi
vốn.
còn có thể trở thành tác nhân giúp ổn định thị trờng nếu các giao dịch này đi
ngợc chiều với xu hớng biến động giá. Tuy nhiên, việc thực hiện các giao dịch
này chứa rủi ro rất lớn cho nhà đầu t và các chủ thể liên quan nh công ty chứng
khoán. Vì vậy, nhiều thị trờng chứng khoán hiện nay vẫn nghiêm cấm các giao
dịch này.
Ngoài các nghiệp vụ nêu trên, công ty chứng khoán còn thực hiện các
nghiệp vụ khác nh: Quản lý quỹ đầu t, quản lý vốn, kinh doanh bảo hiểm.v.v...
1.2 Nghiệp vụ môi giới của công ty chứng khoán
1.2.1 Bản chất và vai trò của nghiệp vụ môi giới chứng
khoán
1.2.1.1 Bản chất và đặc điểm nghiệp vụ
Thị trờng tài chính là một thể chế đợc thiết lập để các dịch vụ tài chính đ-
ợc tạo ra và trao đổi, các chứng khoán đợc mua bán.Trên thị trờng đó, các nhà
đầu t, đầu cơ chứng khoán tập trung mua bán chứng khoán. Khác với các giao
dịch trao đổi hàng hoá khác, giao dịch trên thị trờng này bắt buộc phải đợc thực
hiện qua các công ty chứng khoán và nhân viên môi giới chứng khoán.
Môi giới chứng khoán là hoạt động trung gian hoặc đại diện mua bán
chứng khoán cho khách hàng để hởng hoa hồng. Nghề môi giới xuất hiện cùng
với sự xuất hiện của thị trờng chứng khoán và thờng đợc xem là đặc quyền của
công ty chứng khoán.
Trên thực tế, không chỉ trên thị trờng chứng khoán mới có hoạt động môi
giới. Với t cách là khâu trung gian thúc đẩy quá trình lu thông hàng hoá, nghề
môi giới từ lâu đã tồn tại trong nền kinh tế hàng hoá. Song trên thị trờng chứng
khoán, hoạt động môi giới chứng khoán không chỉ đơn thuần là khâu đa sản
phẩm, dịch vụ từ ngời bán đến ngời mua. Do hàng hoá đợc mua bán trên thị tr-
ờng này là các tài sản tài chính vì vậy đòi hỏi công ty chứng khoán và ngời môi
Trần thị ngọc anh- Tài chính doanh nghiệp- K41-KTQD
15
Chuyên đề thực tập
giới chứng khoán những đặc điểm về tổ chức và vận hành, những phẩm chất kỹ
thực hiện giao dịch theo yêu cầu của họ.
Trần thị ngọc anh- Tài chính doanh nghiệp- K41-KTQD
16
Chuyên đề thực tập
Cung cấp thông tin và t vấn cho khách hàng
Công ty môi giới thông qua các nhân viên bán hàng cung cấp cho khách
hàng các báo cáo nghiên cứu và khuyến nghị đầu t. Mặc dù t vấn đầu t có thể là
một chức năng riêng, với những yêu cầu về pháp lý và nghiệp vụ riêng, song
trong khuôn khổ hoạt động môi giới chứng khoán với t cách là một nguồn cung
cấp dịch vụ đầy đủ, hàm lợng t vấn là rất đáng kể. Trên thị trờng phát triển,
ngời môi giới luôn là ngời nhận đợc thông tin mới nhất từ khắp nơi trên thế giới
liên quan đến cổ phiếu của khách hàng. Ngời môi giới có thể cung cấp các
thông tin tài chính liên tục đợc cập nhật về lãi suất, tin kinh tế và thông tin thị
trờng đồng thời họ có thể đa ra những khuyến nghị cụ thể về loại chứng khoán
cần mua bán.
Cũng nhờ thông tin đợc thu thập và xử lý công phu tốn kém này, ngời
môi giới có đủ tri thức để trở thành nhà t vấn tài chính riêng của khách hàng.
Khi thị trờng đã phát triển đợc một cơ sở hàng hoá phong phú, những trung gian
tài chính và những công cụ phái sinh đem đến những sản phẩm mới đợc cải
thiện về chất lợng so với những công cụ thông thờng, thì vai trò của ngời môi
giới càng quan trọng. Ngoài việc đề xuất với khách hàng những chứng khoán
và dịch vụ đơn thuần, ngời môi giới còn có thể giới thiệu với khách hàng những
cổ phiếu, trái phiếu mới phát hành, và quan trọng hơn là đề xuất một cách thức
kết hợp các chứng khoán đơn lẻ trong một danh mục đầu t để giảm thiểu rủi ro
và tăng tối đa lợi nhuận.
Để giúp khách hàng đa ra quyết định đầu t, ngời môi giới sẽ xem xét các
yếu tố nh hệ số giá/ thu nhập; hình mẫu dự đoán thu nhập và giá; tình trạng
chung của nhóm ngành của cổ phiếu, và trạng thái tổng thể của thị trờng. Với
một lợng thông tin khổng lồ và tốn kém trong xử lý và thu thập thì có thể nói
khuyến nghị của ngời môi giới là lợi ích vô cùng đáng giá đối với khách hàng.
đợc chuyên môn hoá theo loại hình dịch vụ đầy đủ hoặc công ty giảm giá.
Đặc điểm nghiệp vụ
Môi giới là nghiệp vụ cơ bản của công ty chứng khoán. Nghiệp vụ môi
giới có ý nghĩa quan trọng trong việc thu hút khách hàng và tạo dựng hình ảnh
cho công ty. Nghiệp vụ này có những đặc điểm cơ bản sau:
Để thực hiện lệnh của khách hàng đợc đầy đủ , nhanh và chính xác
nhất đòi hỏi công ty phải có đội ngũ hỗ trợ nghiệp vụ về cả con ngời
và máy móc lớn. Ngời môi giới phải là ngời đã trải qua các kỳ thi sát
hạch, có tầm hiểu biết sâu rộng và đợc UBCK cấp giấy phép hành
nghề. Công ty chứng khoán là nơi đảm bảo các điều kiện vật chất bao
gồm: Điạ điểm, hệ thống máy móc thiết bị nối mạng với Sở giao dịch
v.v...
Trần thị ngọc anh- Tài chính doanh nghiệp- K41-KTQD
18
Chuyên đề thực tập
Độ rủi ro thấp vì khách hàng phải chịu trách nhiệm đối với kết quả mà
giao dịch đem lại. Rủi ro mà nhà môi giới thờng gặp là trờng hợp
khách hàng hoặc nhà môi giới khác không thực hiện đúng nghĩa vụ
thanh toán đúng thời hạn. Tuy nhiên với quy định về ký quỹ, rủi ro
này đã đợc giới hạn.
Thu nhập từ phí khá ổn định. Với t cách đại lý, công ty chứng khoán
hởng một tỷ lệ phần trăm hoa hồng tính trên tổng giá trị giao dịch.
Khoản hoa hồng sau khi đã trừ đi các chi phí giao dịch chính là nguồn
thu nhập của công ty. Nhìn chung, thu nhập này ít biến động mạnh và
chiếm tỷ lệ khá cao trong tổng thu nhập của công ty. ở một số thị tr-
ờng chứng khoán phát triển, tỷ lệ hoa hồng này do công ty ấn định, do
vậy làm tăng tính cạnh tranh của các công ty chứng khoán.
1.2.1.2 Vai trò của hoạt động môi giới chứng khoán.
Trong phần trên đã đề cập tới chức năng và đặc điểm của môi giới chứng
khoán. Qua đó ta cũng nhận thấy đợc vai trò hết sức quan trọng của nghiệp vụ
thành công của công ty, nhờ đó mà thu nhập của công ty cũng tăng lên rõ rệt.
Vào những năm 1970 ở Mỹ, hãng môi giới Merrill Lynch đã hiểu đợc tầm quan
trọng của việc tìm hiểu nhu cầu khách hàng và giao nhiệm vụ cho Viện nghiên
cứu Standford phải tìm biết khách hàng cần những dịch vụ tài chính gì trong
những năm 1980. Sau khi phát hiện nhu cầu của khách hàng là quyền tiếp cận
tổng thể tới tài sản của họ và khách hàng cần lập kế hoạch tài chính, Merrill đã
tạo ra tài khoản quản lý tiền mặt đầu tiên và sau đó tài khoản tiếp cận vốn tự có.
Công ty này đã vợt lên đối thủ cạnh tranh với hơn 550 tỷ đô la tài sản của khách
hàng trong năm 1994. Rõ ràng là, nhờ hoạt động tiếp thị tới khách hàng và
mang đến cho khách hàng những gì họ cần, các công ty chứng khoán đã làm đa
dạng hoá sản phẩm và dịch vụ của thị trờng.
Trong thị trờng mới nổi, hàng hoá và dịch vụ còn nghèo nàn, đơn điệu thì
hoạt động môi giới chứng khoán có vai trò quan trọng cải thiện môi trờng này.
Môi trờng đầu t đa dạng về sản phẩm, với chi phí giao dịch thấp và có lợi nhuận
thỏa đáng sẽ thu hút đợc nguồn vốn nhàn rỗi cho tăng trởng.
Thứ ba, môi giới chứng khoán với chức năng, đặc điểm riêng có của
mình đã góp phần hình thành nền văn hoá đầu t.
Trong những nền kinh tế mà môi trờng đầu t còn thô sơ thì ngời dân cha
có thói quen sử dụng số tiền nhàn rỗi của mình để đầu t vào các tài sản tài chính
để kiếm lời trong khi đó thì vốn cho tăng trởng trong nền kinh tế lại thiếu trầm
trọng. Để thu hút công chúng đầu t, ngời môi giới tiếp cận với khách hàng tiềm
năng và đáp ứng nhu cầu của họ bằng các sản phẩm tài chính phù hợp, cung cấp
Trần thị ngọc anh- Tài chính doanh nghiệp- K41-KTQD
20
Chuyên đề thực tập
cho khách hàng những kiến thức, thông tin cập nhật để thuyết phục khách hàng
mở tài khoản. Khi ngời có tiền nhàn rỗi thấy đợc lợi ích thiết thực từ sản
phẩm đem lại, họ sẽ đầu t. Hoạt động này lâu dần sẽ giúp cho họ có đợc những
hiểu biết, kinh nghiệm cũng nh hình thành kỹ năng dự đoán, lựa chọn và phối
hợp các sản phẩm với nhau để giảm thiểu rủi ro. Nhờ đó, nhà đầu t có thể thu
đợc một lĩnh vực thu hút nhiều lao động có kỹ năng, hình thành các dịch vụ mới
, làm phong phú thêm môi trờng kinh doanh.
1.2.2 Quy trình giao dịch
Mở tài khoản cho khách hàng
Khách hàng muốn giao dịch thông qua công ty chứng khoán đợc yêu cầu
mở tài khoản tại công ty đó. Công ty hớng dẫn thủ tục mở tài khoản, điền
thông tin vào giấy mở tài khoản bao gồm các thông tin theo luật quy định và
thông tin công ty yêu cầu thêm. Thông tin yêu cầu có thể bao gồm: Họ và tên;
địa chỉ chỗ ở và số điện thoại; nghề nghiệp, nơi làm việc, số điện thoại công
việc...Một số công ty yêu cầu thông tin chi tiết nh: Thu nhập hàng năm và giá
trị tài sản thực tế, số con và tuổi của chúng, các tài khoản ở công ty môi giới
khác. Bộ phận quản lý tài khoản khách hàng của công ty phải kiểm tra tính
chính xác của thông tin, đồng thời trong quá trình hoạt động của tài khoản,
những thay đổi trong thông tin cũng cần đợc cập nhật. Việc kiểm soát các thông
tin khách hàng rất cần thiết do công ty chứng khoán đang kiểm soát tài sản của
khách hàng, những sơ suất có thể dẫn đến kiện tụng, bị cơ quan điều hoà thị tr-
ờng khiển trách, bị mất uy tín.
Tài khoản giao dịch hiện nay có thể phân chia thành nhiều loại khác nhau
nh:
Tài khoản tiền mặt. Đây là tài khoản mà các khoản thanh toán phát sinh
sẽ đợc thực hiện bằng tiền mặt. Để mở tài khoản này khách hàng phải xuất trình
giấy tờ tuỳ thân hợp lệ.
Đối với tài khoản này thờng các công ty chứng khoán yêu cầu khi mua
chứng khóan, khách hàng phải thanh toán bằng tiền mặt không chậm hơn ngày
thanh toán ( thờng là trong vòng T+x ngày làm việc kể từ khi diễn ra giao dịch).
Do đó, khi thực hiện nghiệp vụ mua chứng khoán, khách hàng phải chuẩn bị
tiền đầy đủ trên tài khoản để thanh toán trớc hoặc trả đúng vào thời điểm trong
ngày than toán theo quy định của công ty chứng khoán.
Tài khoản lu ký (Margin account) . Là tài khoản mà qua đó khách hàng
có thể vay tiền công ty để mua chứng khoán. Để đợc mở tài khoản này, khách
đợc tên, địa chỉ và tất cả chữ ký của thành viên hợp pháp trên tài khoản. Đồng
thời cần có một văn bản xác nhận sự thoả thuận giữa các thành viên về sự liên
hợp hoạt động.
Tài khoản uỷ thác(Fiduciary accuont). Đây là loại tài khoản sẽ uỷ thác
cho một ngời nào đó đợc hành động hợp pháp với danh nghĩa của mình.
Trần thị ngọc anh- Tài chính doanh nghiệp- K41-KTQD
23
Chuyên đề thực tập
Ngoài ra còn có các tài khoản nh : tài khoản lu trữ cho ngời cha đến tuổi
trởng thành; tài khoản giao dịch quyền lựa chọn; tài khoản đánh số hoặc ghi mã
số. Tóm lại, về nội dung sử dụng có hai tài khoản chính là tài khoản tiền mặt và
tài khoản ký quỹ, còn các tài khoản khác chỉ khác nhau về hình thức. Chính sự
đa dạng của các tài khoản cung cấp cho khách hàng của công ty đã thu hút đợc
đông đảo các nhà đầu t và cho phép họ lựa chọn loại tài khoản thuận tiện cho
giao dịch của mình.
Sau khi mở tài khoản, công ty chứng khoán sẽ cung cấp cho khách hàng
một mã số tài khoản và mã truy cập vào tài khoản để kiểm tra sau mỗi lần giao
dịch.
Nhận lệnh từ khách hàng
Đối với mỗi lần giao dịch, khách hàng phải phát lệnh theo mẫu in sẵn.
Lệnh giao dịch phải bao gồm đầy đủ các nội dung quy định do khách hàng
điền, đó là những điều kiện đảm bảo an toàn cho công ty cũng nh tạo điều kiện
cho khách hàng yên tâm khi phát lệnh. Việc ra lệnh có thể theo hình thức trực
tiếp hoặc gián tiếp qua điện thoại, telex, fax, hệ thống máy tính điện tử tuỳ
thuộc vào sự phát triển của thị trờng.
Mẫu lệnh phải bao gồm các thông tin sau:
1. Lệnh mua hay bán: Thông thờng từ mua hay bán không đợc
viết ra mà ngời ta dùng chữ cái B hoặc S .Một số công ty
chứng khoán sử dụng chứng khoán các mẫu có chữ Mua hay
Bán đợc in sẵn. Mẫu lệnh này có thể đợc in bằng hai màu mực
dịch của sở chứng khoán tơng ứng.
Nếu chứng khoán đợc mua bán là chứng khoán đợc niêm yết trên sở giao
dịch thì phiếu lệnh sẽ đợc chuyển tới nhà môi giới tại sàn, môi giới tại sàn
chuyển lệnh cho các chuyên viên của Sở, đến khi ghép lệnh chuyên viên thông
báo kết quả cho môi giới tại sàn. Từ đây, kết quả giao dịch đợc gửi về cho công
ty.
Với giao dịch trên thị trờng OTC, công ty sẽ tìm đến ngời tạo thị trờng có
giá hời nhất rồi báo giá trở lại cho khách hàng sau khi đã cộng vào giá một phần
chi phí giao dịch. Nếu đợc khách hàng chấp nhận, công ty sẽ tiến hành thơng l-
ợng với nhà tạo thị trờng.
Trần thị ngọc anh- Tài chính doanh nghiệp- K41-KTQD
25