Giải pháp phát triển hoạt động môi giới tại công ty cổ phần chứng khoán Vndirec - Pdf 88

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
- VNDS: Công ty cổ phần chứng khoán VNDirect
- TTCK: Thị trường chứng khoán
- TTGDCK: Trung tâm giao dịch chứng khoán
- SGDCK Tp. HCM: Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
- UBCKNN: Uỷ ban chứng khoán Nhà nước
- CTCK: Công ty chứng khoán
- DN: Doanh nghiệp
- NHCT: Ngân hàng công thương
- NĐT: Nhà đầu tư
- CTCP: Công ty cổ phần
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Sơ đồ 1.1: Vị trí của CTCK trên TTCK chính thức………………………….6
Sơ đồ 1.2: Quy trình hoạt động tự doanh tại công ty chứng khoán…………11
Sơ đồ 1.3: Quy trình hoạt động bảo lãnh phát hành………………………...12
Sơ đồ 1.4: Quy trình giao dịch chứng khoán………………………………..26
Sơ đồ 1.5: Hoạt động môi giới thông thường……………………………….27
Sơ đồ 1.6: Hoạt động môi giới lập giá………………………………………29
Bảng 2.1: Biểu phí giao dịch của VNDirect………………………………...48
Bảng 2.2: Mô hình tổ chức công ty VNDirect………………………………55
Hình 2.1: Tổng số tài khoản giao dịch sau mỗi tháng của VNDirect……….58
LỜI MỞ ĐẦU
Thị trường chứng khoán thế giới đã đi được một chặng đường dài, trải
qua biết bao thăng trầm, hình thức tổ chức từ đơn giản (thị trường chứng
khoán phi tập trung) đến hiện đại và hết sức chặt chẽ (thị trường chứng khoán
tập trung). Trong quá trình phát triển này, không thể phủ nhận vai trò của các
công ty chứng khoán. Với những nghiệp vụ của mình, đặc biệt là môi giới,
các công ty chứng khoán giúp rút ngắn khoảng cách giữa người mua và người
bán, giúp giảm thiểu rất nhiều những chi phí phát sinh không đáng có. Có thể
nói đây là một nghiệp vụ quan trọng của tất cả các công ty chứng khoán,

nay vẫn không ngừng phát triển và ngày càng khẳng định là một kênh huy
động vốn hữu hiệu của nền kinh tế. Khi thị trường chứng khoán còn sơ khai,
số lượng các nhà đầu tư tham gia thị trường còn ít, các nhà môi giới độc lập
đảm nhận việc trung gian giữa người mua và người bán. Thị trường chứng
khoán ngày càng phát triển, số lượng nhà đầu tư ngày càng nhiều, chức năng
và hoạt động giao dịch của nhà môi giới tăng lên đòi hỏi sự ra đời của công ty
chứng khoán, là sự tập hợp của các nhà môi giới riêng lẻ. Đây là một tổ chức
chuyên nghiệp trong lĩnh vực chứng khoán, họ sẽ giúp đỡ các chủ thể khác
thực hiện công việc mà không tốn kém nhiều thời gian, công sức, tiền bạc.
Như vậy, hiểu một cách chung nhất thì “công ty chứng khoán là
một tổ chức tài chính trung gian thực hiện các nghiệp vụ trên thị trường
chứng khoán’’.
Ở Việt Nam, theo Quyết định số 55/2004/QĐ-BTC ngày 17-6-2004 của
Bộ Tài Chính thì: “Công ty chứng khoán là công ty cổ phần, công ty trách
nhiệm hữu hạn thành lập theo pháp luật Việt Nam để kinh doanh chứng khoán
theo giấy phép kinh doanh chứng khoán do Ủy ban chứng khoán Nhà Nước
cấp”.
Sơ đồ 1.1: Vị trí của CTCK trên TTCK chính thức
(Nguồn: Trung tâm đào tạo Ủy ban chứng khoán Nhà nước)
1.1.1.2. Đặc điểm
• Công ty chứng khoán là trung gian tài chính:
- Tài sản của CTCK phần lớn là các chứng khoán. Những chứng
khoán này hình thành chủ yếu từ hoạt động tự doanh và bảo lãnh phát hành.
Nét đặc trưng của loại tài sản này là giá trị của chúng biến động một cách
thường xuyên theo giá chứng khoán trên thị trường. Sự biến động này tất yếu
sẽ tạo ra những rủi ro tiềm năng đối với CTCK. Do vậy, các chứng khoán
trong tài sản của CTCK phải có tính thanh khoản rất cao.
- Là một chủ thể kinh doanh, CTCK cũng tạo ra sản phẩm. Sản phẩm
của CTCK chính là các dịch vụ phục vụ các nhà đầu tư, các công ty cổ phần
và cả Chính phủ. Đặc trưng của loại sản phẩm này là tính thay đổi, dễ bị bắt

• Công ty chứng khoán là tổ chức kinh doanh có điều kiện:
Theo điều 62, Luật chứng khoán Việt Nam năm 2006, điều kiện cấp
Giấy phép thành lập và hoạt động của công ty chứng khoán bao gồm:
a) Có trụ sở; có trang bị, thiết bị phục vụ hoạt động kinh doanh chứng
khoán, đối với nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán và tư vấn đầu tư
chứng khoán thì không phải đáp ứng điều kiện về trang bị, thiết bị.
b) Có đủ vốn pháp định theo quy định của Chính phủ. Vốn pháp định
cho các nghiệp vụ kinh doanh của công ty chứng khoán, công ty chứng khoán
có vốn đầu tư nước ngoài, chi nhánh công ty chứng khoán nước ngoài tại Việt
Nam là:
- Môi giới chứng khoán: 25 tỷ đồng Việt Nam
- Tự doanh chứng khoán: 100 tỷ đồng Việt Nam
- Bảo lãnh phát hành chứng khoán: 165 tỷ đồng Việt Nam
- Tư vấn đầu tư chứng khoán: 10 tỷ đồng Việt Nam
Trường hợp công ty chứng khoán muốn thực hiện cấp giấy phép cho
nhiều nghiệp vụ kinh doanh, vốn pháp định là tổng số vốn pháp định tương
ứng với từng nghiệp vụ xin cấp phép.
c) Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và các nhân viên thực hiện nghiệp vụ
kinh doanh chứng khoán phải có Chứng chỉ hành nghề chứng khoán.
Trường hợp cổ đông sáng lập hoặc thành viên sáng lập là cá nhân phải
có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, không thuộc trường hợp đang phải chấp
hành hình phạt tù hoặc đang bị Toà án cấm hành nghề kinh doanh; trường hợp
là pháp nhân phải đang hoạt động hợp pháp và có đủ năng lực tài chính để
tham gia góp vốn. Các cổ đông sáng lập hoặc thành viên sáng lập phải sử
dụng nguồn vốn của chính mình để góp vốn thành lập công ty chứng khoán.
• Cơ cấu tổ chức:
- Trình độ chuyên môn hoá, phân cấp quản lý cao và rõ rệt. Các bộ phận
của một CTCK bao giờ cũng hoạt động độc lập với nhau và không phụ thuộc
lẫn nhau do các mảng hoạt động của các bộ phận là khác nhau như môi giới,
tự doanh, bảo lãnh phát hành, tư vấn… Do đó mức độ chuyên môn hoá và

hàng bình thường và hoàn toàn không biết đến các đối tác.
- Giao dịch trực tiếp: là giao dịch dựa trên mức giá thoả thuận giữa
công ty chứng khoán và các khách hàng. Hình thức giao dịch chủ yếu là qua
phương tiện thông tin hay gặp gỡ trực tiếp với khách hàng. Giao dịch gián
tiếp thường được thực hiện với các chứng khoán OTC.
Công ty chứng khoán còn được kinh doanh các nghiệp vụ khác ngoài
mua bán chứng khoán thông thường nhằm thu lợi nhuận cho chính mình như:
cho vay chứng khoán, repo chứng khoán, mua bán các công cụ chứng khoán
phái sinh… Khi thực hiện hoạt động tự doanh công ty phải tuân thủ các quy
định:
+ Tách biệt quản lý: công ty chứng khoán phải tách biệt giữa hoạt động
môi giới và hoạt động tự doanh nhằm tránh các xung đột lợi ích giữa công ty
và khách hàng. Sự tách biệt này bao gồm cả về yếu tố con người, quy trình
nghiệp vụ, vốn và tài sản của khách hàng, của công ty.
+ Ưu tiên lệnh của khách hàng trước: nguyên nhân chính của quy
định này là do các công ty chứng khoán là một tổ chức chuyên môn hoá trên
thị trường chứng khoán nên khả năng dự báo, nắm bắt và xử lý thông tin cao
hơn so với các khách hàng thông thường. Do đó các lệnh của khách hàng phải
được xử lý trước lệnh của công ty. Nguyên tắc này đảm bảo sự công bằng cho
các khách hàng trong quá trình giao dịch.
+ Bình ổn giá chứng khoán: hoạt động này cùng với hoạt động mua
bán cổ phiếu ngân quỹ của các công ty niêm yết nhằm bình ổn giá chứng
khoán. Luật các nước đều quy định các CTCK phải dành một tỷ lệ % nhất
định các giao dịch của mình (ở Mỹ là 60%) cho hoạt động bình ổn thị trường.
Các công ty chứng khoán phải có nghĩa vụ mua vào khi giá chứng khoán
giảm và bán ra khi giá chứng khoán tăng.
+ Tạo lập thị trưòng cho các chứng khoán: đóng vai trò là nhà tạo lập
thị trường (market maker) hay các nhà buôn chứng khoán, công ty sẵn sàng
mua và bán chứng khoán bất kì lúc nào nhằm tăng tính thanh khoản cho các
chứng khoán trên thị trường. Một lệnh của khách hàng đến mà không có

hội đầu tư
Thực hiện đầu tư
Quản lý đầu tư và thu hồi vốn
lãnh theo phương thức tất cả hoặc không, bảo lãnh theo phương thức tối thiểu
hoặc tối đa, bảo lãnh theo phương thức dự phòng.
Sơ đồ 1.3: Quy trình hoạt động Bảo lãnh phát hành
(Nguồn: Trung tâm đào tạo Ủy ban chứng khoán Nhà nước)
1.1.2.4. Quản lý danh mục đầu tư
Quản lý danh mục đầu tư là hoạt động quản lý nguồn tài sản uỷ thác
của nhà đầu tư để đầu tư vào chứng khoán thông qua danh mục đầu tư nhằm
Công ty chứng khoán
Nhận đơn yêu cầu bảo lãnh
Ký hợp đồng tư vấn quản lý
Đệ trình phương án bán
Lập nghiệp đoàn bảo lãnh phát hành, định
giá chứng khoán và ký hợp đồng bảo lãnh
Đơn xin bảo lãnh, nộp bản cáo bạch
Phân phát bản cáo bạch và phiếu
đăng ký mua chứng khoán
Đăng ký phát hành chứng khoán có hiệu lực
Phân phối chứng khoán trên
cơ sở phiếu đăng ký
Công ty
phát
hành
Uỷ
ban
chứng
khoán
Nhà

nghiệp khi muốn huy động vốn cho quá trình sản xuất. Nhưng sự hiểu biết về
các thủ tục liên quan, các lợi ích thu được, chi phí bỏ ra như thế nào thì không
phải là bất kỳ doanh nghiệp nào cũng có thể biết được. Và đó là công việc của
hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán. Với hoạt động tư vấn, CTCK cung cấp
thông tin, cách thức đầu tư, thời điểm đầu tư và quan trọng nhất là loại chứng
khoán đầu tư phù hợp với khách hàng. Thông thường hoạt động tư vấn đầu tư
chứng khoán luôn gắn liền với các hoạt động khác như môi giới, bảo lãnh
phát hành.
Hoạt động tư vấn chứng khoán được phân loại theo các tiêu chí sau:
+ Theo hình thức của hoạt động tư vấn: việc công ty chứng khoán tư
vấn cho khách hàng của mình có nhiều cách. Có thể chỉ là giải đáp các thắc
mắc của khách hàng thông qua các phương tiện thông tin liên lạc. Xong cũng
có những doanh nghiệp cần tư vấn trực tiếp.
+ Theo mức độ ủy quyền của tư vấn: việc tư vấn của CTCK với các
doanh nghiệp thường được chia làm nhiều mức độ tùy thuộc vào yêu cầu của
doanh nghiệp. Vậy đó là những mức độ nào: có thể bao gồm tư vấn bằng gợi
ý cách thức đầu tư; tư vấn theo hình thức ủy quyền của doanh nghiệp cho
CTCK.
+ Theo đối tượng của hoạt động tư vấn: được chia theo nhiều đối tượng
tham gia trên thị trường chứng khoán.
1.1.2.6. Các hoạt động phụ trợ
* Lưu ký chứng khoán
Là việc bảo quản, lưu trữ các chứng khoán của khách hàng thông qua
các tài khoản lưu ký chứng khoán tại công ty. Đây là quy định bắt buộc trong
giao dịch chứng khoán bởi vì giao dịch chứng khoán trên thị trường tập trung
là hình thức giao dịch ghi sổ, khách hàng phải mở tài khoản lưu ký chứng
khoán tại công ty chứng khoán (nếu chứng khoán phát hành dưới hình thức
ghi sổ) hoặc ký gửi các chứng khoán (nếu chứng khoán phát hành dưới hình
thức chứng chỉ vật chất). Khi thực hiện dịch vụ lưu ký chứng khoán cho
khách hàng, công ty chứng khoán sẽ phải thu phí lưu ký chứng khoán như:

khoán được phép thu phí quản lý quỹ đầu tư.
1.2. HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1.2.1. Khái niệm
Khi thị trường chứng khoán phát triển đến một mức độ nhất định, các
nhu cầu giao dịch chứng khoán của nhà đầu tư trở nên phức tạp và đòi hỏi
được chăm sóc kỹ lưỡng hơn; lượng người tham gia thị trường lại rất đông,
mỗi thị trường có hàng triệu người, hàng chục triệu người tham gia. Với con
số lớn như vậy, trong đó sự hiểu biết về thị trường là rất khác nhau, có những
người là chuyên gia, ngược lại cũng có rất nhiều người sự hiểu biết tối thiểu
để lựa chọn chứng khoán và thời cơ đầu tư cũng không có. Thực tế này đặt ra
yêu cầu phải có trung gian nhằm đảm bảo sự công bằng, bình đẳng giữa mọi
người, đảm bảo lợi thế ngang bằng trong giao dịch.
Với những thế mạnh về nghiệp vụ chuyên môn, về cách thức tiếp cận
các nguồn thông tin… thông qua hoạt động môi giới công ty chứng khoán có
thể cung cấp cho các nhà đầu tư những thông tin cần thiết, những ý tưởng đầu
tư, những lời khuyên và giúp cho người đầu tư thực hiện các giao dịch của
mình theo cách có lợi nhất. Trong nhiều trường hợp, hoạt động môi giới sẽ trở
thành những người bạn, người chia sẻ những lo âu, căng thẳng và đưa ra
những lời động viên kịp thời cho nhà đầu tư, giúp nhà đầu tư có những quyết
định tỉnh táo. Và đôi khi nhân viên môi giới còn là những người bạn của
khách hàng không chỉ trong đầu tư chứng khoán mà còn trong các lĩnh vực
khác nữa.
Hoạt động môi giới chứng khoán cũng hàm nghĩa nhiều nghiệp vụ khác
nhau. Môi giới thông thường là hoạt động mà nhân viên môi giới sẽ thực hiện
lệnh cho khách hàng và chỉ nhận phần phí hay hoa hồng được hưởng.
Nhân viên môi giới còn có hoạt động tạo lập thị trường. Đó là việc thực
hiện hỗ trợ việc duy trì một thị trường ổn định đối với mỗi loại chứng khoán
nhất định. Cụ thể như đối với một loại cổ phiếu khi có độ chênh lệch lớn giữa
giá mua và giá bán, người mua thì muốn mua chứng khoán với giá thấp hơn
nhiều so với giá mà những người bán chấp nhận. Khi đó nhân viên môi giới

theo nguyên tắc hay quy định nào. Còn đối với hoạt động tư vấn đầu tư tài
chính có sự quy định cụ thể rõ ràng trách nhiệm giữa các bên tham gia.
Như vậy môi giới được hiểu là hoạt động của công ty chứng khoán đại
diện mua và bán chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng.
1.2.2. Đặc điểm, vai trò của hoạt động môi giới
1.2.2.1. Đặc điểm
Khác với các hoạt động tài chính khác, môi giới có những đặc điểm
riêng biệt. Đó là:
- Hoạt động môi giới dẫn đến xung đột lợi ích giữa công ty chứng
khoán, người môi giới và khách hàng. CTCK làm trung gian giữa các nhà đầu
tư mua và bán chứng khoán, khi công ty chứng khoán tham gia vào việc kinh
doanh với mục tiêu cũng vì lợi nhuận, với khả năng xử lý thông tin và nghiệp
vụ chuyên môn, chắc chắn sẽ xảy ra mâu thuẫn giữa công ty và nhà đầu tư.
Do vậy, CTCK cần phải tách biệt giữa 2 hoạt động tự doanh và môi giới, tách
biệt giữa nguồn vốn của khách hàng với công ty; luôn phải đặt lợi ích của
khách hàng lên hàng đầu, nghĩa là cung cấp thông tin cho khách hàng một
cách trung thực, chính xác và kịp thời nhất; đảm bảo ưu tiên lệnh của khách
hàng.
- Đối với nhân viên môi giới, đạo đức nghề nghiệp luôn phải đặt lên
hàng đầu. Người môi giới không đơn giản chỉ là trung gian giao dịch mua bán
chứng khoán cho khách hàng, họ còn là người tư vấn, giải thích đúng đắn mọi
đặc điểm, tình hình, khuynh hướng biến động giá của mỗi loại chứng khoán,
họ có những lời khuyên giá trị bằng vàng cho nhà đầu tư. Giữa một người môi
giới và nhà đầu tư, lòng tin chính là nền tảng cho những lời tư vấn. Nếu chỉ vì
lợi ích cá nhân, nhân viên môi giới có thể lợi dụng kiếm lợi cho mình trước
khi cho khách hàng, xúi giục khách hàng mua, bán chứng khoán để kiếm hoa
hồng. Vì vậy, người môi giới cần phải tuân theo các quy tắc ứng xử và đạo
đức nghề nghiệp trong hoạt động môi giới. Đó là:
+ Phải cẩn trọng khi hành nghề: phải hiểu rõ khách hàng về thông tin cá
nhân cơ bản, về tình hình tài chính, mục tiêu đầu tư; trên cơ sở đó phải tư vấn

triển của nền kinh tế và cải thiện môi trường kinh doanh. Cụ thể hoạt động
môi giới có vai trò:
∗Đối với nhà đầu tư
- Góp phần làm giảm chi phí giao dịch
Do lợi thế chuyên môn hóa hoạt động trong ngành chứng khoán lên
hoạt động môi giới của các CTCK giúp giảm thiểu chi phí giao dịch. Chúng ta
thử cùng tìm hiểu một giao dịch. Cũng như bất kỳ một thị trường nào khi có
một giao dịch được diễn ra giữa người mua và người bán thì điều trước tiên là
họ phải gặp được nhau. Tiếp đến là các chi phí phát sinh, bởi khi muốn mua
một loại hàng hóa nào đó thì người mua cũng cần phải xác định xem mình
mua cái gì, mua như thế nào và mua lúc nào? Đó là những chi phí nảy sinh ra
và có nhiều khi nó cản trở các giao dịch được thực hiện. Còn ở trên thị trường
chứng khoán khi nhà đầu tư muốn giao dịch thì họ cũng cần phải có những
hiểu biết như thế về loại hàng hóa mà mình định mua. Nhưng TTCK là một
thị trường bậc cao và hàng hóa ở đây cũng đặc biệt, nó là hàng hóa tài chính.
Và do vậy mà việc thẩm định về chất lượng và giá cả của hàng hóa, người ta
cần đến một khoản chi phí khổng lồ để phục vụ cho việc thu thập, xử lý thông
tin, đào tạo kỹ năng phân tích. Những chi phí này không phải bất cứ một nhà
đầu tư nào cũng có thể có được. Và ở đây chỉ có những công ty chứng khoán
hoạt động chuyên nghiệp trên quy mô lớn mới có khả năng trang trải do được
hưởng lợi ích kinh tế nhờ quy mô lớn. Quá trình tìm kiếm đối tác giữa người
mua và người bán cũng được tỏ ra dễ dàng hơn khi có hoạt động môi giới.
Nhà đầu tư khi tham gia thị trường chứng khoán rất cần giảm thiểu những chi
phí về tìm kiếm thông tin và họ đã được giúp đỡ từ những sản phẩm của hoạt
động môi giới. Có thể nói hoạt động môi giới là người bạn không thể thiếu
được của các nhà đầu tư.
- Cung cấp thông tin và tư vấn cho khách hàng
Trên thị trường chứng khoán, thông tin đóng vai trò đặc biệt quan
trọng, nó góp phần ảnh hưởng tới giá cả của chứng khoán. Các nhân viên môi
giới thay mặt CTCK cung cấp cho khách hàng các thông tin liên quan đến

thời thông báo cho khách hàng mà có thể dẫn đến tình trạng thay đổi tài chính
và mức độ chấp nhận rủi ro của khách hàng để từ đó đưa ra những khuyến cáo
hay những chiến lược phù hợp.
∗Đối với công ty chứng khoán
Bất kỳ công ty chứng khoán nào cũng có đội ngũ nhân viên đông đảo.
Hoạt động của các nhân viên môi giới cũng đem lại nguồn thu nhập đáng kể
cho các công ty chứng khoán. Các kết quả nghiên cứu cho thấy, ở những thị
trường phát triển, 20% trong tổng số những nhà môi giới đã tạo ra 80% nguồn
thu từ hoa hồng cho ngành. Chính đội ngũ nhân viên này đã nâng cao khả
năng cạnh tranh của công ty, thu hút khách hàng, đa dạng hoá sản phẩm của
công ty, tạo nên uy tín, hình ảnh tốt của công ty nếu họ được khách hàng tín
nhiệm và uỷ thác tài sản của mình. Từ đó góp phần đem lại thành công cho
công ty.
∗Đối với thị trường
- Phát triển dịch vụ và sản phẩm trên thị trường
Trong quá trình hoạt động, nhân viên môi giới thường xuyên phải tiếp
xúc với khách hàng. Và cũng chính trong những hoạt động nghiệp vụ của
mình mà nhân viên môi giới có thể hiểu biết được tường tận những suy nghĩ
của những khách hàng. Đấy có thể là những thông tin quý báu dành cho công
ty hay các doanh nghiệp. Bởi khi một sản phẩm mới được hình thành và đưa
vào triển khai thì những thông tin phản hồi thường được thông qua các nhân
viên môi giới do tính chất làm việc thường xuyên tiếp xúc với khách hàng. Có
thể nói hoạt động môi giới chính là một trong những nguồn cung cấp những ý
tưởng thiết kế sản phẩm và dịch vụ theo yêu cầu của khách hàng. Kết quả của
quá trình đó, xét trong dài hạn, là cải thiện được tính đa dạng của sản phẩm và
dịch vụ, nhờ đó mà đa dạng hóa được cơ cấu khách hàng, thu hút được ngày
càng nhiều nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội cho đầu tư tăng trưởng.
- Cải thiện môi trường kinh doanh
+ Góp phần hình thành nền văn hoá đầu tư: Trong những nền kinh tế
mà môi trường đầu tư còn thô sơ thì người dân chưa có thói quen sử dụng số

mà môi giới tiến hành phân loại, lựa chọn các khách hàng mục tiêu. Từ đó tìm
cách tiếp xúc trao đổi với họ. Công việc này đòi hỏi rất nhiều thời gian và
công sức, nó đòi hỏi người môi giới tính kiên nhẫn rất cao.
- Bước 3: Tìm hiểu cụ thể nhu cầu, mục tiêu tài chính, khả năng chấp
nhận rủi ro…của khách hàng
Đây là giai đoạn đòi hỏi người môi giới cần vận dụng linh hoạt các kỹ
năng nghề nghiệp của mình đặc biệt là khả năng khai thác thông tin thì mới có
thể thành công khi gặp gỡ khách hàng.
- Bước 4: Giới thiệu, khuyến nghị với các khách hàng về các sản phẩm
dịch vụ phù hợp với mục tiêu và nhu cầu của từng khách hàng.
- Bước 5: Cung cấp các dịch vụ cho khách hàng và đảm bảo các dịch
vụ sau bán hàng cho các khách hàng
Sau khi thu hút được khách hàng đến với mình, nhân viên môi giới tiến
hành mở tài khoản giao dịch, tư vấn hay đưa ra các lời khuyến nghị họ mua
bán chứng khoán, giới thiệu cho khách hàng các dịch vụ mà công ty cung cấp
để đáp ứng các nhu cầu đầu tư của khách hàng. Nhà môi giới phải tiến hành
theo dõi sự biến động của tài khoản khách hàng một cách liên tục để đưa ra
các lời khuyến nghị kịp thời…


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status