GIẢI PHÁP TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 26

ĐẠI HỌC KINH TẾ LUẬT
KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

BÀI TIỂU LUẬN
GIẢI PHÁP TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG NGÂN
HÀNG VIỆT VIỆT NAM HIỆN NAY
GVHD: NGUYỄN THỊ HAI HẰNG
NHÓM THỰC HIỆN: NHÓM 5
TRẦN VIỆT HÀ K094040540
NGUYỄN THỊ HƯƠNG
K094040558
NGUYỄN THỊ LAN K094040561
TP.HỒ CHÍ MINH, NĂM 2013

LỜI MỞ ĐẦU
Với bất kỳ một quốc gia nào, hoạt động của hệ thống ngân hàng luôn là huyết mạch của
nền kinh tế và sự ổn định, lành mạnh của hệ thống ngân hàng giữ vai trò trọng yếu trong
việc ổn định và phát triển của nền kinh tế. Khi nền kinh tế phát triển nhanh chóng, đặc
biệt là ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại đã thúc đẩy hệ thống ngân hàng phát triển
nhanh cả về qui mô và chất lượng dịch vụ. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển nhanh đó, hệ
thống ngân hàng cũng sẽ tiềm ẩn nhiều yếu kém và rủi ro: rủi ro tín dụng, rủi ro thanh
khoản cao; tính ổn định, hiệu quả hoạt động và khả năng cạnh tranh chưa cao; năng lực
quản trị còn nhiều bất cập. Do vậy, nếu những rủi ro và yếu kém này không được xử lý
kịp thời sẽ tác động xấu đến ổn định kinh tế vĩ mô và hệ thống tài chính quốc gia. Vì vậy,
việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng và các tổ chức tài chính là cấp thiết để tránh sự đổ
vỡ của hệ thống ngân hàng và nền kinh tế.
Nhưng “tái cấu trúc hệ thống ngân hàng” là gì, cách thức thực hiện nó ra sao, nó có ảnh
hưởng như thế nào đến nền kinh tế cũng như xã hội…? Để hiểu rõ hơn về khái niệm “ tái
cấu trúc hệ thống ngân hàng” và các vấn đề xung quanh nó, nhóm chúng em đã chọn đề
tài “ GIẢI PHÁP TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM” làm đề
tài nghiên cứu, thảo luận. Bài tiểu luận là tổng hợp những kiến thức về nền kinh tế, hệ

Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng không phải là một hoạt động mang tính định kỳ. Các
quốc gia chỉ tiến hành tái cấu trúc khi có những vấn đề điển hình nổi lên trong nền kinh tế
4
nói chung và trong hoạt động của các ngân hàng thương mại nói riêng. Theo ông Sameer
Goyal (điều phối viên Khu vực tài chính và tư nhân của Ngân hàng Thế giới) thì động cơ
tái cấu trúc hiện nay bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân: Khủng hoảng tài chính và kinh tế
(các vấn đề của khu vực sản xuất); Nợ xấu gia tăng (căng thẳng của khu vực sản xuất và
rủi ro cao trong lĩnh vực bất động sản, ngoại hối, tình trạng thua lỗ của các doanh nghiệp,
việc cho vay của các tổ chức tài chính đối với các bên có quan hệ); Sự yếu kém về khả
năng sử dụng vốn của các ngân hàng so với mức độ rủi ro (lo ngại mất khả năng trả nợ);
Trung gian tài chính không hiệu quả - không đủ nguồn tín dụng, các ngân hàng theo đuổi
rủi ro quá mức (tăng trưởng tín dụng nhanh và không kiểm soát), lãi suất bị bóp méo, các
dòng tiền nóng đầu cơ ; Khuôn khổ pháp lý, giám sát và quản lý yếu kém; Thiếu niềm
tin vào hệ thống ngân hàng
1.1.3. Mục tiêu của việc tái cấu trúc Ngân hàng thương mại
1.1.3.1. Mục tiêu ngắn – trung hạn:
- Duy trì sự ổn định của hệ thống Ngân hàng, đảm bảo khả năng chi trả, thanh khoản.
- Giải quyết các vấn đề một cách kịp thời, ngăn ngừa sự lê lan hoặc các vấn đề hệ thống.
- Khôi phục niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
- Tái cấu trúc bộ máy hoạt động để nâng cao năng lực, đáp ứng được các nhiệm vụ hỗ trợ
phát triển kinh tế, xã hội của từng Ngân hàng nói riêng và hệ thống Ngân hàng nói chung.
1.1.3.2. Mục tiêu dài hạn:
- Xây dựng tính cạnh tranh và khả năng chống chịu tốt.
- Tăng cường cơ sở hạ tầng tổng thể của hệ thống tài chính.
- Tái cấu trúc để có những Ngân hàng chất lượng và những chỉ số hoạt động tốt nhằm
tăng sức mạnh cho toàn hệ thống, góp phần phát triển kinh tế ổn định.
- Tạo một hệ thống Ngân hàng đa dạng về loại hình, quan hệ sở hữu và quy mô: có các
Ngân hàng đủ mạnh để có thể cạnh tranh trong khu vực và quốc tế, có các Ngân hàng làm
trụ cột cho cả hệ thống Ngân hàng trong nước, và có các Ngân hàng có quy mô vừa và
nhỏ hoạt động trong những phân khúc thị trường khác nhau

6
1.2.2. Mua lại, hợp nhất và sáp nhập
Mua lại, sáp nhập, hợp nhất ngân hàng để hình thành những định chế hoặc những tổ hợp
tài chính lớn hơn, mạnh hơn thông qua việc tăng cường hiệu quả kinh tế nhờ quy mô,
đồng thời tạo lợi thế cạnh tranh nhờ gia tăng thị phần hoạt động là một xu thế phổ biến và
diễn ra mạnh mẽ trên thế giới. Tại Mỹ việc mua bán, sát nhập các ngân hàng là điều rất
bình thường, nhất là trong giai đoạn 1966-2008. 5 thương vụ mua, bán ngân hàng lớn đã
diễn trong vòng gần 10 năm nay như: Ngân hàng Barclays mua lại ABN AMRO với giá
91 tỷ USD; Bank of America mua lại Merrill Lynch trong thương vụ trị giá 50 tỷ USD.
Ngân hàng MUFG (thuộc Mitsubishi UFJ Financial Group) mua lại UFJ Holdings
(UFJ); JP Morgan Chase mua BankOne với giá 58 tỷ USD; Bank of America mua lại
FleetBoston Financial với giá 48 tỷ USD Tại Nhật Bản, vụ sáp nhập giữa Ngân hàng
Tokyo và Ngân hàng Mitsubishi năm 1996 đã hình thành lên ngân hàng lớn nhất thế giới
lúc bấy giờ với tổng giá trị tài sản trên 750 tỷ USD,…
Trước khi tiến hành các hoạt động sáp nhập, hợp nhất và mua lại, ngân hàng trung ương
các nước thường tiến hành sàng lọc ra các ngân hàng yếu kém bằng cách đưa ra một
khung các tiêu chuẩn phân loại hoạt động. Theo đó, những ngân hàng không đáp ứng đủ
các tiêu chuẩn an toàn bị buộc chấm dứt hoạt động để ngân hàng có tình hình tài chính tốt
hơn mua lại. Với những ngân hàng đang gặp khó khăn nhưng có khả năng phục hồi sẽ
được yêu cầu sáp nhập, hợp nhất với nhau. Nhờ đó, số lượng ngân hàng sau tái cấu trúc
giảm xuống nhưng quy mô vốn, chất lượng tài sản, năng lực cạnh tranh và khả năng sinh
lợi được cải thiện rõ rệt.
1.2.3. Cơ cấu lại vốn tự có của các ngân hàng
Vốn tự có là yếu tố có ý nghĩa quyết định sống còn đến sự hình thành và phát triển lâu
dài của ngân hàng. Trong hoạt động kinh doanh, khi rủi ro xảy ra sẽ gây thiệt hại lớn và
nguồn vốn này giúp ngân hàng bù đắp được những thiệt hại đó. Trong những trường hợp
hy hữu về khả năng chi trả, vốn tự có sẽ được dùng để chi trả cho khác hàng, bảo vệ
khách hàng không bị mất tiền gửi tại nhà băng.Một trong những nguồn giúp vốn tự có
tăng trưởng đó là lợi nhuận giữ lại và vốn tự có cũng thường tăng trưởng dương.
7

triển ổn định, an toàn cho các tổ chức tín dụng.
1.2.5. Cải thiện hành lang pháp lý và xây dựng tiêu chuẩn ngân hàng hiện đại
Việc tiến hành các hoạt động cải tổ hệ thống ngân hàng cần được đặt trong một khuôn
khổ pháp lý vững chắc, do đó, tất cả các nước trên thế giới khi tiến hành tái cấu trúc hệ
thống ngân hàng đều tiến hành rà soát lại các văn bản pháp luật, xây dựng các phương án
can thiệp của Chính phủ và Ngân hàng trung ương (NHTW) trong các tình huống khác
nhau, để đảm bảo rằng chúng không vi phạm các luật lệ đã ban hành trước đây. Việc này
rất quan trọng bởi nó cho thấy hành vi can thiệp của Chính phủ và NHTW là khách quan,
bình đẳng và minh bạch, vì lợi ích chung của nền kinh tế chứ không phải vì một động cơ
nào khác. Căn cứ vào các văn bản pháp lý đó, Chính phủ và NHTW sẽ cần phải xây dựng
một quy trình, với những tiêu chí rõ ràng ngay từ đầu về mức độ can thiệp của Nhà nước
cho từng trường hợp cụ thể. Hơn nữa, Chính phủ và NHTW cần xây dựng các tiêu chí về
một ngân hàng hoạt động hiệu quả và phát triển bền vững hướng tới thông lệ tốt nhất
như: vốn điều lệ thực tối thiểu; điều kiện cần và đủ để thành lập ngân hàng; phạm vi và
lĩnh vực kinh doanh ứng với qui mô; hạ tầng công nghệ tối thiểu phải có; việc phân loại
nợ theo thời gian và chất lượng nợ; tiêu chí về năng lực hoạt động; năng lực cạnh tranh;
vấn đề minh bạch thông tin và kỷ luật thị trường… Điều này sẽ tạo cơ sở thúc đẩy các
ngân hàng hoạt động hiệu quả và ngày càng cạnh tranh lành mạnh hơn.
9
CHƯƠNG 2. VẤN ĐỀ TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
2.1. Bài học từ kinh nghiệm tái cấu trúc hệ thống ngân hàng của các nước trên
thế giới
Hệ thống ngân hàng đóng vai trò cực kỳ quan trọng đối với nền kinh tế của bất kỳ quốc
gia nào. Vì thế, ở một số quốc gia, khái niệm “phá sản ngân hàng” gần như là điều cấm
kỵ bởi những hậu quả kinh khủng mà nền kinh tế phải gánh chịu nếu hệ thống ngân hàng
lâm nguy. Và giải pháp “cứu” ngân hàng, hay nói một cách nhẹ nhàng hơn là “tái cấu trúc
ngân hàng” thường được Chính phủ các nước ưu tiên khi mỗi khi hệ thống này được đặt
vào tình thế nguy cấp.
• Ứng xử của Thụy Điển

dừng ở nguồn tài chính để tái cấp vốn và bảo đảm toàn bộ mà còn là cơ chế và thẩm
quyển của những cá nhân và đơn vị trực tiếp tham gia vào quá trình giải cứu.
Thực thi một gói chính sách mang tầm vĩ mô đúng đắn và nhất quán: Chính sách tài khóa
đúng đắn giúp cho Thụy Điển không lún quá sâu vào suy thoái, giảm gánh nặng đối với
thất nghiệp, lạm phát và tăng trưởng.
• Thái Lan: Trị bệnh từ gốc
Đất nước chùa vàng cũng kinh qua cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 khi đang trên
đà phát triển mạnh về kinh tế. Thời điểm đó, Thái Lan đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế
9%/năm nhưng cũng tiềm tàng nhiều nguy cơ từ lạm phát, chính sách tỷ giá cố định và cơ
chế thu hút đầu tư nước ngoài thiếu tính bền vững.
Khủng hoảng bắt đầu ở Thái Lan và sau đó lây lan sang các nước châu Á khác. Nguyên
nhân cốt lõi nằm ở sự mất lòng tin của các nhà đầu tư nước ngoài đối với cái gọi là “các
nền kinh tế mới nổi”. Các nhà đầu tư rất ấn tượng với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao
nhưng lại tỏ ra nghi ngờ các nhân tố điều chỉnh không minh bạch và tình trạng tham
nhũng trong Chính phủ. Khi đã mất niềm tin vào thị trường tiền tệ và chứng khoán của
những quốc gia này, nhà đầu tư sẽ ồ ạt rút tiền ra. Tại Thái Lan, việc thị trường chứng
khoán tăng trưởng nhanh chóng, kéo theo làn sóng các nhà đầu tư nước ngoài, đã đẩy giá
tiền tệ trong nước và mức lạm phát lên và kèm theo đó là nỗi sợ hãi về bong bóng chứng
khoán.
Khi nhận chức thống đốc Ngân hàng Trung ương Thái Lan vào giữa năm 2001, Ông M.R
Pridiathorn Devakula đã tiến hành hàng loạt biện pháp để giải quyết mớ bòng bong này.
Ông đã cho dừng việc tiếp tục thực hiện các quy định an toàn; chuyển các ngân hàng
sang hoạt động có lãi trở thành mục tiêu hàng đầu; nới lỏng các quy định mà không có
tính thực tế, các quy định mà quá khó khăn để thực hiện trong hoàn cảnh lúc bấy giờ và
quá tốn kém để theo đuổi; cũng như loại bỏ những rào cản về quy chế đối với việc cho
các ngân hàng thương mại vay để giảm bớt gánh nặng từ những khoản nợ tồn đọng của
khách hàng. Đồng thời theo dõi sát sao bảng tổng kết tài sản của các ngân hàng và tư vấn
về định hướng có tính chiến lược giúp các ngân hàng thương mại nhà nước có lãi.
Khác với Thụy Điển, công cuộc tái cấu trúc ngân hàng ở Thái Lan thành công phần nhiều
nhờ vào nhận thức được đúng đắn gốc rễ của vấn đề. Các công thức về thắt chặt tiền tệ,

Trong những năm qua, hệ thống các TCTD phát triển nhanh và góp phần quan trọng đối
với phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Tuy nhiên, hệ thống các TCTD đã bộc lộ
nhiều yếu kém, rủi ro gây mất an toàn hoạt động và đe dọa sự ổn định kinh tế vĩ mô.
Rủi ro trong hoạt động ngân hàng rất lớn, đặc biệt rủi ro tín dụng của các
TCTD Việt Nam
 Hệ thống NH luôn nằm trong tình trạng mất cân đối giữa huy động và cho vay, đe dọa an
toàn thanh khoản
Nhìn vào cơ cấu kỳ hạn huy động vốn và cho vay của các NHTM ta sẽ thấy được rủi
ro thanh khoản của các NH. Ngoại trừ các NHTM lớn có vốn huy động dài hạn, các
NHTM nhỏ hầu như không có khoản tiền gửi trên 5 năm, đa số là các khoản tiền gửi 1
tháng đến 3 tháng. Các NHTM cho vay trung và dài hạn trong khi các khoản tiền gửi của
khách hàng lại tập trung vào các kỳ hạn ngắn từ 1-3 tháng sẽ khiến các NH có thể gặp rủi
ro thanh khoản.
Trong tổng vốn huy động từ nền kinh tế đến cuối tháng 9/2011, nguồn vốn không kỳ
hạn và có kỳ hạn dưới 6 tháng chiếm đến 77,77% tổng vốn huy động từ nguồn thanh toán
(trong đó: 79,44% đối với VNĐ và 71,52% đối với ngoại tệ) làm cho nguồn vốn thiếu
tính ổn định: Trong khi đó dư nợ tín dụng trung, dài hạn lại chiếm tỉ trọng 42,4% tổng dư
nợ tín dụng (trong đó: 41,48% đối với VNĐ và 45,47% đối với ngoại tệ) dẫn đến thanh
khoản của các TCTD yếu.
 Tín dụng tập trung vào lĩnh vực bất động sản quá lớn đặt sự an toàn của hệ thống
các TCTD phụ thuộc vào thị trường bất động sản.
Theo báo cáo của các TCTD dư nợ cho vay đầu tư, kinh doanh bất động sản đến cuối
tháng 9/2011, nếu bao gồm cả các khoản tín dụng được đảm bảo bằng bất động sản thì dư
nợ tín dụng đối với bất động sản là 1.331.032 tỷ đồng tương đương 53,3% tổng dư nợ tín
dụng. Dư nợ tín dụng đối với bất động sản lớn, song chất lượng tín dụng thấp và đang có
chiều hướng giảm do thị trường bất động sản suy giảm đang trở thành rủi ro rất lớn đối
với các TCTD. Giá trị bất động sản giảm tác động tiêu cực đến khả năng trả nợ của khách
hàng vay và giá trị tài sản đảm bảo bằng bất động sản.
 Tình trạng nợ xấu cao
Theo NHNN, tỷ lệ nợ xấu toàn ngành NH đến tháng 12 năm 2011 là 3,39%, tương đương

hơn so với nhiều nước đang phát triển khác, trong khi nhiều hệ thống ngân hàng trên thế
giới có tỉ lệ an toàn vốn quốc tế (Basel II) cao hơn chuẩn mực hiện nay đang áp dụng tại
Việt Nam.
 Mức độ tập trung tín dụng đối với một số khách hàng và nhóm khách hàng liên
quan rất lớn.
Khi những khách hàng vay lớn gặp khó khăn về tài chính và kinh doanh có khả năng
gây tổn thất lớn cho TCTD. Đến cuối tháng 9/2011 dư nợ cho vay doanh nghiệp nhà
nước là 415.347 tỷ đồng tương đương 16,9% tổng dư nợ tín dụng, trong đó dư nợ cho
vay 12 tập đoàn kinh tế của nhà nước là 218.738 tỷ đồng (riêng Tập đoàn Dầu khí Việt
Nam 72.300 tỷ đồng, Tập đoàn Điện lực 62.800 tỷ đồng, Tập đoàn Công nghiệp Than,
Khoáng sản 20.500 tỷ đồng và Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy 19.600 tỷ đồng) tương
đương 8,76% tổng dư nợ tín dụng toàn ngành và chiếm 52,66% dư nợ cho vay doanh
nghiệp nhà nước.
Nhiều ngân hàng có vấn đề quản trị ngân hàng rất yếu
 Nhóm lợi ích và sở hữu chéo giữa các TCTD rất lớn làm cho rủi ro hệ thống rất
cao nếu như một ngân hàng gặp khó khăn hoặc đổ vỡ.
Ngân hàng trong những năm qua là ngành có tốc độ phát triển nhanh đã thu hút các
nhà đầu tư trong nước và ngoài nước đầu tư vốn kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng.
Đặc biệt, nhiều tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước đầu tư, nắm giữ cổ phiếu và là
cổ đông lớn hoặc chủ sở hữu của ngân hàng và TCTD phi ngân hàng. Các cổ đông lớn
nắm quyền chi phối có thể biến tướng rất nhiều để cho vay những lĩnh vực rủi ro cao
hoặc cho vay chéo chính những công ty con của mình. Mặc dù NHNN có quy định rất
chặt chẽ trong việc cho vay với doanh nghiệp là cổ đông nhưng họ lại tìm cách lách luật.
Điều này dễ dẫn đến vi phạm các nguyên tắc quản trị rủi ro, xung đột lợi ích và sự an
toàn, ổn định của TCTD phụ thuộc vào các cổ đông lớn của TCTD.
 Năng lực quản trị của các TCTD còn nhiều bất cập so với quy mô, tốc độ tăng
trưởng và mức độ rủi ro trong các hoạt động.
Sự hạn chế về năng lực quản trị xuất phát chủ yếu từ vấn đề cơ cấu sở hữu, năng lực
của cổ đông và hội đồng quản trị, hội đồng thành viên và các vị trí quản lý của TCTD.
Nhiều cổ đông lớn và người đại diện cổ đông lớn tham gia các vị trí quản lý, điều hành

NH này là cho dù trụ sở chính đặt ở đâu thì cũng tập trung ở những đô thị lớn để mở chi
nhánh, phòng giao dịch. Điều này làm cho mức độ cạnh tranh rất khốc liệt và không lành
mạnh. Thay vì cạnh tranh bằng chất lượng dịch vụ thì các NH lại cạnh tranh bằng lãi suất,
dẫn đến các cuộc chạy đua lãi suất trong những năm gần đây. Gây ảnh hưởng rất lớn tới
mặt bằng lãi suất trên thị trường.
Một số NHTM mở rộng hoạt động sang lĩnh vực phi ngân hàng như thành lập các
công ty chứng khoán, quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, bảo hiểm, vàng không đem lại
hiệu quả cao và làm tăng rủi ro cho NHTM, đồng thời gây khó khăn hơn cho công tác
quản lý, giám sát của các cơ quan quản lý.
2.3. Chủ trương, chính sách tái cấu trúc hệ thống NHTM của NHNN Việt Nam
 Về quan điểm
Thực hiện Cương lĩnh Đại hội lần thứ XI của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng lần
thứ XI, Hội nghị Trung ương 3, ngày 9/11 Chính Phủ đã ban hành Nghị quyết số 98/NQ-
CP về phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 10/2011 trong đó nêu rõ: Chính phủ yêu cầu
NHNN chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan khẩn trương xây dựng đề án tái cơ
cấu hệ thống NHTM, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 11/2011. Và theo Thống
đốc NHNN Nguyễn Văn Bình, tái cơ cấu lại hệ thống NH là một việc cấp bách nhằm đáp
ứng yêu cầu, nhiệm vụ giai đoạn phát triển mới, góp phần giải quyết những tồn tại vướng
mắc của hệ thống NH thời gian qua, bảo đảm hệ thống NH có đầy đủ năng lực vươn lên
đáp ứng nhiệm vụ, yêu cầu giai đoạn phát triển mới.
Như vậy tái cơ cấu nền kinh tế, tái cấu trúc lại một số lĩnh vực kinh tế trọng điểm trong
đó có hệ thống NHTM và các tổ chức tài chính là chủ trương nhất quán từ đầu năm 2011
đến nay của Đảng và Nhà nước.
 Về mục tiêu và nguyên tắc
Về mục tiêu, tái cơ cấu nhằm 4 mục tiêu:
(i) Phải làm lành mạnh hệ thống NH.
(ii) Phải làm cho hệ thống NH có đủ sức cạnh tranh trong và ngoài nước, trong môi
trường thế giới hết sức biến động.
(iii) Phải cấu trúc lại cơ cấu hoạt động của hệ thống NH để đảm bảo giữa cấp tín dụng và
cung ứng dịch vụ cho nền kinh tế một cách hợp lý.

phương châm không để tổ chức tín dụng nào đổ vỡ, đảm bảo tối đa quyền lợi của người
gửi tiền và khách hàng của NH.
- Từ quý II/2012 đến hết năm 2013, sẽ hoàn thành việc tái cấu trúc lại các NH thuộc
nhóm III.
- Từ năm 2013 đến năm 2015 tập trung vào việc nâng cao các hiệu quả an toàn, việc tuân
thủ các chuẩn mực quốc tế và củng cố xây dựng. Đến năm 2015, hệ thống NH Việt Nam
sẽ tiếp tục được tái cấu trúc và khi đó số lượng các NH có khả năng tham gia cạnh tranh
trong khu vực có thể nâng lên đến 4 NH.
2.5. Tiến độ và tình hình thực hiện đến thời điểm hiện tại
Định hình rõ 3 nhóm NH và giải quyết tốt những vấn đề thanh khoản của những NH yếu
kém: Theo Lộ trình đến quý I/2012 sẽ hoàn thành.
- Về việc giải quyết các vấn đề thanh khoản của các NH yếu kém
+ Hỗ trợ thanh khoản kịp thời các NH đang có vấn đề về thanh khoản:
Trước sự thiếu hụt thanh khoản tạm thời của một số NH nhỏ, ngày 18/10/2011 NHNN
cho biết sẵn sàng hỗ trợ thanh khoản nhằm đảm bảo quyền lợi người gửi tiền, an toàn của
từng tổ chức tín dụng cũng như cả hệ thống. Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (thuộc
NHNN) cho biết, dịp tết năm 2011, NHNN đã quyết định bơm một lượng tiền lớn ra thị
trường và kịp thời rút tiền về ngay sau tết thông qua nghiệp vụ thị trường mở.
+ Hỗ trợ thanh khoản thông qua hệ thống NH quốc doanh và các NH cổ phần lớn trong
thị trường: Song song với việc hỗ trợ của NHNN đối với các TCTD thiếu hụt thanh
khoản, các NH lớn như BIDV, Vietinbank, Agribank,… cũng có những cam kết hỗ trợ
thanh cho các NH nhỏ khác. Điển hình như sau:
 Ngày 28/10/2011, NH Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) cam kết hỗ trợ
trong hạn mức 3.000 tỷ đồng cho BacAbank và 5.000 tỷ đồng cho GP Bank trong lĩnh
vực nguồn vốn và kinh doanh tiền tệ. Hạn mức này sẽ được điều chỉnh theo quy định và
khả năng của BIDV vào thời điểm hỗ trợ.
 Vietcombank cho biết, từ trung tuần tháng 10/2011 cho đến nay đã hỗ trợ thanh khoản
và vốn cho một số NHTM cổ phần nhỏ ở trong tình trạng rất khó khăn về thanh khoản.
- Về Công tác phân nhóm các NH:
NHNN đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống chấm điểm để xếp hạng phân

Cụ thể, hệ thống NHTM Việt Nam được phân thành 3 nhóm lớn:
+ Nhóm thứ 1: gồm các ngân hàng có tình hình tài chính lành mạnh có năng lực và
quy mô đủ lớn để tiếp tục phát triển thành những ngân hàng trụ cột, đủ sức cạnh tranh với
khu vực và quốc tế. Ước tính có khoảng 15 ngân hàng loại này chiếm khoảng 80% thị
phần hoạt động của cả hệ thống ngân hàng.
+ Nhóm thứ 2: nhóm các ngân hàng có tình hình tài chính lành mạnh nhưng có
quy mô nhỏ, không có nhu cầu hoặc không có điều kiện phát triển quy mô cao hơn nữa.
NHNN sẽ có quy định đảm bảo giám sát chặt chẽ cũng như phân khúc thị trường để đảm
bảo cho các ngân hàng này hoạt động hiệu quả.
+ Nhóm thứ 3: nhóm ngân hàng đang có tình hình tài chính khó khăn cần phải cấu
trúc lại. NHNN sẽ tham gia giám sát chặt chẽ, yêu cầu các ngân hàng lớn sẽ tham gia
mua cổ phần, tham gia vào quản trị điều hành và cơ cấu lại các khoản mục đầu tư; mua
lại hoặc hợp nhất, sáp nhập nếu cần.
- Về tăng vốn: Từ cuối năm 2011 và trong năm 2012 đã chứng kiến nhiều sự kiện
sáp nhập, hợp nhất, mua lại trong ngành Ngân hàng. Cụ thể:
+ Ngày 01/01/2012, Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn (Ngân hàng hợp
nhất) chính thức đi vào hoạt động sau khi hợp nhất từ 3 ngân hàng: Ngân hàng thương
mại cổ phần Sài Gòn (SCB), Ngân hàng Ðệ Nhất (Ficombank) và Ngân hàng Việt Nam
Tín Nghĩa (TinNghiaBank).
+ Ngày 09/01/2012, Giadinhbank chính thức thay đổi hệ thống nhận diện thương
hiệu, với tên gọi mới là Ngân hàng thương mại cổ phần Bản Việt sau khi được Quỹ Ðầu
tư Bản Việt mua lại toàn bộ.
+ Ngân hàng TienPhongBank cũng đã tự tái cơ cấu thành công hồi tháng 6/2012
sau khi tập đoàn DOJI chi tiền mua lại 20% cổ phần.
+ Ngày 28/08/2012, Ngân hàng thương mại cổ phần Nhà Hà Nội (Habubank)
chính thức sáp nhập vào Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn - Hà Nội (SHB).
Đến cuối năm 2012, vẫn còn 4 ngân hàng là Navibank, GPBank, TrustBank,
Westernbank chưa công khai phương án tái cơ cấu. Tuy nhiên, trong năm cũng xuất hiện
một vài thông tin về việc Navibank sẽ tự tái cơ cấu
Tháng 12/2012 Thủ tướng chính phủ cũng đã đồng ý phê duyệt đề án hợp nhất

- Về giải quyết nợ xấu: Qua một năm thực hiện các chính sách về tái cấu trúc của
NHNN và việc giải quyết nợ xấu của ngân hàng cho đến tháng 11/2012, NHNN đã giải
quyết 252.000 tỷ đồng nợ được cơ cấu lại, tương ứng 8% dư nợ tín dụng. Cùng với
những nỗ lực của NHNN thì các ngân hàng cũng đã hy sinh ngắn hạn trong việc giảm lợi
nhuận để tăng dự phòng rủi ro và xử lý nợ xấu, đến nay các ngân hàng đã xử lý được
39.000 tỷ nợ xấu. Chẳng hạn, Vietcombank đã phải trích lập 1.088 tỷ đồng khiến lợi
nhuận quí II/2012 chỉ còn 1.124 tỷ đồng, giảm 10% so với quí II/2011. Tương tự,
Vietinbank đã trích lập dự phòng 1.453 tỷ đồng nên lãi sau thuế quí II/2012 chỉ còn 5.645
tỷ đồng, giảm 70% so với cùng kỳ năm trước. Eximbank và ACB cũng phải trích lập dự
phòng lớn khiến cho lợi nhuận bị suy giảm đáng kể. Việc thực hiện giải quyết nợ xấu của
ngân hàng là đúng đắn và điều này được thể hiện rõ khi chưa có quyết định, chỉ thị để cơ
cấu nợ, khắc phục xử lý nợ xấu, tốc độ tăng của nợ xấu lên tới 8% - 9% mỗi tháng, nhưng
cho đến nay, nợ xấu chỉ tăng trung bình 3% một tháng. Bên cạnh chủ động xử lý nợ xấu
bằng trích lập dự phòng, các NHTM đã tiến hành hỗ trợ doanh nghiệp và tăng cường
quản trị rủi ro tín dụng, mua, bán nợ thông qua công ty mua, bán nợ của các ngân hàng và
công ty mua, bán nợ của Bộ Tài chính.
- Về thanh khoản: Năm 2012, vấn đề thanh khoản của toàn hệ thống ngân hàng đã
được củng cố và ổn định. Ðiều này được thể hiện dựa trên các dấu hiệu sau đây: (i) Lãi
suất trên thị trường liên ngân hàng khá ổn định và giảm mạnh từ mức trên 20% xuống
còn 10% - 12% tùy thuộc vào kỳ hạn, đặc biệt các giao dịch qua đêm đã tạm thời lắng
dịu; (ii) Không có dấu hiệu sụt giảm tiền gửi trong khi các kênh đầu tư khác như bất động
sản, chứng khoán đang yên ắng; (iii) Thị trường không xuất hiện các cuộc đua lãi suất
huy động tiền gửi công khai.

Trích đoạn Thực hiện các chính sách tiền tệ Việc sáp nhập, hợp nhất các NH với nhau liệu có hiệu quả Giải pháp phá sản
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status