MỤC LỤC
1. TÍNH CẤP THIẾT CẢU ĐỀ TÀI
4
2.TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
6
3. MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
9
4. ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
9
5. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU, CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
10
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
10
7. Ý NGHĨA CỦA KHÓA LUẬN
12
8. KẾT CẤU KHÓA LUẬN
13
PHẦN II: NỘI DUNG
14
CHƯƠNG1: CƠ SỞ LÝ LUẬN-CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA KHÓA LUẬN
14
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN VĂN
14
1.Thao tác hóa các khái niệm
14
1.1 Nông thôn
14
1.2 Truyền thông
14
1
1.3 Truyền thông đại chúng
63
1. Sở thích của người dân nông thôn với tiếp cận thông tin nông nghiệp trên truyền
hình
63
2. Nhu cầu tiếp cận thông tin nông nghiệp trên kênh KTS VTC 16 và những đề
xuất giải pháp của người dân nông thôn
81
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ……………………………………………
87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………
93
3
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được khóa luận tốt nghiệp như ngày hôm nay, em xin
chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa xã hội học, toàn thể giáo viên
của Học viện báo chí và tuyên truyền đã dạy dỗ và trang bị kiến thức cho bản
thân em trong suốt bốn năm học vừa qua
Lời đầu tiên em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo, TS Lưu
Hồng Minh, Trưởng khoa xã hội học, học viện báo chí và tuyên truyền – người
đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo em tận tình trong quá trình thực hiện khóa luận
tốt nghiệp cũng như những năm tháng học tập tại trường.
Thực hiện khóa luận tốt nghiệp là cơ hội để tôi bày tỏ lời cảm ơn đến gia
đình, người thân và bạn bè, những người đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt
thời gian qua.
Sinh viên: Cù Thị Hiền
4
PHẦN MỞ ĐẦU
NHU CẦU TIẾP CẬN KIẾN THỨC NÔNG NGHIỆP TRÊN TRUYỀN
HÌNH CỦA NGƯỜI DÂN NÔNG THÔN
(Khảo sát tại Xã Tây Tựu - Huyện Từ Liêm - Hà Nội)
quả các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước tới toàn thể bà
con nhân dân trên khắp đất nước .
Kênh truyền hình Nông nghiệp-Nông thôn ra đời sẽ hướng đến cung cấp tối
đa nhu cầu thông tin mọi mặt của nông dân, phục vụ thiết thực, hiệu quả cho việc
thực hiện nhiệm vụ chính trị về Chương trình hành động của Chính phủ triển khai
Nghị quyết của Hội nghị lần thứ 7, Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp,
nông dân, nông thôn, tạo sự quan tâm của toàn xã hội đối với vấn đề bảo vệ môi
trường, y tế, văn hoá, giáo dục ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa.
Ngày 22/4/2010 lễ ra mắt và bấm nút phát sóng kênh truyền hình Nông
nghiệp – Nông thôn VTC 16 (3NTV). Đây là sự kiện có ý nghĩa quan trọng, đánh
dấu sự ra đời và phát triển của kênh truyền hình chuyên biệt về nông nghiệp và
nông thôn đầu tiên tại việt nam. Ngay từ khi lên sóng, Kênh VTC 16 lấy nông dân
là đối tượng phục vụ số một để tập trung phản ánh những vấn đề thực tiễn đặt ra về
nông nghiệp, nông dân và nông thôn, tạo ra diễn đàn để người nông dân có thể qua
đó nói lên tâm tư, tình cảm, nguyện vọng, những kinh nghiệm tốt, những vấn đề
tồn tại, cần được nghiên cứu, giải quyết trong cuộc sống hàng ngày; bồi dưỡng từ
6
xa các kỹ năng, kiến thức phổ thông về nghề nông và các nghề khác để chuẩn bị
cho tiến trình dịch chuyển cơ cấu lao động, phù hợp với tiến trình dịch chuyển cơ
cấu kinh tế.
Sau 8 tháng kể từ khi chính thức phát sóng, kênh VTC 16 đã nhận được
khoảng 10.000 cuộc điện thoại ( trung bình 60 - 70 cuộc gọi/ngày) của người nông
dân trên 50 tỉnh thành trong cả nước. Nội dung cuộc gọi này chủ yếu hỏi thêm về
các chương trình truyền hình của kênh, thời gian phát lại; hỏi thêm thông tin
về kỹ thuật nông nghiệp; thông tin thời vụ; phản hồi ý kiến về các chính sách của
nhà nước.
Chính vì những lý do trên đã thôi thúc tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu:
“Nhu cầu tiếp cận kiến thức nông nghiệp trên kênh VTC16 của người dân nông
thôn, (qua khảo sát tại khu vực ngoại thành Hà Nội) với mong muốn tìm hiểu nhu
cầu tiếp cận thông tin của người dân nơi đây. Từ đó đóng ghóp phần nào cho
nghiên cứu với quy mô nhỏ.
Các vấn đề liên quan đến truyền hình được đề cập qua các bài viết được
đăng trên tạp chí xã hội học, tạp chí khác, những đầu báo, tập sách được đem ra
bàn trong những buổi tọa đàm.
Năm 1999, trung tâm nghiên cứu dư luận xã hội, Ban tư tưởng - văn hóa
trung ương đã tiến hành cuộc điều tra về “định hướng xem truyền hình” ở Việt
Nam, tại 24 tỉnh thành trong cả nước với 3475 phiếu điều tra cá nhân. Cuộc điều
tra này nhằm tìm hiểu xem hành vi xem truyền hình của công chúng nhằm phục vụ
trực tiếp một số yêu cầu cải tiến chất lượng nội dung chương trình và kỹ thuật của
đài truyền hình việt nam.
Bài về “Chức năng định hướng xã hội của hệ thống TTĐC” của tác giả Bùi
Phương Đình ( đăng trên tạp chí PVBC&TT- số 1 năm 2000). Tác giả nhấn mạnh
tính định hướng của các luồng thông tin được truyền tải trên TTĐC và tác giả đưa
ra kết luận là chức năng định hướng xã hội thể hiện sức mạnh to lớn của hệ thống
TTĐC trong xã hội hiện đại.
8
Nghiên cứu “Khán giả với truyền hình” của viện nghiên cứu Dư Luận Xã
Hội, Ban Tư Tưởng Văn hóa TW thực hiện năm 2003. Đề tài có cá nhìn tổng quát
về khán giả truyền hình việt nam và cũng nêu lên một số khuyến nghị, giải pháp
nhằm tăng hiệu quả hoạt động của đài truyền hình việt nam cũng như đài truyền
hình địa phương.
Năm 2002, Trần Hữu Quang đã tiến hành khóa luậntiến sĩ của mình với đề
tài nghiên cứu: “Truyền thông đại chúng và công chúng – nghiên cứu trường hợp
thành phố Hồ Chí Minh”. Luận án đã mô tả mô thức tiếp nhận thông tin từ TTĐC
của công chúng thành phố Hồ Chí Minh đựa trên trục nội dung thong tin tiếp nhận.
Năm 2004, Khoa xã hội hoc Học Viện Báo chí &TT đã tiến hành nghiên cứu
đề tài: “Thực trạng và nhu cầu tiếp cận TTĐC của sinh viên Hà Nội” tại 5 trường
đại học ở Hà Nội với 200 sinh viên. Đây là một đề tài nghiên cứu với qui mô nhỏ
kết hợp định tính và định lượng để tìm hiểu hành vi của sinh viên với các ấn phẩm
và các chương trình trên phương tiện TTĐC. Đề tài đã tổ hợp được mong muốn
3.2. Nhiệm Vụ
- Làm rõ cơ sở lý luận, những khái niệm có liên quan Khái niệm trong đề tài
nghiên cứu.
- Đánh giá thực trạng tiếp cận thông tin về kiến thức nông nghiệp trên kênh
VTC16 của nông dân ngoại thành.
- Tìm hiểu nhu cầu của người dân ngoại thành Hà Nội đối với các chương
trình về kiến thức nông nghiệp trên kênh VTC16.
- Đề xuất khuyến nghị nhằm thay đổi về mặt hình thức, nội dung cũng như
nâng cao chất lượng sản phẩm của các chương trình chuyên sâu về kiến thức nông
nghiệp sao cho phù hợp với điều kiện như nhu cầu của người dân Xã Tây Tựu,
Huyện Từ Liêm, Hà Nội
4. ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1. Đối Tượng Nghiên Cứu
10
- Nhu cầu tiếp cận kiến thức nông nghiệp trên kênh VTC16 của người dân
ngoại thành Hà Nội
4.2. Khách Thể Nghiên Cứu
- Người dân Xã Tây Tựu – Huyện Từ Liêm - Hà Nội.
4.3. Phạm Vi Nghiên Cứu
- a: Phạm vi không gian: Nghiên cứu được thực hiện tại Xã Tây Tựu –
Huyện Từ Liêm – TP Hà Nội
- b: Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được triển khi từ tháng 4- tháng 6 năm
2011
5. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU, CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
5.1 Giả thuyết nghiên cứu
- Tiếp cận truyền hình của người dân không có sự khác biệt nhiều giữa các
ngày trong tuần với hai ngày nghỉ cuối tuần thứ 7 và chủ nhật.
- Mỗi nhóm nghề nghiệp khác nhau thì có những nhu cầu về thời điểm phát
sóng chương trình nông nghiệp trên kênh VTC 16 khác nhau.
- Nhóm những người theo dõi kênh VTC 16 là nhóm có những nhu cầu về
16 . Với mỗi nhóm đối tượng, chúng tôi thiết kế một nội dung PVS riêng biệt.
− Dung lượng mẫu PVS được xác định là 21người, cụ thể cơ cấu mẫu như sau:
+ 7 người thuộc nhóm đối tượng có xem kênh truyền hình VTC 16
+ 7 người thuộc nhóm đối tượng không xem kênh truyền hình VTC 16
+ 7 người thuộc nhóm đối tượng gia đình có đầu KTS và không xem kênh
truyền hình VTC 16
●Phương pháp thảo luận nhóm:
- Cách thực hiện:
Từ số lượng mẫu phỏng vấn sâu trên, tổ chức 2 cuộc thảo luận nhóm. Với 2
nhóm đối tượng là nhóm có xem kênh truyền hình KTS VTC 16 và nhóm không
xem kênh KTS VTC 16.
Mỗi cuộc TLN với số mẫu 7 người.
12
Mục đích:
Tiếp thu những ý kiến của mỗi đối tượng của từng nhóm, rút ra những ý
tưởng mới cho đề tài, đồng thời góp ý phần nào cho những nhà tổ chức chương
trình để có sự thay đổi sao cho phù hợp với điều kiện, nhu cầu của người dân, đóng
ghóp thêm phần phong phú và đa dạng của các chương trình trên kênh truyền hình
VTC 16.
6.2.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng.
Sử dụng những số liệu của những nghiên cứu về truyền thông được tác giả
tìm tại thư viện HVBC&TT; tại khoa xã hội hoc – HVBC&TT; Tại Viện Xã Hội
Học, Bên cạnh đó, tác giả cũng nghiên cứu nội dung một số báo, tạp chí chuyên về
truyền thông cũng như các thông tin trên mạng Internet.
6.3 Phương pháp xử lý dữ liệu
+ Xử lý thông tin định tính bằng chương trình NVIVO 7.0
7.Ý nghĩa của luận văn
7.1 Ý nghĩa lý luận.
- Nghiên cứu đưa ra một số thông tin về thực trạng tiếp cận phương tiện
TTĐC (kênh truyền hình VTC 16) của người dân khu vực ngoại thành Hà Nội.
Nông thôn là vùng dân cư sinh sống chủ yếu bằng nông nghiệp và những
nghề khác có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến sản xuất nông nghiệp
1.2 Truyền thông:
Tác giả Mai Quỳnh Nam trong bài viết “ Mấy vấn đề về dư luận xã hội trong
công cuộc đổi mới” đăng trên tạp chí xã hội học số 2 năm 1996 đã nhìn nhận. “Với
cách hiểu chung nhất truyền thông được xác định là hoạt động truyền tải và chia sẻ
thông tin. Qúa trình này diễn ra liên tục, trong đó tri thức, tình cảm, kỹ năng liên
kết với nhau, đây là một quá trình phức tạp qua nhiều mắt khâu. Các mắt khâu ấy
chuyển đổi tương đối linh hoạt để hướng tới sự thay đổi nhận thức và hành vi của
các cá nhân và các nhóm.
Truyền thông ngoài việc cung cấp thông tin, nó còn có chức năng hướng
dẫn, chia sẻ, thái độ, tình cảm nhằm hướng tới mục tiêu thay đổi nhận thức, hành
vi. Truyền thông mang tính chất lựa chọn và chú trọng hướng tới đối tượng. Cơ
chế truyền thông vì thế mà đa dạng, phức tạp hơn, nó chú trọng đến quá trình xử lý
thông tin qua sự giao tiếp, thảo luận và phản hồi truyền thông. Như vậy, xét về bản
chất truyền thông có mục đích cung cấp thông tin, hình thành hiểu biết và thức tỉnh
hành động của con người.
15
1.3 Truyền thông đại chúng
Hệ thống TTĐC là phương tiện của các thiết chế xã hội, nhằm đảm bảo phổ
biến thông tin trên quy mô đại chúng được thực hiện bằng các hoạt động phát
thanh, truyền hình, và các hệ thống phát hành sách báo…Sự thành công của việc
thiết lập hệ thống internet Việt Nam năm 1997 là cột mốc lịch sử khi Việt Nam
chính thức hội nhập. Bên cạnh đó, lĩnh vực truyền thông cũng có bước đột phá
trong việc phát triển công nghệ kỹ thuật số, công nghệ thu phát vệ tinh. Quá trình
phủ sóng nhanh của mạng lưới điện thoại di động đã ghóp phần không nhỏ trong
việc phủ sóng thông tin, xây dựng cơ sở hạ tầng thông tin, mạng lưới thông tin.
Làm tiền đề cho việc phát triển các loại hình TTĐC đáp ứng nhu cầu thông tin
ngày càng cao của công chúng, phù hợp với xu thế xã hội thông tin hiện đại.
Sự phát triển nhanh nhạy của những loại hình phương tiện truyền thông đặt ra
phương tiện truyền thông khác. Với sự kết hợp hình ảnh động và âm thanh, truyền
hình mang đến cho con người cảm giác về cuộc sống thực đang diễn ra trước mắt.
Một cuộc sống đã được cô đọng lại làm giàu hơn ý nghĩa, làm sáng tỏ hơn về hình
thức và phong phú hơn về nội dung. Truyền hình mang đến cách nhìn mới, toàn
diện, cụ thể và vô cùng sống động. Thông qua truyền hình mà con người tiếp nhận
cuộc sống trong sự vận hành đa chiều của nó.
1.5 Khái niệm chương trình truyền hình
“Thuật ngữ chương trình truyền hình” được sử dụng trong hai trường hợp. Thứ
nhất: “Chương trình truyền hình” chỉ toàn bộ nội dung thông tin phát đi trong
ngày, trong tuần, trong tháng của mỗi kênh truyền hình hay của cả đài truyền hình.
Thứ hai: Chương trình truyền hình chỉ một hay nhiều tác phẩm hoàn chỉnh được
kết hợp với một số thông tin, tài liệu khác được tổ chức theo một chủ đề cụ thể với
hình thức tương đối nhất quán, thời lượng ổn định và được phát đi theo định kỳ.
Các chương trình trong ngày hay trong tuần được bố trí, phối hợp với nhau sao cho
vừa tránh nhàm chán, vừa tạo sự thu hút liên tục đối với công chúng, vừa phù hợp
với thời gian, điều kiện theo dõi người xem.
17
Chương trình truyền hình là sự gặp nhau giữa nhu cầu thị hiếu của công chúng
với mục đích và ý tưởng sang tạo của nhà truyền thông bằng phương tiện của đài
truyền hình. Một chương trình truyền hình có chất lượng là khi thu hút được sự
quan tâm của người xem và thể hiện được mục đích của người sang tạo. Mặt khác,
bất cứ một chương trình của đài truyền hình nào cũng hàm chứa những giá trị tư
tưởng, văn hóa đặc thù của mỗi dân tộc, quốc gia, giai tầng xã hội cụ thể.
2. Các quan điểm của Đảng và Nhà Nước về truyền thông đại chúng.
2.1. Đảng lãnh đạo truyền thông đại chúng
Cùng với sự phát triển đổi mới không ngừng của thời đại, Việt Nam cũng đã
và đang cố gắng hòa nhập cùng xu thế vận động của thế giới. Định hướng đất nước
tiến theo con đường xã hội chủ nghĩa là hướng đi riêng của quốc gia Việt Nam có
một chính đảng duy nhất lãnh đạo,Việt Nam có một thời cơ , thách thức mới cho
riêng mình. Trong tình hình ấy, công tác TTĐC là một trong những lĩnh vực hết
quan này là hai ban của trung ương đảng, tương đương với cấp bộ của chính phủ,
đây là hai cơ quan ngôn luận và lý luận chính thức của Trung Ương Đảng.
2.2. Nhà nước quản lý phương tiện tuyền thông đại chúng
Ở Việt Nam, Chính Phủ thống nhất quản lý toàn bộ hệ thống các phương
tiện TTĐC. Cơ quan chức năng được Chính Phủ giao cho trực tiếp quản lý Nhà
Nước đối với toàn bộ hệ thống các phương tiện TTĐC là Bộ Văn Hóa – Thông
Tin.
Nghị định số 81/CP ngày 8-11-1993 của Chính Phủ quy định rõ, ngoài việc
tổ chức, thực hiện các hoạt động phù hợp với pháp luật hiện hành, Bộ Văn Hóa –
Thông Tin còn có trách nhiệm tham mưu cho nhà nước về định hướng chiến lược
phát triển, xây dựng và ban hành hệ thống luật pháp và cụ thể hóa, hướng dẫn các
phương tiện TTĐC thực hiện đúng pháp luật. Bộ công an là cơ quan kiểm soát
thông tin và bảo đảm thông tin an toàn trên mạng.
Để đảm bảo quyền tự do thông tin và tiếp nhận thông tin của công dân. Điều
33 hiến pháp năm 1992 khẳng định “Nhà nước phát triển công tác thông tin, báo
chí, phát thanh, truyền hình, điện ảnh, xuất bản, thư viện và các phương tiện TTĐC
19
khác. Nghiêm cấm những hoạt động văn hóa, thông tin làm tổn hại quốc gia, phá
hoại nhân cách đạo đức và lối sống tốt đẹp của người Việt Nam”.
Các loại hình báo chí bao gồm báo in, phát thanh, truyền hình, các hãng
thông tấn là khu vực nhạy cảm nhất trong toàn bộ hệ thống TTĐC. Đây là khu vực
nhạy cảm nên được quan tâm đầu tiên trong việc hình thành luật để điều chỉnh và
quản lý hoạt động
Ngày 24/12/1956, Chủ Tich Hồ Chí Minh ký sắc lệnhsố 282 về chế độ báo
chí. Ngày 20/5/1957, Quốc Hội đã thông qua quyết định lấy sắc lệnh này làm luật
báo chí đầu tiên của chế độ. Đó là luật số 100SL – L002 về chế độ báo chí.
Ngày 28/12/1989, Quốc Hội thông qua luật báo chí mới và ngày 02/01/1990,
Chủ tịch Hội đồng nhà nước ký lệnh công bố luật này.
Ngày 12/06/1999, Quốc Hội khóa X thông qua luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của luật báo chí, đây là một bước tiếp tục hoàn thiện và cập nhật luật báo chí
hướng nghiệp cho người dân nông thôn; ba là: nhóm các chương trình phản ánh đa
chiều đời sống văn hóa - xã hội khu vực nông thôn cũng như đáp ứng phần nào
nhu cầu thưởng thức văn hóa, giải trí của người nông dân. Các chương trình trọng
điểm sẽ được VTC16 phát sóng là: Bản tin thị trường nông sản; Khuyến nông và
đào tạo hướng nghiệp cho nông dân; Nông nghiệp và hội nhập; Nhà nông làm
giàu; Bản tin thời tiết nông vụ; Đối thoại chính sách tam nông; Nông thôn mới
Khung thời gian phát sóng các chương trình của VTC16 được tập trung vào những
khoảng thời gian người dân nông thôn dành nhiều cho gia đình và theo dõi truyền
hình. Thời gian đầu, mỗi ngày VTC16 sẽ có 4 giờ phát sóng chương trình mới và
phát lại thêm 2 lần nữa trong ngày nhằm tạo thuận tiện cho nông dân có thể xem
chương trình.
Bộ trưởng Bộ TT&TT Lê Doãn Hợp Phát biểu tại buổi lễ đã nhấn mạnh:
“Kênh VTC16 về nông nghiệp - nông thôn ra đời sẽ góp phần đáp ứng nhu cầu
thông tin - nhu cầu chính đáng của hơn 50 triệu nông dân Việt Nam và mong
21
muốn các cán bộ công nhân viên Đài truyền hình KTS VTC nói chung và kênh
VTC16 nói riêng đoàn kết vươn lên, phối hợp, hỗ trợ lẫn nhau, trau dồi đạo
đức, chuyên môn và nghiệp vụ, phẩm chất và lối sống, ý thức sáng tạo trong tác
nghiệp để càng ngày chất lượng chương trình càng tốt hơn, càng được người
dân yêu thích”.
Căn cứ vào những quan điểm chỉ đạo sự nghiệp đổi mới công tác văn hóa tư
tưởng nói chung, đổi mới nội dung của hoạt động truyền thông đại chúng nói riêng,
nhất là trên phương diện truyền hình, Đài truyền hình Việt Nam phát triển các kênh
truyền hình theo những định hướng cụ thể sau:
Thứ nhất:
Các chương trình của Đài truyền hình Việt Nam phải giữ vai trò là nhân tố
tư tưởng ghóp phần vào việc xác định rõ mục tiêu lý tưởng, có tính giáo dục và có
nhiệm vụ điều chỉnh các mối quan hệ giữa con người với con người, giúp con
người hoàn thiện nhân cách xã hội chủ nghĩa của mình.
Thứ hai:
cảnh toàn cầu hóa” do T.s Lưu Hồng Minh (chủ biên) đã phần nào phác họa được
bức tranh thực trạng tiếp cận thông tin của người dân nông thôn qua phương tiện
truyền thông đại chúng.
a. Thực trạng tiếp cận phương tiện đài phát thanh
Tác giả Th.s Nhạc Phan Linh và Lê Thu Hà trong bài viết đánh giá kết quả
nghiên cứu tại tỉnh Đông Tháp: “sử dụng phát thanh của người dân vùng núi phía
bắc” bài viết được trích trong cuốn: “Truyền thông Việt Nam trong bối cảnh toàn
cầu hóa” ( đã trích) trong bài viết, tác giả đã cho thấy 41,4 % hộ gia đình ở Đồng
Tháp còn sử dụng đài radio (ti vi 93 %), 47,2 % số người được hỏi cho biết đã từng
nghe đài. Nhưng trong 1 tháng trở lại đây, tại thời điểm nghiên cứu chỉ có 28,8 %.
Tìm hiểu sâu hơn vấn đề này thì hầu như người dân cho rằng chương trình phát
thanh không hấp dẫn bằng chương trình truyền hình (54,6 %) và 37,9 % nhận định
rằng lý do đó là quan trọng nhất.
“Thực trạng tiếp cận các phương tiện truyền thông đại chúng của người dân
vùng Tây Bắc” - Khóa luận thạc sĩ xã hội học của tác giả Nguyễn Đức Hữu cũng
đưa ra kết quả tương tự. Có đến 75,2 % người dân không nghe đài, chỉ 6,0 % đồng
24
bào thường xuyên tiếp cận các chương trình phát thanh. Và lí do chủ yếu người
dân không nghe đài là vì họ không có phương tiện thu thanh (67,7%). Tác giả:
Dương Thu Hương (Th.s xã hội học, HVBC&TT) “Nhận diện công chúng qua
chương trình phát thanh” cũng đưa ra một lý do người dân khu vực này ít hoặc
không nghe đài vì họ quá nghèo, không có đài để nghe và cả vì họ cũng không có
thời gian để trú tâm đến những vấn đề này, họ còn mải lo truyện cơm áo gạo tiền,
không có nhu cầu.
Th.S xã hội học Bùi Thu Hương, khi nghiên cứu “Tiếp cận phát thanh của
người dân vùng núi phía bắc” (Khảo sát tại sáu xã phường thuộc hai tỉnh Lào Cai
và Yên Bái) cũng đưa ra kết luận tỷ lệ nghe đài của nam giới (33,2%) nhiều hơn
nữ giới (15,2%). Điều này lí giải một điều lý do tạo nên sự chênh lệch đó là do phụ
nữ phải đảm nhận công việc nhiều hơn nam giới, họ không có nhiều thời gian rảnh
rỗi để nghe đài. Nghiên cứu chỉ ra thời điểm công chúng muốn nghe đài: Đó là vào