ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐH NÔNG LÂM
----------
NGUYỄN QUỐC CƯƠNG
Đề tài:
“TÌM HIỂU NHU CẦU ĐÀO TẠO VÀ TẬP HUẤN VỀ SỬ DỤNG
MÁY NÔNG NGHIỆP CỦA HUYỆN TRÀNG ĐỊNH - LẠNG SƠN”
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
Chuyên ngành
Lớp
Khoa
Khoá học
Giảng viên hướng dẫn
: Chính quy
: Công nghiệp nông thôn
: 38 CNNT
: Khuyến nông &PTNT
: 2006 - 2011
: Ths. Cù Ngọc Bắc
THÁI NGUYÊN, 2011
PHẦN 1
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế phát triển và hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, những
năm gần đây cùng với sự phát triển của nhiều ngành kinh tế, ngành nông
nghiệp đang từng bước phát triển và khẳng định vai trò, vị trí quan trọng của
mình trong sự nghiệp đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước được thể hiện cụ thể tại
Hội nghị lần thứ 7 BCH TW Đảng bằng việc Hội nghị đã ban hành nghị quyết
nghiệp là hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay.
Vấn đề tìm hiểu nhu cầu đào tạo và tập huấn kiến thức sử dụng các
loại máy trong sản xuất nông nghiệp tại một địa phương cụ thể là một việc
làm cần thiết để có giải pháp phù hợp cho việc sử dụng máy móc phục vụ sự
nghiệp CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã
hội tại địa phương đó. Xuất phát từ thực tế trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài
“Tìm hiểu nhu cầu đào tạo và tập huấn về sử dụng máy nông nghiệp của
Huyện Tràng Định - Tỉnh Lạng Sơn”.
1.2 Mục đích nghiên cứu
Đánh giá hoạt động đào tạo và tập huấn cho người dân về sử dụng máy
móc phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, tìm hiểu nhu cầu người dân về đào
tạo, tập huấn trên địa bàn huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn. Từ đó đề xuất
một số giải pháp nhằm nâng cao công tác đào tạo và tập huấn trong giai đoạn
mới.
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
+ Tìm hiểu công tác đào tạo, tập huấn về sử dụng máy cho người dân
trên địa bàn huyện Tràng Định - Lạng Sơn
3
+ Đánh giá công tác đào tạo, tập huấn về sử dụng máy nông nghiệp trên
địa bàn huyện Tràng Định - Lạng Sơn về các khía cạnh: Đối tượng, nội dung,
phương pháp tập huấn, thời lượng tập huấn, tác động của tập huấn, tìm hiểu
nhu cầu tập huấn.
+ Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo, tập huấn
trong giai đoạn mới.
1.4 Ý nghĩa của đề tài
1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu
+ Trong quá trình thực hiện đề tài giúp sinh viên củng cố lại kiến thức
đã học, bổ sung kiến thức thực tế của các chương trình đào tạo, tập huấn về sử
dụng máy đã được học ở trường.
+ Bổ sung kiến thức về hiệu quả của một số chương trình đào tạo, tập
loại máy làm đất dành cho các loại cây trồng khác nhau, với kích cỡ khác nhau
nhưng nhìn chung chúng có đặc tính và nguyên lý làm việc giống nhau.
+ Cụm máy gieo, trồng, cấy: Làm công việc đưa hạt giống, mạ hoặc
cây con xuống đất. Tùy đặc tính của hạt có gần giống nhau hay không mà một
công cụ hoặc máy gieo hạt lại có thể áp dụng cho việc gieo hạt nhiều loại cây
khác nhau hoặc sử dụng máy gieo đơn lẻ. Máy trồng cây non dùng để trồng
một số loại cây trong nông nghiệp và cây công nghiệp như các loại rau: bắp
cải, cà chua, thuốc lá ngoài ra còn dùng để trồng các loại cây công nghiệp...
Máy cấy sử dụng để cấy mạ xuống đất, máy cấy có các loại như máy cấy mạ
dược, mạ thảm, mạ khay.
5
+ Cụm máy chăm sóc bao gồm: Máy bón phân cho cây trồng (phân hữu
cơ, phân vô cơ) để làm giàu đất. Nó có thể dùng chng cho tất cả các loại cây
trồng (trước khi làm đất) mà cũng có các loại đặc chủng cho từng loại cây
trồng khi bón phân trong quá trình sinh trưởng của cây. Máy sới, máy làm cỏ
làm công tác diệt cỏ, xới đất làm tăng lượng ôxy, nước trong đất cho cây
trồng. Các máy này cũng có thể kết hợp bón phân vô cơ trong quá trình xới,
bón. Hệ thống tưới với nhiệm vụ cung cấp cho cây trồng một lượng nước
thích hợp vào thời điểm cần thiết để đảm bảo tốc độ sinh trưởng và phát triển
của cây trồng.
+ Máy bảo vệ cây trồng: Nhiệm vụ của loại máy này là đưa lượng chất
hóa học đúng liều lượng và nồng độ, đúng lúc để diệt côn trùng, diệt bệnh cho
cây trồng nhằm đảm bảo cho cây trồng khỏe mạnh, cho năng suất cao. Máy
có nhiều chủng loại để có thể phục vụ cho thảm thực vật thấp hoặc cây trồng
lưu niên có chiều cao tới 10m.
* Hệ thống máy thu hoạch
Có nhiệm vụ thu lấy các sản phẩm đặc trưng của cây trồng như hạt, củ,
quả, lá, thân; có thể là thu riêng biệt hoặc là thu tất cả cùng một lúc cả sản
phẩm chính và phụ. Với từng loại cây trồng lại phải có từng loại máy thu
hoạch riêng biệt cho nó, vì thế máy thu hoạch lại càng đa dạng hơn và phức
Dường như nông nghiệp Nhật Bản không thể thành công nếu không có
sự phổ biến của máy móc, hóa chất và những thiết bị tiết kiệm lao động. Hiện
tại việc canh tác hầu như được làm bằng máy, các phương pháp canh tác
truyền thống nhanh chóng nhường chỗ cho các loại máy cày, máy ủi và nhiều
loại máy khác. Nhờ tất cả các yếu tố đó, tổng sản lượng gạo của Nhật tăng từ
9,5 triệu tấn trong năm 1950 lên 13 triệu tấn vào năm 1975.
7
Chỉ trong vòng một thế hệ, nền nông nghiệp truyền thống Nhật bản dựa
trên phương pháp thâm canh và đòi hỏi nhiều lao động đã chuyển thành một
hệ thống cần nhiều vốn và chủ yếu sử dụng máy móc, và nói chung kỹ thuật
mới của nông nghiệp Nhật Bản được coi là hình mẫu cho các nước đang phát
triển khác ở khu vực Châu Á.
Ngay các nước trong khu cực chúng ta vẫn còn phát triển chậm hơn so
với nước bạn rất nhiều. Với các nước có đặc điểm tương đồng như nước ta họ
cũng đã phát triển trước nước ta từ rất lâu.
Cơ chế quản lý nông nghiệp Việt Nam và Trung Quốc có nhiều điểm
tương đồng: đã trải qua một thời kỳ quản lý theo kiểu tập trung, bao cấp khá
kéo dài. Trong cơ chế cũ máy móc thiết bị chủ yếu thuộc sở hữu nhà nước
hoặc tập thể; quan hệ giữa quyền và nghĩa vụ của người lao động không cân
xứng, thiếu động lực cho người lao động, khiến cho máy móc thiết bị chẳng
những không phát huy hiệu quả như mong đợi mà còn nhanh chóng bị hao
mòn và hư hỏng.
Trung Quốc đã đổi mới trước chúng ta 10 năm và đang phát triển rất
mạnh mẽ. Cơ giới hóa trong nông nghiệp cũng được người dân Trung Quốc
áp dụng rộng rãi. Tính đến nay tỉ lệ cơ giới hoá nông nghiệp chung hiện nay
là: Kết quả tổng hợp đến nay toàn Trung Quốc tổng công suất đã trang bị
được 750 triệu kW, mức tăng hàng năm 25 triệu kW, bình quân mỗi 1000 ha
đất canh tác được trang bị:
Công suất máy nông nghiệp 6.250 kW
Máy kéo 150,6 kW
trung gắn liền với chế biến và ứng dụng khoa học công nghệ, trong đó đã
nhấn mạnh: tăng cường thực hiện cơ khí hóa các khâu sản xuất nông nghiệp,
trước hết là các khâu sản xuất quan trọng. Đến năm 2015, cơ giới hóa khâu
làm đất đạt 90% và đến năm 2020 phải đạt 100%, cơ giới hóa khâu gieo cấy
9
đạt từ 25 - 50%; thu hoạch từ 50 - 80%, trang bị nguồn động lực cho nông
nghiệp phải tăng lên từ 1,5 - 2,5 mã lực/ha. Với khâu cơ giới hóa phục vụ
chăn nuôi cần hình thành cơ sở giết mổ, chế biến thịt gắn với vùng nhiều sản
phẩm, trang thiết bị hiện đại đảm bảo yêu cầu của vệ sinh an toàn thực phẩm.
2.1.2.3 Tình hình an toàn vệ sinh lao động trong sử dụng máy nông
nghiệp ở Việt Nam.
Những năm gần đây, việc ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên
tiến vào sản xuất nông nghiệp đã góp phần giải phóng sức lao động, giảm
nặng nhọc cho người nông dân, nhưng cũng kéo theo những nguy hiểm tiềm
ẩn về mất an toàn vệ sinh lao động, ô nhiễm môi trường. Người nông dân
trong quá trình lao động tiếp xúc với nhiều nguy cơ mất an toàn vệ sinh lao
động, từ tai nạn điện, tai nạn do máy móc thiết bị ( máy cày, máy bừa, máy
phụt lúa, máy xay xát thóc gạo, lò sấy, lò ấp trứng..), nhiễm độc do việc sử
dụng các loại hoá chất bảo vệ thực vật không đúng quy trình, ô nhiễm
bụi..Hậu quả cũng đa dạng như say nắng, cảm lạnh, ngộ độc thuốc trừ sâu, tóc
bị máy cuốn, bị vật cứng, hạt thóc bắn vào mắt. Người thợ cày có thể bị ảnh
hưởng bởi nguồn rung ( cục bộ nếu điều khiển các thiết bị bằng tay như máy
mài, máy cưa, hay rung toàn thân như lái máy cày, máy bừa..)
Theo thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, năm 2008,
cả nước có 6.807 vụ nhiễm độc thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) với 7.572
trường hợp, tử vong 137 trường hợp, cao hơn năm trước 1,4 lần. Trong đó đa
phần là do nhiễm độc vì không sử dụng trang thiết bị bảo hộ, có một số ít là
uống nhầm thuốc trừ sâu. Tai nạn lao động trong sử dụng điện và máy móc
nông nghiệp chiếm tỷ lệ khá cao, tần suất tai nạn hiện nay là 7,99 ( tức là cứ
100.000 người lao động thì có 799 lượt người bị tai nạn lao động), tần suất
Ninh, Nghệ An, Quảng Bình, Quản Trị, Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam. Tổ
chức 25 lớp tập huấn kỹ thuật sử dụng máy nông nghiệp an toàn cho 1250 nông
11
dân tại 10 tỉnh: Thanh Hoá, Nam Định, Hải Phòng, Hà Nam, Thái Bình, Vĩnh
Phúc, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Điện Biên. Tổ chức 6 lớp tập huấn
về vệ sinh an toàn lao động, phòng chống cháy nổ cho 776 cán bộ quản lý, cán bộ
làm công tác công đoàn và lực lượng an toàn viên của ngành chế biến thủy sản,
cao su, mía đường. Qua các lớp tập huấn đã nâng cao ý thức trách nhiệm của người
sử dụng lao động, người lao động, người nông dân vận hành máy móc thiết bị
trong sản xuất nông nghiệp và nhất là lực lượng an toàn viên ở các doanh nghiệp
trong phòng tránh tai nạn lao động, phòng chống cháy nổ và vệ sinh lao động, góp
phần làm giảm tai nạn lao động cho người lao động trong ngành nông nghiệp . (Báo
cáo tổng kết năm 2010 của Bộ Nông Nghiệp)
2.3 Tình hình đào tạo, tập huấn về máy nông nghiệp ở Lạng Sơn
Những năm qua, công tác đào tạo, tập huấn về máy nông nghiệp cho
nông dân các dân tộc tại Lạng Sơn đã có bước phát triển tích cực, giúp người
dân tăng cường năng lực sáng tạo và tiếp cận tiến bộ khoa học công nghệ
mới; từ đó xuất hiện nhiều hộ nông dân tiên tiến biết làm giàu chính đáng cho
bản thân, gia đình và cộng đồng.
Tuy vậy công tác đào tạo, tập huấn chưa mang lại hiệu quả như mong
muốn, việc tiếp cận khoa học kỹ thuật, công nghệ trong người dân nông thôn
còn khiêm tốn. Thực tế này đặt ra cho công tác đào tạo, tập huấn cho nông
dân những yêu cầu cần giải quyết, nhằm phát huy nguồn lực tại chỗ phục vụ
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn.
Nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo, tập huấn cho nông dân, giai đoạn
2006 - 2010, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở NN&PTNT Lạng Sơn
đã ký kế hoạch liên ngành về tổ chức các lớp đào tạo, tập huấn ngắn hạn cho
nông dân các huyện, góp phần nâng cao trình độ, định hướng nghề nghiệp cho
người dân; tăng tỷ lệ nông dân được đào tạo kỹ thuật, có khả năng tiếp cận và
đưa khoa học kỹ thuật vào phục vụ sản xuất và đời sống, tao điều kiện cho
13
PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
+ Người sử dụng máy nông nghiệp trên địa bàn huyện Tràng Định -
Lạng Sơn.
+ Hệ thống máy nông nghiệp.
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu là các hộ nông dân sử dụng máy nông nghiệp
trên địa bàn huyện Tràng Định - Lạng Sơn.
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu của đề tài tại huyện Tràng Định - Lạng Sơn.
3.2.2 Thời gian Nghiên cứu
Đề tài được tiến hành nghiên cứu từ ngày 14 tháng 2 năm 2011 đến
tháng 6 năm 2011.
3.3 Nội dung nghiên cứu
3.3.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội và sản xuất nông nghiệp
huyện Tràng Định.
+ Đặc điểm về điều kiện tự nhiên
+ Đặc điểm về điều kiện kinh tế - xã hội
+ Đặc điểm về sản xuất nông nghiệp
3.3.2 Thực trạng hệ thống máy nông nghiệp của huyện Tràng Định
- Lạng Sơn.
+ Quy mô các loại máy nông nghiệp trên địa bàn.
+ Tình hình tập huấn kỹ thuật cho người dân trên địa bàn huyện
14
+ Đánh giá cơ bản về trình độ hiện tại của người dân sử dụng máy trên
+ Thống kê so sánh
16
PHẦN 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện
Tràng Định
4.1.1 Đăc điểm điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lý
Tràng Định là một huyện vùng cao biên giới nằm ở phía Bắc của tỉnh
Lạng Sơn, cách thành phố Lạng Sơn 70km theo đường quốc lộ 4A lên Cao
Bằng.
Phía Bắc giáp tỉnh Cao Bằng.
Phía Đông - Đông Bắc giáp Trung Quốc.
Phía Nam và Tây Nam giáp huyện Văn Lãng và huyện Bình Gia.
Phía Tây giáp huyện Na Rì tỉnh Bắc Kạn và tỉnh Thái nguyên.
Tràng Định có 53 km đường biên giới với Trung Quốc, 2 cặp chợ biên
giới Nà Nằm và Canh Va, nhiều đường bộ, đường sông thông thương với
Trung Quốc, với vị trí này tạo thuận lợi cho việc giao lưu trao đổi hàng hoá,
dich vụ với Trung Quốc và thúc đẩy phát triển các hoạt động thương mại - du
lịch trên địa bàn huyện.
Tràng Định có 23 đơn vị hành chính gồm thị trấn Thất Khê và 22 xã:
Khánh Long, Đoàn Kết, Cao Minh, Vĩnh Tiến, Tân Yên, Tân Tiến, Bắc Ái,
Chí Minh, Kim Đồng, Quốc Khánh, Tri Phương, Chi Lăng, Đề Thám, Hùng
Sơn, Đại Đồng, Đội Cấn, Tân Minh, Trung Thành, Kháng Chiến, Hùng Việt,
Quốc Việt và Đào Viên. Với tổng diện tích tự nhiên là 99962,41 ha, địa hình
chia cắt mạnh, có nhiều núi cao xen kẽ các thung lũng hẹp ven sông, suối và
thung lũng núi đá vôi. Độ cao trung bình 200-500m, có các đỉnh cao 820, 636,
675 tập trung ở các xã biên giới, độ dốc trung bình 25-30
0
.
3.3 Đất núi đá không có rừng cây NCS 1.941,31
(Nguồn: Phòng Nông nghiệp & PTNT huyện Tràng Định)
Tràng Định là huyện thuần nông nên tỷ trọng đất nông nghiệp chiếm tỷ
lệ rất cao (95,34% năm 2010)
Bảng 4.2 Cơ cấu đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Tràng
Định năm 2010
STT Mục đích sử dụng Mã Diện tích Cơ cấu
18
(ha) (%)
Đất sản xuất nông nghiệp SXN 5.676,83 100
1 Đất trồng cây hàng năm CHN 4.858,58 85,59
1.1 Đất trồng lúa LUA 3.724,07
1.1.
1
Đất chuyên trồng lúa nước LUC 1.923,24
1.1.
2
Đất trồng lúa nước còn lại LUK 1.791,73
1.1.
3
Đất trồng lúa nương LUN 9,00
1.2 Đất cỏ dùng vào chăn nuôi COC 6,50
1.3 Đất trồng cây hàng năm khác HNK 1.128,01
1.3.
1
Đất bằng trồng cây hàng năm khác BNK 432,24
1.3.
2
Đất nương rẫy trồng cây hàng năm khác NHK 695,77
2 Đất trồng cây lâu năm CLN 818,25 14,41
rạch có khả năng cung cấp nước sinh hoạt và phục vụ sản xuất, phát triển các
công trình thuỷ lợi nhỏ và thuỷ điện nhỏ phục vụ sản xuất và đời sống.
4.1.1.4 Tiềm năng du lịch
Tràng Định là nơi nổi tiếng với những di tích lịch sử như khu căn cứ
địa cách mạng Chí Minh, Đội Cấn, Hùng Sơn, Chi Lăng, Quốc Khánh, Bông
Lau, Chiến dịch đường 4, Hang Cóc Mười (Tri Phương)…
Tràng Định còn có các lễ hội Bủng Kham (mùng 4 tháng giêng âm lịch
hàng năm), lễ hội Báo Slao (21 tháng giêng âm lịch hàng năm) là những lễ
hội lớn và thu hút sự quan tâm và tham gia của đông đảo quần chúng.
Tràng Định cũng là địa phương nổi tiếng với những đặc sản như: lợn
quay, vịt quay, mận Thất Khê, lê Tràng Định, quýt Kim Đồng…
4.1.2 Đặc điểm về kinh tế - xã hội
1. Tình hình dân số, lao động.
Theo số liệu thống kê tính đến 01/4/2009 toàn huyện có 14.636 hộ,
tổng số nhân khẩu 61.472 người chiếm 8,3 dân số của cả tỉnh. Trong đó có
37.186 người trong độ tuổi lao động chiếm 61% tổng lao động trong đó lao
động làm việc trong các ngành nông, lâm nghiệp là 23.709 người (chiếm
63,76%).
Mật độ trung bình là 56,18 người/km
2
thấp hơn so với mật độ chung
của cả tỉnh và các huyện khác. Sự phân bố dân cư không đều, phân tán, có xã
rất đông (xã Đại Đồng) là 243,9 người/km
2
, có xã rất thưa (xã Đội Cấn) là
20
17,6 người /km
2
, gây khó khăn cho việc đầu tư cơ sở hạ tầng, phát triển kinh
tế xã hội.
tích trồng thạch đen là 2026,4 ha, năng suất 57tạ/ha, sản lượng 8.318 tấn.
3. Cơ sở hạ tầng
Trong những năm qua các cơ sở hạ tầng của huyện chưa có sự đầu tư
thích hợp nên các công trình cơ sở hạ tầng thấp kém cả về số lượng và chất
lượng.
- Về giao thông: Huyện Tràng Định nằm trên trục QL 4A từ thành phố
Lạng Sơn đi Cao Bằng, quốc lộ 3B ngoài ra còn có các tuyến tỉnh lộ như
299, 226… và các tuyến đường lên xã được dải nhựa, còn các tuyến đường
nội bộ trong các xã đã được đầu tư mở rộng.
Tuy nhiên bên cạnh đó trong các xã còn một số con đường nhỏ hẹp,
chất lượng thấp, cần được nâng cấp, cải tạo trong thời gian tới, để phục vụ
cho quá trình phát triển kinh tế xã hội của huyện.
- Về thuỷ lợi: Có hệ thống thuỷ lợi cơ bản đảm bảo nước cho các ruộng
lúa trong toàn huyện. Tuy các công trình chất lượng chưa cao và bị phá hoại
do lũ lụt về mùa mưa.
- Các công trình văn hoá phúc lợi: Huyện có trụ sở UBND cấp huyện,
Bệnh viện, Trường Trung học, Trường Tiểu học, Trường Mẫu giáo, Bưu
điện… Nhìn chung các công trình đáp ứng đủ nhu cầu hoạt động văn hoá xã
hội của cán bộ và nhân dân trong huyện.
4.2 Thực trạng hệ thống máy nông nghiệp của huyện Tràng Định -
Lạng Sơn.
4.2.1 Tình hình sử dụng các loại máy nông nghiệp
4.2.1.1 Thống kê các loại động lực dùng trên địa bàn
22
* Động lực di động
+ Máy kéo: là loại động lực di động, liên hợp với các máy nông nghiệp
khác như: cày, phay, bừa, bánh lồng … để thực hiện các khâu canh tác trên
đồng, chủ yếu là làm đất.
Trên địa bàn đang sử dụng là loại máy kéo bánh lốp cầm tay loại 2
bánh. Sử dụng động cơ điezen 4 kỳ làm mát bằng nước hoặc không khí. Các
xăng 2 kỳ 1 xylanh làm mát bằng không khí, sử dụng xăng pha nhớt, 4-5% là
nhớt.
Ly hợp là dạng ly hợp quả văng tự động. Lực ép lớn hay nhỏ phụ thuộc
tốc độ tối đa của máy (lực văng ly tâm)
Bộ phận cắt là đĩa cắt bằng thép, có loại dạng răng liền hoặc răng lắp
rời.
+ Thiết bị phun thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) gồm 2 loại chủ yếu sau:
- Bình phun thuốc BVTV đeo vai thủ công
- Máy phun thuốc BVTV đeo vai.
Máy phun thuốc BVTV đeo vai: Chủ yếu là loại máy phun thuốc sử
dụng động cơ xăng 4 kỳ, 1 xy lanh, dung tích xy lanh từ 25-35 cc, có loại máy
sử dụng xăng A92, một số loại thì sử dụng xăng pha chì, hệ thống làm mát
bằng gió cưỡng bức, công suất khoảng 0,8kw (1,1 mã lực), khởi động bằng
tay (dây kéo), dung tích bình chứa thuốc từ 12-20 lít. Sử dụng quạt tốc độ
quay lớn để dòng khí có vận tốc lớn xé tơi thuốc phun ra ngoài hoặc bơm áp
lực, áp lực phun dao động từ 15 - 35 kg/cm
2
.
* Động lực tĩnh tại
Máy tĩnh tại gồm: Máy đập lúa, máy tẽ ngô, máy xay xát, máy nghiền,
máy bơm nước…
24
+ Máy bơm nước: Thường phổ biến là các loại máy bơm cánh quạt
( gồm máy bơm nước li tâm, hướng trục… ). Loại máy bơm này, các cánh
quạt gắn trên bánh xe công tác sẽ truyền trực tiếp năng lượng lên chất lỏng để
đẩy chất lỏng dịch chuyển.
Loại bơm này thường có lưu lượng lớn, cột áp thấp (trong bơm nước
gọi cụ thể là cột nước) và hiệu suất tương đối cao. Động cơ của máy bơm rất
đa dạng, có thể là động cơ điện 1 pha (bơm nhỏ) hoặc động cơ điện 3 pha,
động cơ xăng 4 kỳ, hoặc động cơ điezen 4 kỳ.