i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của
riêng tôi. Các số liệu sử dụng phân tích trong luận án có nguồn gốc rõ
ràng, đã công bố theo đúng quy định. Các kết quả nghiên cứu trong luận
án do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan và phù
hợp với thực tiễn của Việt Nam. Các kết quả này chưa từng được công bố
trong bất kỳ nghiên cứu nào khác. Tác giả luận văn
Lục Minh Tuệ ii
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG
CỦA NHTM TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG 5
1.1 Tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trường: 5
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm tín dụng ngân hàng: 5
1.1.2 Vai trò tín dụng Ngân hàng đối với nền kinh tế thị trường: 7
1.1.3 Các loại cho vay của ngân hàng: 9
1.2 Chất lượng tín dụng và nhân tố ảnh hưởng chất lượng tín dụng 11
1.2.1 Khái niệm chất lượng tín dụng ngân hàng thương mại. 11
1.2.2 Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng tín dụng: 12
trách nhiệm thẩm định và thu nợ của nhóm (tổ tín chấp). 58
3.2.3 Thực hiện cho vay tín chấp mở rộng cho vay tín chấp trên cơ sở đảm
bảo tiền vay bằng tài sản hình thành vốn vay hoặc quản lý chặt chẽ dòng
tiền. 60
3.2.4 Thực hiện công tác thu nợ có hiệu quả bằng cách theo dõi bán hàng
một cách chặt chẽ nguồn thu , ngăn ngừa nợ quá hạn tiềm ẩn và nợ quá hạn
mới phát sinh : 60
3.2.5 Ngân hàng đưa ra các sản phẩm khuyến khích cho những khách hàng
uy tín trả nợ và hoàn vốn nhanh. 63
3.2.6 Giải pháp tăng cường năng lực thẩm đinh trong món vay hoàn thiện
quy trình kinh tế hộ. 65
3.2.7 Giải pháp bổ trợ. 67
3.3. Kiến nghị 69
3.3.1 Kiến nghị với Nhà nước. 69
iv
3.3.2 Kiến nghị với chính quyền địa phương. 70
3.3.3 Kiến nghị với NHNo & PTNT Việt Nam. 70
KẾT LUẬN 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
v DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
TỪ VIẾT TẮT
NGHĨA ĐẦY ĐỦ
Tràng Định từ năm 2011 – 2013 36
Bảng 2.3: Tình hình sử dụng vốn tín dụng của NHNo & PTNT Huyện
Tràng Định từ năm 2011 – 2013 39
Bảng 2.4: Tình hình nợ quá hạn theo cơ cấu của NHNo & PTNT Huyện
Tràng Định từ năm 2011 – 2013 43
Bảng 2.5: Tỷ lệ nợ xấu của NHNo & PTNT Huyện Tràng Định từ năm
2011 – 2013 45 1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong công cuộc đổi mới Đảng ta đã khởi xướng chuyển nền kinh
tế nước ta từ tập trung quan liêu bao cấp, sang nền kinh tế thị trường có
sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Sau gần 20
năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, đất nước ta đã đạt được
những thành tựu, những chuyển biến đáng kể, đã khơi dậy những tiềm
năng, nền kinh tế xã hội từng bước ổn định và phát triển, đời sống nhân
dân không ngừng được cải thiện và nâng cao. Có thể nói nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã thâm nhập vào hầu hết các lĩnh
vực kinh tế xã hội Việt Nam làm cho đất nước ta thay đổi từng ngày, tạo
cho ta nhiều cơ hội, nhiều bước phát triển mới để hội nhập với thế giới.
Cùng với chuyển biến của nền kinh tế, hệ thống ngân hàng cũng đổi mới
cho phù hợp với chủ trương phát triển một nền kinh tế hàng hóa nhiều
thành phần có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước. Từ ngân hàng một cấp vừa
quản lý vừa kinh doanh chuyển thành hệ thống ngân hàng 2 cấp: Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan quản lý Nhà nước về tiền tệ tín dụng
và là Ngân hàng Trung ương, hệ thống các Ngân hàng Thương mại thực
pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với kinh tế hộ gia đình tại ngân
hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Tràng Định, tỉnh
Lạng Sơn" mang tính cấp thiết và ý nghĩa thực tiễn quan trọng nhằm tìm
hiểu về chất lượng tín dụng của ngân hàng đối với hộ gia đình, nhu cầu
vay vốn của hộ, góp phần thực hiện các chủ trương lớn của Đảng và Nhà
nước .
2. Mục đích nghiên cứu
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về NHTM, tín dụng, chất lượng
tín dụng trung và dài hạn của NHTM.
- Khảo sát tình hình thực tế, phân tích, đánh giá về chất lượng tín tại ngân
hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Tràng Định, tỉnh Lạng
3
Sơn, những kết quả đạt được, những yếu kém và tìm ra những nguyên
nhân của những yếu kém đó.
- Đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tín ngân
hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Tràng Định, tỉnh Lạng
Sơn, đảm bảo an toàn phát triển bền vững.
Khóa luận nghiên cứu các vấn đề cơ bản về hoạt động tín dụng và tình
hình chất lượng tín của ngân hàng thương mại, xem xét đánh giá về thực
trạng chất lượng tín dụng tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông
thôn huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn. Từ đó đưa ra các giải pháp, kiến
nghị nhằm nâng cao chất lượng tín dụng tại chi nhánh, góp phần nâng cao
chất lượng tín dụng tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là hoạt động tín dụng và chất lượng tín dụng kinh
tế hộ gia đình
Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: Đề tài chỉ khảo sát hoạt động của ngân hàng nông
những khiếm khuyết. Em rất mong nhận được sự chỉ bảo và ý kiến đóng
góp của thầy cô giáo và bất cứ ai quan tâm tới vấn đề này để khóa luận
của em được hoàn thiện và sâu sắc hơn.
Qua đây, em xin chân thành cảm ơn toàn thể các giảng viên khoa Tài
chính ngân hàng đã truyền đạt cho em những kiến thức cơ bản và vô cùng
quan trọng về tài chính và ngân hàng. Em xin chân thành gửi lời cảm ơn
sâu sắc nhất đến thầy giáo – Tiến Sĩ Nguyễn Thạc Hoát, người đã trực
tiếp hướng dẫn chỉ bảo em để em có thế hoàn thành được bài viết này.
Em cũng xin cảm ơn các cán bộ của chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và
phát triển nông thôn huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn đã tạo điều kiện
thuận lợi cho việc nghiên cứu của em trong thời gian thực tập tại NH.
5
CHƢƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG
TÍN DỤNG CỦA NHTM TRONG NỀN KINH TẾ THỊ
TRƢỜNG
1.1 Tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trƣờng:
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm tín dụng ngân hàng:
Tín dụng (credit) xuất phát từ chữ Latin là credo (tin tưởng, tín nhiệm).
Cùng với thời gian, thuật ngữ tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác
nhau. Ngay cả trong quan hệ tài chính, tuỳ theo từng bối cảnh cụ thể,
thuật ngữ tín dụng được hàm chứa theo những nội dung riêng:
- Xét trên góc độ chuyển dịch quỹ cho vay từ chủ thể thặng dư tiết kiệm
sang chủ thể thiếu hụt tiết kiệm thì tín dụng được coi là phương pháp
chuyển dịch quỹ từ người cho vay sang người đi vay.
- Trong mối quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là một giao dịch về tài sản
trên cơ sở hoàn trả giữa hai chủ thể. Ví dụ, một công ty thương mại bán
hàng trả chậm cho một công ty khác, trong trường hợp này người bán
chuyển giao hàng hoá cho bên mua và sau một thời gian nhất định theo
Trước những năm 1960, hoạt động tín dụng của ngân hàng hầu như chỉ
cho vay bằng tiền. Xuất phát từ những đặc thù đó mà nhiều lúc thuật ngữ
tín dụng và cho vay được coi đồng nghĩa với nhau. Ngày nay, dịch vụ
ngân hàng phát triển, việc cho thuê vận hành và cho thuê và cho thuê tài
chính đã được các ngân hàng hoặc các định chế tài chính khác cung cấp
cho khách hàng. Đây là một sản phẩm kinh doanh của ngân hàng, một
hình thức tín dụng bằng tài sản thực ( cho thuê văn phòng làm việc,
phương tiện vận tải, máy móc – thiết bị…).
- Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, nên người cho vay chuyển giao
tài sản cho người đi vay sử dụng, họ phải có cơ sở để tin rằng người đi
7
vay trả đúng hạn. Đây là yếu tố hết sức cơ bản trong quản trị tín dụng.
Trong thực tế, một số nhân viên tín dụng khi xét duyệt cho vay không
dựa trên cơ sở đánh giá mức độ tín nhiệm về khách hàng mà lại chú trọng
đến các bảo đảm, chính quan điểm này đã làm ảnh hưởng không tốt đến
chất lượng tín dụng.
- Giá trị hoàn trả thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nói
cách khác là người đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài vốn gốc. Để thực
hiện được nguyên tắc này phải xác định lãi suất danh nghĩa lớn hơn tỷ lệ
lạm phát, hay nói cách khác phải xác định lãi suất thực dương (Lãi suất
thực = lãi suất danh nghĩa – tỷ lệ lạm phát). Tuy nhiên, vì lãi suất chịu
ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau nên trong một số trường hợp cụ
thể lãi suất danh nghĩa có thể thấp hơn lạm phát, ngoại lệ này chỉ tồn tại
trong một số giai đoạn ngắn.
- Trong quan hệ ngân hàng tiền vay được cung cấp trên cơ sở cam
kết hoàn trả vô điều kiện. Về khía cạnh pháp lý, những văn bản xác định
quan hệ tín dụng như hợp đồng tín dụng, khế ước…thực chất là lệnh
phiếu (promissory note), trong đó bên đi vay cam kết hoàn trả vô điều
kiện cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
vốn ra nước ngoài và kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá là hai lĩnh vực
hợp tác quốc tế thông dụng và phổ biến nhất giữa các nước. Vốn là nhân
tố quyết định đầu tiên cho việc thực hiện quá trình này. Nhưng trên thực
tế không phải một tổ chức kinh tế nào, một nhà kinh doanh nào cũng có
đủ vốn để hoạt động. Ngân hàng với tư cách là một tổ chức kinh doanh
tiền tệ, thông qua hoạt động tín dụng sẽ là trợ thủ đắc lực về vốn cho các
nhà đầu tư và kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá.
Ba là: Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy nền kinh tế tăng
trưởng. Tín dụng ngân hàng góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng công nghiệp – nông nghiệp – dịch vụ. Trong mọi lĩnh vực sản xuất
9
kinh doanh và dịch vụ tái mở rộng hoạt động, mọi chu kỳ đều phải bắt
đầu từ tiền và kết thúc bằng tiền. Để tăng nhanh vòng quay vốn, mỗi chủ
thể kinh doanh phải tìm kiếm và thực hiện nhiều biện pháp như cải tiến
kỹ thuật, tìm kiếm thị trường mới. Tất cả những công việc đó đòi hỏi phải
có nhiều vốn và kịp thời. Tín dụng ngân hàng là nguồn cung ứng vốn cho
các nhu cầu đó. Mặt khác, vốn ngân hàng cung ứng cho các nhà kinh
doanh bằng việc cho vay với điều kiện phải hoàn trả cả gốc và lãi theo
đúng thời hạn quy định. Do đó các nhà doanh nghiệp phải tìm nhiều biện
pháp để sử dụng vốn có hiệu quả, tăng nhanh vòng quay của vốn, trả nợ
vay đúng hạn cả gốc lẫn lãi. Thực hiện được việc này trong nền kinh tế
thị trường là cuộc vật lộn, cạnh tranh gay gắt và quyết liệt, vì thế tín dụng
góp phần làm cho nền kinh tế hàng hoá phát triển ngày một cao.
Bốn là: Trong nền kinh tế thị trường, sự hoạt động của thị trường
vốn, thị trường tiền tệ là các mặt hoạt động liên quan đến quan hệ tín
dụng ngân hàng và nhờ có hoạt động này mà việc phát hành cổ phiếu,
chuyển nhượng và mua bán cổ phiếu mới có môi trường hoạt động.
Như vậy, tín dụng ngân hàng có vai trò hết sức quan trọng không chỉ đối
với ngân hàng mà còn đối với cả xã hội. Tuy nhiên, để tín dụng ngân
tượng cho vay chủ yếu là xây dựng, mua sắm nhà cửa, xe, các hàng hoá
tiêu dùng khác.
c) Theo sự đảm bảo tiền vay.
- Cho vay không đảm bảo (tín chấp): Là loại cho vay không có
tài sản thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, việc cho vay
chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng hoặc ngân hàng thực hiện cho
khách hàng vay theo chỉ định của chính phủ.
- Cho vay có đảm bảo: Là việc cho vay vốn của tổ chức tín dụng
mà theo đó nghĩa vụ trả nợ của khách hàng được cam kết đảm bảo thực
hiện bằng tài sản cầm cố, thế chấp, tài sản hình thành từ vốn vay của
khách hàng hoặc bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba.
11
d) Theo hình thái giá trị tín dụng.
- Cho vay bằng tiền: là loại cho vay mà hình thái của nó là tiền tệ.
Đây là loại cho vay phổ biến và của yếu của các ngân hàng
- Cho vay bằng tài sản (leasing) : là hình thức cho vay mà người
vay nhận khoản vay bằng tài sản được quy bằng tiền thông qua các hợp
đồng tài trợ thuê mua.
e) Theo phƣơng pháp cho vay.
- Cho vay trực tiếp: ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho khách hàng.
- Cho vay gián tiếp: là khoản vay được thực hiện thông qua việc
mua lại các hợp đồng vay vốn hoặc chứng từ nợ phát sinh và còn trong
thời hạn thanh toán. Các hình thức cho vay gián tiếp là: chiết khấu
thương mại, mua các khoản nợ của doanh nghiệp, mua phiếu bán hàng.
f) Theo phƣơng pháp hoàn trả.
- Cho vay trả góp: là loại cho vay mà ngân hàng và khách hàng xác
định và thoả thuận số tiền lãi vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia
ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay. Loại cho vay này
thường áp dụng trong cho vay tiêu dùng, cho vay kinh doanh buôn bán
Nâng cao chất lượng tín dụng đồng nghĩa với việc Ngân hàng có khả
năng thu nợ đầy đủ và đúng hạn. Nhờ đó, Ngân hàng có điều kiện mở
rộng khả năng cung cấp tín dụng cũng như các dịch vụ Ngân hàng khác.
Nâng cao chất lượng tín dụng sẽ giúp cho Ngân hàng thu hút được nhiều
khách hàng hơn, tạo được hình ảnh, uy tín tốt, nâng cao khả năng cạnh
tranh trên thị trường. Mặt khác, việc thoả mãn tốt nhu cầu khách hàng
giúp Ngân hàng giữ họ gắn bó lâu dài với mình. Tài chính là lĩnh vực đầy
biến động phức tạp, sự hiểu biết sâu sắc lẫn nhau làm giảm rủi ro do thiếu
thông tin.
Hiện nay, các Ngân hàng thương mại có xu hướng chuyển sang cạnh
tranh bằng chất lượng dịch vụ bởi vì chính sách giá cả đã trở nên lỗi thời,
13
gây tổn thương cả hệ thống do khoảng cách giữa giá đầu vào và đầu ra bị
thu hẹp, khiến lợi nhuận các Ngân hàng sụt giảm nghiêm trọng. Vì thế,
nâng cao chất lượng tín dụng là yêu cầu khách quan và là xu thế phát
triển chung.
1.2.3 Chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng của ngân thương mại.
1.2.3.1 Ch ng:
Nhóm chỉ tiêu dƣ nợ tín dụng
Tổng dư nợ tín dụng ngân hàng bao gồm: Dư nợ ngắn hạn, dư nợ trung
dài hạn, vốn góp đồng tài trợ. Chỉ tiêu này được tính bằng số tuyệt đối, nó
phản ánh doanh số cho vay của ngân hàng trong một thời kỳ nhất định
(thường là một năm). Tổng dư nợ thể hiện năng lực của NHTM. Tổng dư
nợ cao chứng tỏ ngân hàng cho vay được nhiều, uy tín của ngân hàng
tương đối tốt, có khả năng thu hút khách hàng vàlợi nhuận kỳ vọng cao.
Ngược lại, khi tổng dư nợ thấp chứng tỏ ngân hàng không có khả năng
mở rộng và phát triển cho vay, uy tín của ngân hàng chưa cao, hoạt động
quảng bá, tiếp thị thiếu nhạy bén. Tuy nhiên, tổng dư nợ cao không đồng
nghĩa với chất lượng tín dụng tốt, bởi lợi nhuận kỳ vọng luôn đi cùng với
ngân hàng càng lớn. Nói chung, các ngân hàng đều mong muốn tỷ lệ này
cao do tín dụng mang lại thu nhập cao hơn so với tín dụng ngắn hạn. Tuy
nhiên, do đặc tính rủi ro cao nên ngân hàng sẽ căn cứ vào đặc điểm riêng
của nguồn vốn, khả năng quản lý, trình độ chuyên môn,khách hàng cho
vay của mình để xác định tỷ lệ này cho phù hợp.
-Hệ số sử dụng vốn
Chỉ tiêu này phản ánh tỷ lệ vốn cho vay trong tổng nguồn vốn mà ngân
hàng huy động được. Bởi vì nếu tỷ lệ thấp thì ngân hàng sẽ không thu
được nhiều lợi nhuận. Còn nếu tỷ lệ này cao sẽ gây ảnh hưởng đến tính
thanh khoản của ngân hàng do tỷ lệ dự trữ thấp. Tuy nhiên hiện nay,các
ngân hàng thương mại hầu hết đã chuyển sang cơ chế quản lý vốn tập
trung (FTP ) và thực hiên mua bán vốn giữa các chi nhánh và hội sở
chính.Chính vì vậy chỉ tiêu hệ số sử dụng vốn không còn quá quan trọng
trong việc đánh giá chất lượng tín dụng của các chi nhánh.Một khía cạnh
15
nào đó thì chỉ tiêu này chỉ ra sự tương quan giữa việc huy động vốn và
việc cho vay với nguồn vốn, giúp các chi nhánh định hướng lại các hoạt
động của mình
Nhóm chỉ tiêu nợ quá hạn
Nợ quá hạn là một chỉ tiêu quan trọng và phổ biến khi đánh giá chất
lượng tín dụng đặc biệt là chất lượng tín dụng. Quyết định 493/2005/QĐ-
NHNN quy định nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ
gốc và/hoặc lãi đã quá hạn. Nguyên nhân có thể do khách hàng đã tuân
thủ đúng kế hoạch kinh doanh những vẫn làm ăn thua lỗ và không có khả
năng trả nợ đúng hạn cho ngân hàng,hay rủi ro đạo đức xảy ra khi khách
- Tỷ lệ nợ xấu
Nợ xấu là các khoản nợ của ngân hàngthuộc các nhóm 3, 4 và 5 đượcquy
định trong Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN. Nợ xấu là biểu hiện không
lành mạnh của quá trình hoạt động của các NHTM, thể hiện sự rủi ro mà
khách hàng gây ra đối với ngân hàng. Các khoản nợ xấu không chỉ kéo
dài thời gian của các khoản tín dụng, mà còn dẫn tới khả năng mất vốn,
mất khả năng thanh toán, ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng và hoạt
động kinh doanh của ngân hàng.Vì theo quy định của NHNN,các khoản
nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5 đều phải trích lập DPRR tín dụng từ 20 % đến
100 %,ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng.Bên
cạnh đó,nợ xấu tồn đọng còn làm ảnh hưởng đến niềm tin của ngân hàng
đối với doanh nghiệp,mất động lực cho vay của ngân hàng với nền kinh
tế. Tỷ lệ nợ xấu càng cao, cho thấy khả năng thu hồi các khoản nợ càng
thấp, chất lượng tín dụng giảm,trích lập DPRR lớn. Ngược lại, nợ xấu
chiếm tỷ trọng thấp thì chất lượng tín dụng được nâng lên,niềm tin giữa
khách hàng và ngân hàng được cải thiện,thúc đẩy hoạt động tín dụng tăng
trưởng
Nhóm chỉ tiêu lợi nhuận từ hoạt động tín dụng
17
Chất lượng tín dụng xét trên khía cạnh ngân hàng bao gồm hai khía cạnh:
lợi nhuận và an toàn. An toàn là điều đầu tiên được đặt ra trong hoạt động
rất quan trọng trong việc quyết định đến chất lượng tín dụng. Cơ sở vật
18
chất chi nhánh, thái độ phục vụ của các bộ nhân viên hay quy trình tín
dụng phức tạp hay đơn giản vô hình chung tác động và ảnh hưởng đến
chất lượng tín dụng. Đó chính là các chỉ tiêu định tính. Sau đây chúng ta
sẽ cùng tìm hiểu xem các chỉ tiêu này đóng vai trò và ảnh hưởng như thế
nào đến chất lượng tín dụng của doanh nghiệp.
Quy trình tín dụng
Khách hàng đến với ngân hàng với mục đích vay vốn. Để tiếp cận được
vốn vay, ngân hàng đòi hỏi khách hàng phải thực hiện một số thủ tục theo
những quy trình nhất định. Điều này là cần thiết, vừa đảm bảo tuân thủ
quy định của pháp luật về nghiệp vụ tín dụng, vừa đảm bảo an toàn cho
hoạt động của ngân hàng. Tuy nhiên, tâm lý khách hàng khi đến ngân
hàng là mong muốn thỏa mãn được nhu cầu giải ngân vốn với thời gian
nhanh nhất và chi phí thấp nhất. Các thủ tục, quy trình gây ảnh hưởng
không nhỏ tới quyết định của khách hàng có tiếp tục làm việc với ngân
hàng hay không.Càng đơn giản, nhanh chóng,càng nhận được sự hỗ trợ
của cán bộ tín dụng để sớm hoàn thành thủ tục thì càng nhận được sự
đánh giá cao của khách hàng. Do đó, thủ tục, quy trình cần đơn giản,
thuận tiện, giải ngân vốn nhanh chóng, kịp thời, kỳ hạn và phương thức
thanh toán phù hợp với chu kỳ kinh doanh của khách hàng; song vẫn phải
tuân thủ đúng quy trình tín dụng.
Uy tín ngân hàng
Thông thường, khách hàng luôn có xu hướng tìm đến vay vốn những
ngân hàng lâu năm, có uy tín trên thị trường.Ngân hàng càng có uy tín,số
lượng khách hàng càng đông, chứng tỏ chất khả năng để vay được vốn
càng lớn. Số lượng khách hàng càng lớn,ngân hàng càng có nhiều cơ hội
cáp tín dụng,từ đó việc tìm được những khách hàng tốt,cho vay được
những khoản vay có chất lượng cao là rất nhiều,từ đó nâng cao được chất
ngân hàng,tăng tính tiện ích và thuận lợi cho khách hàng khi làm việc với
ngân hàng.