248 Kế toán cho vay và nâng cao chất lượng tín dụng thành phần kinh tế ngoài quốc doanh tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn (AgriBank) Tây HN - Pdf 20

Khoá luận tốt nghiệp
lời nói đầu
Một quốc gia đợc gọi là phát triển khi có nền kinh tế phát triển, trình độ
khoa học tiên tiến, quốc phòng an ninh vững mạnh. Đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nớc là phát huy nội lực của nền sản xuất trong nớc và tiếp
thu những thành tựu KH-KT tiên tiến trên thế giới, đảm bảo sự phát triển bền
vững của đất nớc. Với chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nớc, để phù hợp
điều kiện phát triển kinh tế xã hội của đất nớc ta hiện nay, tập trung vốn đầu t,
tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nớc mở rộng và phát triển là cần thiết.
Trong nền kinh tế thị trờng, hoạt động của các doanh nghiệp chịu sự tác
động mạnh mẽ của quy luật khách quan nh quy luật giá trị, quy luật cung cầu,
quy luật cạnh tranh,... Để có thể cạnh tranh đợc, các doanh nghiệp không
những sử dụng hiệu quả nội lực của mình mà còn phải cải tiến máy móc, thiết
bị, dây truyền công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất một cách hợp lý... Do vậy,
đòi hỏi phải có một khối lợng vốn lớn nhiều khi vợt quá khả năng vốn tài chính
của doanh nghiệp. Giải quyết khó khăn này doanh nghiệp có thể tìm đến ngân
hàng xin vay vốn để đầu t. Ngân hàng cấp tín dụng là đã đáp ứng đợc nhu cầu
vốn cho doanh nghiệp nói riêng và cho nền kinh tế nói chung. Hoạt động tín
dụng mang tính rủi ro cao nên thất thoát vốn của ngân hàng là lớn khi đến hạn
thu gốc, thu lãi mà cha thu hồi đợc. Để đảm bảo không xảy ra rủi ro, vấn đề đặt
ra là phải theo dõi quá trình cho vay, thu nợ, thu lãi chặt chẽ, đây chính là công
việc của kế toán cho vay trong ngân hàng. Đây là nghiệp vụ quan trọng và
chiếm tỷ trọng lớn của công tác kế toán tại ngân hàng.
Hiện nay, các ngân hàng đang từng bớc hoàn thiện hơn nữa nghiệp vụ tín
dụng nhằm tăng hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng. Xuất phát từ sự
phát triển của nền kinh tế, hiện nay nớc ta có rất nhiều các doanh nghiệp mới ra
đời trong đó chiếm tỷ trọng lớn là các doanh nghiệp NQD (doanh nghiệp vừa
và nhỏ). Bên cạnh đó, các doanh nghiệp nhà nớc cũng đang có xu hớng cổ phần
hoá. Trên địa bàn Hà Nội cũng có rất nhiều các doanh nghiệp NQD. Các doanh
nghiệp này phần lớn mới đợc hình thành nhng chứa đựng nhiều tiềm năng to
lớn, nếu đợc quan tâm đúng mức sẽ phát triển nhanh chóng. Đây là thị trờng tín


chơng i
Nguyễn Thị Phơng Hảo 2
Khoá luận tốt nghiệp
những lý luận cơ bản về tín dụng ngân hàng và
nghiệp vụ kế toán cho vay trong hệ thống NHTM
1. Tín dụng ngân hàng và vai trò của tín dụng ngân hàng trong nền
kinh tế thị trờng :
1.1. Sự ra đời của tín dụng ngân hàng.
Danh từ tín dụng xuất phát từ gốc Latinh "Credittum" có nghĩa là sự tín
nhiệm lẫn nhau, hay nói cách khác đó là lòng tin.
Theo Mác, tín dụng là sự chuyển nhợng tạm thời một lợng giá trị từ ngời
sở hữu sang ngời sử dụng, sau một thời gian nhất định lại quay về với một l-
ợng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu.
Nh vậy, tín dụng là mối quan hệ kinh tế giữa ngời cho vay và ngời đi vay
thông qua sự vận động của giá trị, vốn tín dụng đợc biểu hiện dới hình thức
tiền tệ hoặc hàng hoá. Cơ sở khách quan của sự ra đời và phát triển quan hệ tín
dụng là mâu thuẫn vốn có quá trình tuần hoàn vốn tiền tệ trong xã hội, đó là:
Cùng một lúc có chủ thể kinh tế tạm thời d thừa một khoản vốn tiền tệ trong
khi các chủ thể kinh tế khác lại có nhu cầu cần vốn, bổ sung vốn. Nếu tình
trạng này không đợc giải quyết thì quá trình sản xuất có thể bị ngng trệ ở chủ
thể này trong khi vốn đang nằm im ở các chủ thể khác. Kết quả là nguồn lực
của xã hội không đợc sử dụng một cách có hiệu quả dẫn đến quá trình tái sản
xuất không đợc tiến hành liên tục.
Hành vi tín dụng có thể diễn ra trực tiếp giữa ngời thừa vốn cần đầu t với
ngời cần vốn để sử dụng. Nhng thực tế hai ngời này có thể phù hợp đợc với
nhau về quy mô, về thời gian nhàn rỗi và thời gian sử dụng vốn; hoặc cũng có
thể phù hợp đợc thì phải tốn kém chi phí tìm kiếm, bởi vậy, để thoả mãn đợc
nhu cầu của cả hai ngời thì cần thiết phải có ngời thứ ba đứng ra tập trung tất
cả số vốn của những ngời tạm thời thừa, cần đầu t kiếm lời để phân phối cho

trung gian điều hoà quan hệ cung cầu về vốn góp phần đảm bảo cho quá trình
sản xuất, kinh doanh diễn ra thờng xuyên, liên tục.
Do tính đa dạng trong luân chuyển vốn của các doanh nghiệp trong nền
kinh tế thị trờng, tại một thời điểm nhất định trong nền kinh tế có một số
doanh nghiệp "thừa vốn" tạm thời do bán hàng hoá có tiền nhng cha có nhu
Nguyễn Thị Phơng Hảo 4
Khoá luận tốt nghiệp
cầu sử dụng ngay đã làm nảy sinh nhu cầu cho vay vốn bằng cách gửi số tiền
tạm thời nhàn rỗi đó vào ngân hàng để hởng lãi.
Trong khi đó có những doanh nghiệp thiếu vốn tạm thời do hàng hoá cha
bán đợc, nhng lại có nhu cầu mua nguyên vật liệu, thanh toán tiền lơng,... làm
nảy sinh nhu cầu đi vay để duy trì sản xuất kinh doanh đem lại lợi nhuận.
Để giải quyết mâu thuẫn này, tín dụng ngân hàng đã đóng vai trò trung
gian là nhận gửi tiền của doanh nghiệp tạm thời thừa vốn; đồng thời sử dụng
số tiền đó để cho vay đối với doanh nghiệp thiếu vốn. Rõ ràng với hoạt động
"đi vay để cho vay" tín dụng ngân hàng đã có tác dụng điều hoà vốn trong nền
kinh tế để phục vụ cho sản xuất, kinh doanh không ngừng phát triển.
- Tín dụng ngân hàng là công cụ mạnh mẽ thúc đẩy quá trình tập trung
vốn để mở rộng đầu t và phát triển.
Tập trung vốn phải dựa trên cơ sở tích luỹ. Trong thực tế, có những lợng
tích luỹ rất lớn đợc nắm giữ ở các chủ thể khác nhau trong nền kinh tế. Nhng
rất nhiều ngời tích luỹ không muốn cho vay trực tiếp hoặc không muốn có cổ
phần trong dự án vì ngoài lý do mất khả năng thanh khoản thì ngời tích luỹ
còn bị hạn chế bởi khả năng, kiến thức về tài chính và pháp lý để thực hiện
trực tiếp đầu t hoặc cho vay. Với hoạt động tín dụng có đủ tin cậy, do tính
chuyên môn hóa cao trong hoạt động tín dụng và đa dạng hoá các danh mục
đầu t thông qua cho nhiều nhà đầu t của nhiều dự án khác nhau vay, từ đó
làm giảm bớt rủi ro cá nhân của những ngời tích luỹ, tạo nên quá trình tập
trung vốn đợc thực hiện nhanh chóng và có hiệu quả đã tạo khả năng cung
ứng vốn cho nền kinh tế, đặc biệt là nguồn vốn dài hạn. Các doanh nghiệp,

hình thức hợp tác kinh tế ở mức độ cao hơn.
- Hoạt động tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy luân chuyển hàng hoá,
luân chuyển tiền tệ, điều tiết khối lợng tiền trong lu thông góp phần điều
chỉnh, ổn định, kiểm soát lạm phát và tăng trởng kinh tế.
Trong nền kinh tế thị trờng, các nhà đầu t thờng chỉ tập trung vốn đầu t
vào các lĩnh vực có lợi nhuận cao, trong khi đó, nền kinh tế đòi hỏi phải có sự
phát triển cân đối, đồng bộ giữa các ngành và các vùng, yêu cầu phải có
những ngành then chốt, mũi nhọn để tạo đà cho nền kinh tế phát triển nhanh
chóng.
Nguyễn Thị Phơng Hảo 6
Khoá luận tốt nghiệp
Tín dụng thông qua cung cấp vốn, đặc biệt là vốn trung và dài hạn đầy đủ,
kịp thời với lãi suất và điều kiện cho vay u đãi, có vai trò quan trọng trong
việc góp phần đảm bảo vốn đầu t cho cơ sở hạ tầng, hình thành các ngành then
chốt, mũi nhọn và các vùng kinh tế trọng điểm góp phần hình thành cơ cấu
kinh tế tối u. Chẳng hạn, với u đãi về vốn, lãi suất, điều kiện và thời hạn vay
vốn đối với nông nghiệp, nông thôn đã gúp cho việc xây dựng cơ sở vật chất,
kết cấu hạ tầng trong nông nghiệp nông thôn. Tín dụng góp phần thúc đẩy
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp vì nớc ta là một nớc đi lên từ nghề lúa
nớc nông nghiệp lạc hậu.
Tín dụng còn là phơng tiện để Nhà nớc thực hiện chính sách tiền tệ thích
hợp (thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất chiết khấu và nghiệp vụ thị trờng
mở) để ổn định nền kinh tế khi nền kinh tế có dấu hiệu bất ổn(suy thoái, lạm
phát,...). Qua quá trình cho vay khối lợng tiền trong lu thông đợc tăng lên và
khi ngân hàng thu nợ thì khối lợng tiền trong lu thông giảm đi. Nh vậy, thông
qua hoạt động tín dụng ngân hàng (thu hút vốn và cho vay) sẽ làm tăng (giảm)
khối lợng tiền tệ trong lu thông từ đó sẽ góp phần điều tiết khối lợng tiền của
toàn bộ nền kinh tế.
Thông qua công cụ lãi suất, hạn mức tín dụng mà ngân hàng sử dụng để
làm thay đổi lợng tiền vay, từ đó điều tiết đợc khối lợng tiền trong nền kinh tế

Thứ năm : Các thành phần kinh tế NQD có tính sở hữu t hữu, hiệu quả sản
xuất kinh doanh gắn liền với ngời sản xuất, bộ máy quản lý gọn gàng, năng
động.
Qua các đặc điểm của nền kinh tế NQD ta thấy nó rất phù hợp với sự phát
triển kinh tế của nớc ta hiện nay. Nếu nhà nớc có chính sách và tạo môi trờng
thuận lợi cho khu vực kinh tế này phát triển thì họ đóng góp một tỷ trọng đáng
kể cho tăng trởng GDP trong cả nớc, tạo công ăn việc làm cho ngời lao động
góp phần giảm tệ nạn xã hội trong nền kinh tế.
2.2. Vai trò của kinh tế ngoài quốc doanh:
Ngày nay, dới sự lãnh đạo của Đảng với đờng lối đổi mới đúng đắn các
thành phần kinh tế NQD đã có chỗ đứng bình đẳng so với doanh nghiệp nhà
nớc. Vị trí quan trọng của nó đã đợc khẳng định trong cơ cấu phát triển kinh
Nguyễn Thị Phơng Hảo 8
Khoá luận tốt nghiệp
tế nhiều thành phần ở nóc ta hiện nay. Vai trò của nó đợc thể hiện ở các mặt
cụ thể sau:
- Kinh tế NQD đã và đang đóng góp cho nền kinh tế một khối lợng sản
phẩm hàng hoá lớn, đa dạng phong phú, chất lợng cao. Chuyển sang nền kinh
tế thị trờng, kinh tế NQD đã và đang có nhiều đóng góp đáng kể cho nền kinh
tế đất nớc, góp phần tạo thế cân đối quỹ hàng hoá cho các địa phơng trong cả
nớc, đồng thời còn là nguồn lực chính tạo ra sản phẩm xuất khẩu, tăng nguồn
ngoại tệ cho đất nớc.
- Phát triển thành phần kinh tế NQD sẽ phát huy đợc mọi tiềm năng của
các doanh nghiệp và tăng khả năng cạnh tranh trong nền kinh tế. Bởi lẽ, nền
kinh tế thị trờng sẽ hoạt động có hiệu quả mang lại lợi ích tốt nhất cho ngời
tiêu dùng và cho xã hội khi có cạnh tranh. Có cạnh tranh thì ngời sản xuất mới
chú trọng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh hơn để làm thế nào sản phẩm
mình sản xuất ra đợc thị trờng chấp nhận và tiêu thụ đợc.
- Kinh tế NQD tăng cờng nguồn thu cho ngân sách nhà nớc thông qua việc
nộp thuế. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu xã hội ngày càng

ợng cao, giá thành hạ để nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trờng trong n-
ớc, khu vực và quốc tế.
- Tín dụng ngân hàng là công cụ tài trợ cho các dự án phát triển kinh tế đa
thành phần, phát huy vai trò của tín dụng ngân hàng để đạt đợc mục tiêu đổi
mới cơ cấu kinh tế, phát triển kinh tế NQD. Đặc biệt nguồn vốn tín dụng giúp
cho các đơn vị có điều kiện thuận lợi mở rộng sản xuất kinh doanh để theo kịp
hoà nhập vào nền kinh tế thế giới.
3. Các phơng thức cho vay trong cơ chế tín dụng của tổ chức tín dụng.
Quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và các tổ chức kinh tế, t nhân, cá thể bao
gồm tín dụng ngắn hạn, tín dụng trung hạn và tín dụng dài hạn. Tín dụng ngắn
hạn nhằm bổ sung vốn lu động cho các đơn vị, cá nhân vay để thực hiện kế
hoạch sản xuất kinh doanh, dịch vụ, đời sống. Tín dụng trung, dài hạn nhằm
cung cấp vốn đầu t cơ bản hoặc cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng lực sản xuất,
kinh doanh. Mỗi loại tín dụng có nội dung kinh tế, yêu cầu kỹ thuật nghiệp vụ
riêng và nó đợc thực hiện thông qua các phơng thức cho vay sau:
3.1. Phơng thức cho vay từng lần.
Nguyễn Thị Phơng Hảo 10
Khoá luận tốt nghiệp
Phơng thức cho vay từng lần áp dụng đối với khách hàng có nhu cầu vay
vốn không thờng xuyên. Mỗi lần vay vốn, khách hàng và ngân hàng làm thủ
tục vay vốn cần thiết và ký hợp đồng tín dụng, ngân hàng định kỳ hạn nợ cho
mỗi món cho vay. Phơng thức cho vay từng lần có những u, nhợc điểm sau :
Ưu điểm: Linh hoạt trong quá trình sử dụng vốn của ngân hàng. Khi
khách hàng có nhu cầu vay vốn, ngân hàng mới xem xét khả năng đáp ứng,
do đó qua phơng thức cho vay này ngân hàng kiểm chặt chẽ đợc từng món
vay, tính toán đợc hiệu quả kinh tế của từng đối tợng cho vay, từ đó đảm bảo
an toàn vốn cho ngân hàng.
Với phơng pháp này ngân hàng có thể kế hoạch đợc nguồn vốn của mình
bằng cách thông qua việc định kỳ hạn cho mỗi món vay, từ đó ngân hàng có
kế hoạch cho các khoản vay tiếp theo một cách chính xácđể tránh tình trạng ứ

vốn sử dụng, nếu khoản vay lớn có thể dẫn đến tình trạng ứ đọng vốn của
ngân hàng bởi đó là những khoản vốn chết đã không đem lại lợi nhuận cho
ngân hàng mà ngân hàng còn phải trả lãi huy động cho những khoản vốn đó.
3.3. Phơng thức cho vay theo dự án đầu t.
Ngân hàng cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu t phát triển
sản xuất, kinh doanh dịch vụ và các dự án đời sống.
Phơng thức cho vay này áp dụng cho các trờng hợp cho vay vốn trung và
dài hạn.
3.4. Phơng thức cho vay trả góp.
Khi vay vốn, tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thoả thuận số lãi
tiền vay phải trả cộng với số nợ gốc đợc chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn
trong thời kỳ cho vay. Tài sản mua bằng vốn vay chỉ thuộc sở hữu của bên vay
sau khi trả đủ nợ gốc và lãi.
3.5. Phơng thức cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng.
Ngân hàng cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm
vi hạn mức tín dụng nhất định. Tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận
thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng dự phòng, phí phải trả cho hạn mức tín
dụng dự phòng.
3.6. Cho vay qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng.
Nguyễn Thị Phơng Hảo 12
-
Mức cho
vay
Tổng nhu cầu
vốn của dự án
=
-
Vốn tự

Nguồn vốn

toán cho vay là công việc ghi chép phản ánh toàn bộ số tiền ngân hàng cho
vay, thu nợ đối với nền kinh tế. Thông qua đó hình thành các chỉ tiêu thông tin
kế toán phục vụ chỉ đạo hoạt động tín dụng có hiệu quả và bảo vệ an toàn tài
sản cho ngân hàng.
4.1. Vai trò của kế toán cho vay.
- Kế toán cho vay phục vụ cho tăng trởng tín dụng ở mỗi ngân hàng:
Thông qua việc ghi chép phản ánh các khoản cho vay, thu nợ, d nợ, kế toán
cung cấp các thông tin chính xác nhất, đầy đủ nhất về hoạt động tín dụng từ
đó giúp cho lãnh đạo nắm đợc thực trạng tín dụng của đơn vị mình để có biện
pháp chỉ đạo sao cho hoạt động tín dụng ngày một phát triển kể cả về số lợng
và chất lợng.
- Kế toán cho vay góp phần nâng cao chất lợng tín dụng và bảo vệ an toàn
tài sản của ngân hàng: Thông tin kế toán cho vay đã phản ánh đợc khá chính
xác về chất lợng tín dụng thể hiện tình hình nợ quá hạn và nợ khó đòi. Từ đó
giúp cho những nhà quản trị ngân hàng nắm đợc thực chất tín dụng ở đơn vị
mình để có biện pháp kịp thời và nâng cao chất lợng tín dụng. Mặt khác kế
toán cho vay còn là công cụ quan trọng để bảo vệ an toàn toàn bộ số vốn ngân
hàng cho nền kinh tế vay thể hiện ở quản lý an toàn hồ sơ cho vay. Theo dõi
chặt chẽ chính xác số nợ thể hiện ở d nợ tài khoản cho vay mà mỗi ngời vay
nhận nợ với ngân hàng.
- Giúp các khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích góp phần tăng c-
ờng chế độ hạch toán kế toán ở các đơn vị, cá nhân vay vốn thông qua việc
kiểm soát chặt chẽ chứng từ cho vay và khi giải ngân, theo dõi thu hồi nợ, thu
lãi đầy đủ, kịp thời.
4.2. Nhiệm vụ.
Để phát huy vai trò của kế toán cho vay, kế toán cho vay có nhiệm vụ sau:
- Tổ chức ghi chép phản ảnh đầy đủ, chính xác, kịp thời các khoản cho
vay, thu nợ, theo dõi d nợ, qua đó hình thành thông tin kế toán phục vụ quản
lý tín dụng. Bảo vệ an toàn vốn cho vay.
Nguyễn Thị Phơng Hảo 14

để giải quyết tranh chấp nếu có xảy ra giữa khách hàng và ngân hàng.
+ Giấy nhận nợ,
Ngoài ra còn có các giấy cam kết thế chấp tài sản hoặc bảo lãnh bằng tài
sản cũng nh là những chứng từ gốc về tài sản đảm bảo và là căn cứ để hạch
toán tài khoản ngoại bảng.
Trong các chứng từ gốc thì hợp đồng tín dụng (còn đợc sử dụng dới hình
thức khế ớc vay tiền, sổ cho vay)và giấy nhận nợ là giấy xác định trách nhiệm
pháp lý về khoản nợ ngời vay nhận nợ với ngân hàng và phải hoàn trả trong
phạm vi kỳ hạn nợ. Loại giấy tờ này cần đợc kế toán quản lý tuyệt đối an toàn.
- Chứng từ ghi sổ: Là những chứng từ dùng trong thanh toán nh:
+ Nếu giải ngân bằng tiền mặt: Phiếu lĩnh tiền.
+ Nếu giải ngân bằng chuyển khoản: Dùng các chứng từ thanh toán không
dùng tiền mặt nh uỷ nhiệm chi, uỷ nhiêm thu
+Nếu ngân hàng chủ động trích tài khoản tiền gửi của ngời vay để thu nợ
thì dùng phiếu chuyển khoản.
+ Nếu ngân hàng thu lãi hàng tháng theo phơng pháp tích số thì dùng bảng
kê số d để tính tích số.
Các giấy tờ trong quan hệ tín dụng đòi hỏi phải có đầy đủ tính pháp lí đợc
thể hiện trên các yếu tố của chứng từ kế toán cho vay nh yếu tố xác định thẩm
quyền chủ thể cho vay của ngân hàng, chỉ rõ ngời chịu trách nhiệm nhận nợ
và cam kết trả nợ gốc và lãi đúng hạn cho ngân hàng.
Cán bộ kế toán cho vay là ngời chịu trách nhiệm thực hiện công việc:
Kiểm tra hồ sơ cho vay theo danh mục quy định; hớng dẫn khách hành mở tài
khoản tiền vay; làm thủ tục phát tiền vay theo lệnh của giám đốc hoặc ngời đ-
ợc uỷ quyền; hạch toán nghiệp vụ cho vay, thu nợ, chuyển nợ quá hạn; lu giữ
hồ sơ theo quy định.
5.1.2. Tài khoản sử dụng.
a) Tài khoản cho vay:
- ứng với phơng thức cho vay từng lần là TK cho vay thông thờng.
Nguyễn Thị Phơng Hảo 16

Nguyễn Thị Phơng Hảo 17
Khoá luận tốt nghiệp
vừa mang tính chất tài khoản cho vay nếu nó d nợ, vừa mang tính chất tài
khoản tiền gửi thanh toán nếu nó d có.
Kết cấu của tài khoản vãng lai:
Bên Nợ : Phản ánh toàn bộ số tiền chi trả của đơn vị vay bao gồm cả
khoản chi thuộc đối tợng cho vay của ngân hàng cũng nh các khoản chi trả
không thuộc đối tợng vay của ngân hàng.
Bên Có : Phản ánh toàn bộ thu nhập của khách hàng vay.
D Nợ : Phản ánh số tiền khách hàng (đơn vị vay) nợ ngân hàng.
D Có : Phản ánh số tiền đơn vị gửi tại ngân hàng.
b) Tài khoản Nợ quá hạn.
Trong quan hệ tín dụng giữa ngời vay và ngân hàng không phải bao giờ
ngời vay cũng trả nợ ngân hàng đúng kỳ hạn. Trờng hợp đến hạn trả ngời vay
không đủ khả năng trả nợ và cũng không đợc ngân hàng cho gia hạn nợ thì số
nợ đó phải chuyển sang tài khoản nợ quá hạn để theo dõi thu hồi với mức lãi
suất cao hơn lãi suất cho vay bình thờng.
Kết cấu của tài khoản Nợ quá hạn:
Bên Nợ : Ghi số tiền cho vay đã quá hạn từ tài khoản cho vay chuyển
sang.
Bên Có : Ghi số tiền thu nợ quá hạn hoặc số nợ quá hạn đợc xử lý chuyển
sang TK thích hợp hay ngoại bảng
D nợ : Thể hiện số nợ quá hạn cha thu
c) Tài khoản ngoại bảng.
- Tài khoản "Lãi cho vay cha thu đợc":
Kết cấu của tài khoản:
Bên Nhập ghi: Số tiền lãi cha thu đợc.
Bên Xuất ghi: Số tiền lãi thu đợc.
Nguyễn Thị Phơng Hảo 18
Khoá luận tốt nghiệp

Đối với những tài khoản cho vay có tài sản thế chấp, cầm cố thì căn cứ vào
chứng từ pháp lý xác nhận giá trị tài sản thế chấp cầm cố để ghi Nhập tài
khoản ngoại bảng 994"Tài sản thế chấp cầm cố của khách hàng".
5.2.2. Kế toán giai đoạn thu nợ và chuyển nợ quá hạn.
a) Kế toán giai đoạn thu nợ.
Cơ sở để kế toán thu hồi nợ các khoản vay từng lần là kỳ hạn nợ ghi trên
hợp đồng tín dụng. Việc xác định kỳ hạn nợ của các khoản vay là trách nhiệm
của nhân viên tín dụng, nhng việc theo dõi kỳ hạn nợ để thu hồi nợ là trách
nhiệm của nhân viên kế toán. Do vậy, nhân viên kế toán và nhân viên tín dụng
phải phối hợp để theo dõi tình hình trả nợ của ngời vay theo đúng kỳ hạn đã
định; hoặc xử lý chuyển nợ quá hạn nếu ngời vay không có khả năng trả nợ
đúng hạn và không đợc gia hạn nợ.
Theo quy chế tín dụng, đến hạn trả nợ ngời vay phải chủ động nộp bằng
tiền mặt hay trích tài khoản tiền gửi để trả nợ ngân hàng. Nếu ngời vay không
chủ động trả nợ trong khi tài khoản tiền gửi của ngời vay có đủ tiền để trả nợ
thì kế toán chủ động lập phiếu chuyển khoan trích tài khoản tiền gửi của ngời
vay để thu nợ.
Kế toán căn cứ giấy nộp tiền, uỷ nhiệm chi hoặc phiếu chuyển khoản để
vào sổ chi tiết, hoặc nhập dữ liệu vào máy tính:
Nợ: - TK Tiền mặt (Nếu thu bằng tiền mặt)
- Hoặc TK Tiền gửi của ngời vay (Nếu thu nợ bằng chuyển
khoản).
Có: TK Cho vay/ ngời vay.
Đối với những khoản vay có thế chấp, kế toán làm thủ tục để ghi Xuất tài
khoản ngoại bảng 994 và trả lại các giấy tờ đợc nhận làm thế chấp tài sản cho
ngời vay.
Nguyễn Thị Phơng Hảo 20
Khoá luận tốt nghiệp
b) Kế toán chuyển Nợ quá hạn.
Đến hạn trả nợ nếu ngời vay không có khả năng trả nợ và cũng không đợc

Lãi suất
cho vay
x
Thời gian
vay
Số tiền vay
( gốc )
Khoá luận tốt nghiệp
Có: TK Thu nhập - thu lãi cho vay.
Khi khách hàng vay trả lãi, ngân hàng hạch toán:
Nợ: - TK Tiền mặt (nếu trả bằng tiền mặt).
- Hoặc TK Tiền gửi (nếu trích từ TK tiền gửi của ngời vay).
Có: TK Tiền lãi cộng dồn dự thu.
Trờng hợp số lãi phải thu đã hạch toán vào tài khoản "Tiền lãi tính dồn dự
thu" đối với những khoản cho vay trong hạn nhng ngời vay không thanh toán
đợc đúng hạn ghi trong hợp đồngtd thì sau 90 ngày kể từ ngày đến hạn ghi
trong hợp đồng tín dụng; hoặc cha đến 90 ngày nhng khoản vay đã chuyển
sang nợ quá hạn, nợ khó đòi thì kế toán lập phiếu chuyển khoản để ghi giảm
thu toàn bộ số tiền lãi dự thu:
Nợ: TK Thu nhập - thu lãi cho vay.
Có: TK Tiền lãi cộng dồn dự thu.
Đồng thời hạch toán ngoại bảng:
Ghi Nhập: TK Lãi cho vay cha thu đợc.
Sau khi hạch toán ngoại bảng kế toán phối hợp với nhân viên tín dụng đôn
đốc ngời vay tiếp tục trả lãi ngân hàng. Khi ngời vay trả lãi hạch toán:
Nợ: - TK Tiền mặt (nếu trả bằng tiền mặt).
- Hoặc TK Tiền gửi (nếu tính TK tiền gửi).
Có: TK thu lãi cho vay.
Đồng thời hạch toán ngoại bảng:
Ghi Xuất ngoại bảng: Lãi cho vay cha thu đợc.

thành kế hoạch trả nợ và cũng không đợc xem xét để chuyển sang thu tiếp ở
tháng kế tiếp thì kế toán chuyển số tiền còn nợ đó sang tài khoản nợ quá hạn
và áp dụng lãi suất nợ quá hạn.
Nợ: TK Nợ quá hạn thích hợp.
Có: TK Cho vay- TK vãng lai của ngời vay.
Số tiền đơn vị còn nợ ngân hàng chuyển sang nợ quá hạn từ thời điểm nào
thì kế toán tính lãi suất nợ quá hạn tại thời điểm đó.
Nguyễn Thị Phơng Hảo 23
Khoá luận tốt nghiệp
Khi ngời vay trả nợ quá hạn:
Nợ: - TK Tiền mặt (nếu trả bằng tiền mặt).
- Hoặc TK Tiền gửi của ngời vay.
Có: TK Nợ quá hạn thích hợp.
5.3.3. Kế toán thu lãi.
Do không định kỳ hạn cụ thể cho từng món nên việc tính lãi và thu lãi TK
cho vay đợc tính theo phơng pháp tích số và thu hàng tháng. Việc tính và thu
lãi đợc cố định vào một ngày nhất định trong tháng (thờng là vào ngày cuối
tháng).
Cách tính lãi:
Tiền lãi hàng tháng =
ngày30
ngáthtrongiãltínhsốtíchTổng
x Lãi suất
ngáthtrongiãltính
sốtíchTổng
=
Chovay
TKNợưdSố
x
ngáthtrongtếthực

Trích đoạn Sự phối hợp giữa kế toán và tín dụng trong việc theo dõi, quản lí các khoản nợ. Đánh giá về chất lợng tín dụng và chất lợng kế toán cho vay tại NHNo&PTNT Tây Hà Nội. Các chỉ tiêu hoạt động kinh doanh. Đa dạng hoá các phơng thức cho vay.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status