ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐH NÔNG LÂM
-----
-----
38-cnnt
Đề tài:
“TÌM HIỂU NHU CẦU ĐÀO TẠO VÀ TẬP HUẤN VỀ SỬ DỤNG
MÁY NÔNG NGHIỆP CỦA HUYỆN TRÀNG ĐỊNH - LẠNG SƠN”
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
Chuyên ngành
Lớp
Khoa
Khoá học
Giảng viên hướng dẫn
: Chính quy
: Công nghiệp nông thôn
: 38 CNNT
: Khuyến nông &PTNT
: 2006 - 2011
: Ths. Cù Ngọc Bắc
THÁI NGUYÊN, 2011
Phần 1: MỞ ĐẦU
1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình phát triển và hội nhập với nền kinh tế khu vực và quốc tế.
Những năm gần đây cùng với sự phát triển của nhiều ngành kinh tế. Ngành nông
nghiệp đang từng bước phát triển và khẳng định vị trí quan trọng của mình trong
công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước. Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng
manh mún nên việc áp dụng khoa học kĩ thuật ở các địa phương miền núi còn
gặp nhiều khó khăn.Mặt khác do người dân còn thiếu vốn, Nhà nước đã có chính
sách cho người nông dân vay vốn để mua trang thiết bị sản xuất nhưng còn nhiều
rào cản nên người nông dân ngại vay vốn. Bên cạnh đó lao đông nông nghiệp
còn thiếu trình độ về sử dụng và vận hành máy móc nên hiệu quả chưa cao.
Đánh giá tình hình sử dụng máy nông nghiệp tại một địa phương cụ thể là
việc làm cần thiết để có giải pháp phù hợp cho việc phát triển nông nghiệp tại địa
phương đó. Vì vậy chúng tôi tiến hành thục hiện đề tài “Đánh giá tình hình sử
dụng máy nông nghiệp tại xã Phượng Tiến - Huyện Định Hóa - Tỉnh Thái
Nguyên"
1.2 Mục đích nghiên cứu
Đánh giá hiện trạng (số lượng, chủng loại, năng suất, sử dụng, bảo dưỡng)
hệ thống máy trong nông nghiệp tại xã Phượng Tiến - Huyện Định Hoá - Tỉnh
Thái Nguyên.
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
+ Tiếp cận phương pháp nghiên cứu khoa học
+ Hoàn thiện kiến thức, kết hợp thực tế và lý thuyết
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
+ Đánh giá hiện trạng hệ thống máy trong nông nghiệp tại xã Phượng Tiến
Huyện Định Hoá - Tỉnh Thái Nguyên.
+ Đánh giá mức độ am hiểu về hệ thống máy nông nghiệp của người dân
tại xã
3
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học
2.1.1 Giới thiệu chung về hệ thống máy trong nông nghiệp
Trong công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, việc cơ giới
hóa sản xuất nông nghiệp là một khâu không thể thiếu của công cuộc này. Cơ
giới hóa sẽ làm thay đổi phương thức sản xuất, giảm nhẹ sức lao động cho con
đảm bảo tốc độ sinh trưởng phát triển của cây trồng.
+ Máy bảo vệ cây trồng: nhiệm vụ của cụm máy này là đưa, lượng chất
hoá học đúng liều lượng và nồng độ, đúng lúc để diệt côn trùng, diệt bệnh cho
cây trồng nhằm đảm bảo cho cây trồng khỏe mạnh, cho năng suất cao. Máy có
nhiều chủng loại để có thể phục vụ cho thảm thực vật thấp hoặc cây trồng lưu
niên có chiều cao trên 10 m.
* Hệ thống máy thu hoạch:
Có nhiệm vụ thu lấy các sản phẩm đặc trưng của cây trồng như hạt, củ,
trái, lá, thân; có thể là thu riêng biệt hoặc là thu tất cả cùng một lúc cả sản phẩm
chính và phụ. Với từng loại cây trồng, lại phải có máy thu hoạch riêng biệt cho
nó, vì thế máy thu hoạch lại càng đa dạng hơn và phức tạp hơn nhiều so với các
máy nông nghiệp khác.
* Hệ thống máy sau thu hoạch:
Việc mẫn cảm với nhiệt độ, độ ẩm môi trường, sự “thở" của hạt dẫn đến
hư hỏng nhanh chóng của sản phẩm nông nghiệp. Xử lý chúng để đưa chúng tới
các điều kiện tạm thời làm giảm tốc độ hư hỏng, được các cụm máy sau thu
hoạch đảm nhận. Không phải nông sản nào cũng có thể làm thức ăn ngay được
mà phải sơ chế để cung cấp cho con người. Sau cùng là hệ thống máy hay thiết
bị chế biến để có sản phẩm sử dụng cho người hay gia súc.
2.1.2. Chế độ chăm sóc và bảo dưỡng máy
2.1.2.1 Chu kỳ chăm sóc một số động cơ cơ khí nhỏ
Chăm sóc đơn giản
- Chăm sóc hàng kíp (8÷10h)
- Chăm sóc sau 50h
- Chăm sóc sau 100h
Chăm sóc phức tạp
- Chăm sóc sau 300h
5
- Chăm sóc sau 600h
Sửa chữa:
14
16-
19
23-
27
30-
36
- Kiểm tra & điều chỉnh sức căng dây đai
- Kiểm tra ắc quy
- Xúc rửa bầu lọc không khí
- Bôi trơn các chi tiết & cụm máy theo chỉ dẫn
6
- Xả cặn bẩn ở bình lọc sơ, bình lọc tinh nhiên liệu xả dầu ở các
khoang phanh.
Chăm sóc 240h:
Làm các công việc như chăm sóc 60h, ngoài ra còn làm thêm:
- Kiểm tra điều chỉnh khe hở nhiệt supap cơ cấu phân phối hơi.
- Xúc rửa bình lọc tinh dầu nhờn.
- Thay dầu nhờn ở các te động cơ & xúc rửa hệ thống bôi trơn.
- Kiểm tra điều chỉnh ly hợp chính, ly hợp chuyển hướng, truyền động trục
thu công suất.
- Kiểm tra điều chỉnh hệ thống lái, hệ thống phanh.
- Kiểm tra điều chỉnh độ rơ bánh hướng dẫn, độ căng của dải xích.
- Làm sạch nắp thùng nhiên liệu, thông rửa lỗ thông hơi, lưới lọc.
- Kiểm tra tỉ trọng dung dịch của ắc quy.
- Làm sạch bình lọc sơ, bình lọc tinh nhiên liệu
- Làm sạch lưới lọc thùng dầu hệ thống nâng hạ thủy lực & trợ lực lái.
- Làm sạch ống thông hơi thân động cơ
- Kiểm tra vòi phun nếu cần thì điều chỉnh áp suất phun hoặc làm sạch & rà
kim phun với ổ đặt.
- Kiểm tra độ căng dây đai truyền quạt gió làm mát.
+ Chăm sóc sau 50 giờ làm việc:
Ngoài những việc của chăm sóc hàng kíp, còn phải làm thêm:
- Súc rửa và thay dầu bầu lọc không khí. Kiểm tra độ kín của bầu lọc.
- Xả cặn bầu lọc tinh nhiên liệu.
- Kiểm tra các khớp nối và độ linh hoạt của bộ phận điều tốc.
- Kiểm tra siết chặt đai ốc hãm ốc lệch tâm, đai ốc hãm trụ quay van điều
chỉnh nhiên liệu.
+ Chăm sóc sau 100 giờ làm việc:
Ngoài những việc của chăm sóc 50 giờ còn phải làm thêm:
- Súc rửa lõi lọc dầu nhờn. Thay dầu nhờn cacte. Xả dầu khi máy còn nóng.
- Làm sạch lỗ thông hơi của bình thông khí hệ thống làm mát.
- Kiểm tra điều chỉnh khe hở nhiệt xupap.
- Làm sạch lõi lọc tinh nhiên liệu.
8
- làm sạch bộ phận ngưng tụ.
+ Chăm sóc sau 300 giờ làm việc.
Ngoài những việc của chăm sóc 100 giờ còn phải làm thêm:
- Tháo rửa vòi phun, kiểm tra áp suất phun, chất lượng làm việc của kim phun.
- Tháo bơm cao áp, xoay piston một góc 90
0
. Sau ba lần xoay mỗi lần sau
300 giờ làm việc thì thôi không tiến hành thao tác này nữa trong quá trình chăm
sóc sửa chữa.
- Kiểm tra và có thể thay thế lõi lọc tinh nhiên liệu.
- Tháo rửa ván triệt hồi, van điều chỉnh nhiên liệu.
- Kiểm tra điều chỉnh thời điểm cung cấp nhiên liệu.
- Kiểm tra điều chỉnh độ căng dây đai quạt gió, cho mỡ vào ổ bi bánh đai căng.
+ Chăm sóc sau 600 giờ làm việc.
Ngoài những việc của chăm sóc 300 giờ, còn phải làm thêm: Súc rửa thùng
tương đương với Việt Nam. Trước Minh Trị Duy Tân vào năm 1868, tới 80%
dân số Nhật Bản làm nghề nông và lúa là nông sản chính. Các phương pháp
thâm canh cần nhiều lao động được phát triển vì mỗi hộ gia đình chỉ có một diên
tích ruộng hạn chế. Những đặc điểm nông nghiệp này đã làm gia tăng các thông
lệ trong canh tác cũng như những tập tục ảnh hưởng đến toàn bộ nền văn hóa
Nhật Bản.
Dường như nông nghiệp Nhật Bản không thể thành công nếu không có sự
phổ biến của máy móc, hóa chất và những thiết bị giúp tiết kiệm lao động. Hiện
tại việc canh tác hầu như được làm bằng máy. Các phương pháp canh tác truyền
thống nhanh chóng nhường chỗ cho các máy cày, máy ủi và nhiều loại máy móc
khác. Nhờ tất cả những yếu tố đó, tổng sản lượng gạo của Nhật Bản tăng từ 9,5
triệu tấn trong năm 1950 lên 13 triệu tấn vào năm 1975.
Chỉ trong vòng 1 thế hệ, nền nông nghiệp truyền thống của Nhật Bản, dựa
trên phương pháp thâm canh và đòi hỏi nhiều lao động, đã chuyển thành một hệ
thống cần nhiều vốn và chủ yếu sử dụng máy móc, và nói chung kỹ thuật mới
của nông nghiệp Nhật Bản được coi là hình mẫu cho các nước đang phát triển
khác ở Châu Á.
Ngay các nước trong khu vực chúng ta vẫn còn phát triển chậm hơn so với
nước bạn rất nhiều. Với các nước có đặc điểm tương đồng như nước ta họ cũng
đã phát triển trước nước ta từ rất lâu.
10
Cơ chế quản lý nông nghiệp Việt Nam và Trung Quốc có nhiều điểm
tương đồng: đã cùng trải qua một thời kỳ quản lý theo kiểu tập trung, bao cấp
khá kéo dài. Trong cơ chế cũ, máy móc thiết bị nông nghiệp chủ yếu thuộc sở
hữu nhà nước hoặc tập thể; quan hệ giữa quyền và nghĩa vụ của người lao động
không cân xứng, thiếu động lực cho người lao động, khiến cho máy móc thiết bị
chẳng những không phát huy hiệu quả như mong đợi mà còn nhanh chóng bị
hao mòn và hư hỏng.
Trung Quốc đã đổi mới trước chúng ta 10 năm và đang phát triển rất mạnh
mẽ. Cơ giới hóa trong nông nghiệp cũng được người dân Trung Quốc áp dụng