DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
STT Tên viết tắt Diễn giải
1 ADB Ngân hàng phát triển Châu Á
2 CBCNVC Cán bộ công nhân viên chức
3 CNXH Chủ nghĩa Xã hội
4 CNQSD Chứng nhận quyền sử dụng
5 ĐKTN Điều kiên tự nhiên
6 ĐTNN Đầu tư nước ngoài
7 GDP Tổng thu nhập quốc nội
8 GPR Tổng hệ số sử dụng đất
9 GPMB Giải phóng mặt bằng
10 HDI Chỉ số phát triển con người
11 HĐND Hội đồng nhân dân
12 HTX Hợp tác xã
13 JBIC Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản
14 KCN Khu công nghiệp
15 KTXH Kinh tế xã hội
16 OAD Viện trợ phát triển chính thức
17 QSDĐ Quyền sử dụng đất
18 SDĐ Sử dụng đất
19 TDTT Thể dục thể thao
20 TTCN Tiểu thủ công nghiệp
21 UBND Ủy ban nhân dân
i
DANH MỤC CÁC BẢNG
ii
DANH MỤC CÁC HÌNH
iii
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc
kinh tế - xã hội của Thái Nguyên, thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng
bộ tỉnh Thái Nguyên lần thứ XVI năm 2005 về việc triển khai các chương
trình phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương mại trên địa bàn
tỉnh. Tỉnh đã đầu tư nhiều khu công nghiệp với nhiều công nghệ tiên tiến, kỹ
thuật hiện đại, tạo ra sản phẩm đẹp, chất lượng cao, tạo việc làm, tăng thu
nhập nâng cao đời sống của người dân.
Cùng với xu hướng chung của tỉnh Thái Nguyên, huyện Phổ Yên đang bước
vào thời kỳ hội nhập kinh tế mạnh mẽ, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đang được tập trung đầu tư, đòi hỏi sự chuyển dịch cơ cấu sử dụng các loại đất
nhằm đáp ứng nhu cầu tăng cường cơ sở kết cấu hạ tầng, hình thành các khu công
nghiệp, phát triển dịch vụ - du lịch, xây dựng các công trình phúc lợi và thực hiện
đô thị hoá, phấn đấu đưa huyện Phổ Yên thành thị xã Công nghiệp vào năm 2015.
Song bên cạnh sự phát triển đó thì diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị
thu hẹp, ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng. Các quá trình này đã và đang
gây áp lực mạnh mẽ đến việc quản lý và sử dụng đất bền vững của huyện.
Vì vậy, một vấn đề đặt ra là: việc nghiên cứu thực trạng quá trình
chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất khi thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nông nghiệp và nông thôn để tìm được nguyên nhân và ảnh hưởng của quá
trình này đã và đang tác động như thế nào tới quá trình phát triển công
nghiệp, nông nghiệp, nông thôn trên các mặt: kinh tế - xã hội - môi trường
2
trên địa bàn huyện, từ đó đề xuất những giải pháp quản lý, sử dụng đất hợp lý
đem lại hiệu quả cao và bền vững là rất cần thiết.
Xuất phát từ những lý do trên, được sự hướng dẫn của PGS - TS.
Nguyễn Thế Hùng, tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu sự thay đổi cơ cấu sử
dụng đất phi nông nghiệp của huyện Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên giai đoạn
2005 - 2010”
1.2. Mục đích, yêu cầu của đề tài
1.2.1. Mục đích
- Điều tra, khảo sát, đánh giá thực trạng việc thay đổi cơ cấu sử dụng đất
tăng về vật chất và tinh thần của toàn xã hội, trong khi nguồn lực sản xuất xã
hội ngày càng trở nên khan hiếm. Việc nâng cao hiệu quả kinh tế là một đòi
hỏi khách quan của mọi nền sản xuất xã hội.
Xuất phát từ góc độ nghiên cứu khác nhau, đến nay có nhiều quan điểm
khác nhau về hiệu quả kinh tế sử dụng đất. Tuy nhiên, chúng tôi đề cập một
số quan điểm sau:
* Quan điểm 1: tính hiệu quả theo Các Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên
trên cơ sở sản xuất tổng thể là quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối một
cách có kế hoạch thời gian lao động theo các ngành sản xuất khác nhau.
4
Trên cơ sở thực hiện vấn đề “tiết kiệm và phân phối một cách hợp lý thời
gian lao động (vật hoá và lao động sống) giữa các ngành” theo quan điểm của
Mác đó là quy luật “tiết kiệm”, là “tăng năng suất lao động xã hội” hay đó là
tăng hiệu quả. Ông cho rằng: “Nâng cao năng suất lao động, vượt qua nhu cầu
cá nhân của người lao động là cơ sở của hết thảy mọi xã hội”
* Quan điểm 2: các nhà kinh tế XHCN, đại diện là Liên Xô cũ đã dựa
vào lý luận chung của Các Mác để phát triển CNXH. Ở đây, hiểu hiệu quả
kinh tế cao được biểu hiện bằng sự đáp ứng được yêu cầu quy luật kinh tế cơ
bản của CNXH và hiệu quả kinh tế cao khi được xác định bằng nhịp độ tăng
tổng sản phẩm xã hội hoặc thu nhập quốc dân cao. Do vậy quan điểm này mới
chỉ đề cập đến nhu cầu tiêu dùng, quỹ tiêu dùng là mục đích cuối cùng cần đạt
được của nền sản xuất xã hội, nhưng chưa đề cập đến quỹ tích luỹ để làm điều
kiện phương tiện đạt được mục đích đó
* Quan điểm 3: các nhà khoa học kinh tế Samuelson - Nordhuas cho
rằng: “Hiệu quả có nghĩa là không lãng phí”. Nghiên cứu hiệu quả sản xuất
phải xét đến chi phí cơ hội, “hiệu quả sản xuất phải diễn ra khi xã hội không
thể tăng sản lượng một loại hàng hoá này mà không cắt giảm sản lượng một
số loại hàng hoá khác. Mọi nền kinh tế có hiệu quả phải nằm trên đường giới
hạn và sản lượng tiềm năng khả năng sản xuất của nó”
* Quan điểm 4: hiệu quả trên quan điểm kinh tế thị trường:
+ Việc đáp ứng nhu cầu của con người trong đời sống xã hội.
+ Việc bảo tồn tài nguyên, nguồn lực để phát triển lâu bền.
6
1.2. Nguyên tắc phát triển bền vững và sử dụng đất bền vững
Theo Smith và Dumanski sử dụng đất bền vững được xác định theo 5
nguyên tắc:[17]
- Duy trì hoặc nâng cao các hoạt động sản xuất (năng suất).
- Giảm mức độ rủi ro đối với sản xuất (an toàn).
- Bảo vệ tiềm năng các nguồn tài nguyên tự nhiên chống lại được sự
thoái hoá đối với chất lượng đất và nước (bảo vệ).
- Khả thi về mặt kinh tế (tính khả thi).
- Được sự chấp nhận của xã hội (sự chấp nhận).
5 nguyên tắc nêu trên được coi là những trụ cột của sử dụng đất đai bền
vững và là những mục tiêu cần phải đạt được. Nếu thực tế diễn ra đồng bộ so
với các mục tiêu trên thì khả năng bền vững sẽ đạt được. Nếu chỉ đạt một hay
một vài mục tiêu mà không phải tất cả thì khả năng bền vững chỉ mang tính
bộ phận.
1.2.1. Khái niệm phát triển bền vững
Vận dụng nguyên tắc trên ở Việt Nam đã đề ra 3 yêu cầu đối với việc
xác định và lựa chọn loại sử dụng đất:
- Bền vững về kinh tế: Cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao, được thị
trường chấp nhận.
- Bền vững về môi trường: Bảo vệ được đất và môi trường tự nhiên.
- Bền vững về xã hội : Thu hút được lao động, đảm bảo đời sống xã hội.
Tóm lại phát triển bền vững là sự phát triển nhằm đáp ứng những
yêu cầu của hiện tại, nhưng không làm ảnh hưởng cho việc đáp ứng nhu
cầu của các thế hệ tương lai, đảm bảo sự phát triển hài hoà cả về 3 mặt:
kinh tế, xã hội, môi trường. Sự gia tăng dân số, nhu cầu của quá trình phát triển
các ngành kinh tế đã gây áp lực rất lớn đối với đất đai. Mục tiêu của con người
trong quá trình sử dụng đất là sử dụng khoa học và hợp lý. Trong thực tế, do
Hiệu quả môi trường là hiệu quả mang tính chất lâu dài, vừa đảm bảo lợi
ích trước mắt vừa đảm bảo lợi ích lâu dài, nó gắn chặt với quá trình khai thác,
sử dụng và bảo vệ tài nguyên đất và môi trường sinh thái. Sử dụng đất đai bền
vững với mục tiêu môi trường điều cần căn cứ vào các tiêu chuẩn về môi
trường, các chiến lược phát triển lâu dài, kế hoạch sử dụng đất, nhằm phối
hợp giữa các mục tiêu kinh tế, xã hội để đảm bảo phát triển bền vững.[5]
Trong các loại hiệu quả được đề cập trên thì hiệu quả kinh tế là trọng
tâm và quyết định nhất. Hiệu quả kinh tế được nhìn nhận đánh giá một cách
toàn diện nhất, đầy đủ nhất khi có sự kết hợp hài hoà với hiệu quả xã hội, hiệu
quả giữ gìn bảo vệ môi trường sinh thái và hiệu quả phát triển.
1.3. Những nghiên cứu về quản lý sử dụng đất bền vững trên thế giới và
Việt Nam
Theo tài liệu của FAO/UNESCO: Trên thế giới hàng năm có khoảng
15% diện tích đất bị suy thoái vì lý do tác động con người, trong đó suy thoái
vì xói mòn do nước chiếm khoảng 55,7% diện tích, do gió 28% diện tích, mất
chất dinh dưỡng do rửa trôi 12,2% diện tích. Ở Trung Quốc, diện tích đất bị
suy thoái là 280 triệu ha, chiếm 30% lãnh thổ, trong đó có 36,67 triệu ha đất
đồi bị xói mòn nặng; 6,67 triệu ha đất bị chua mặn; 4 triệu ha đất bị úng, lầy.
Tại khu vực châu Á Thái Bình Dương có khoảng 860 ha đất đã bị hoang mạc
hoá làm ảnh hưởng đến đời sống của 150 triệu người. Theo kết quả điều tra
của FAO, 1992, do chế độ canh tác không tốt đã gây xói mòn đất nghiêm
trọng dẫn đến suy thoái đất, đặc biệt ở vùng nhiệt đới và vùng đất dốc. Mỗi
năm lượng đất bị xói mòn tại các châu lục là: châu Âu, châu Úc, châu Phi: 5
-10 tấn/ha, châu Mỹ: 10 - 20 tấn/ha; châu Á: 30 tấn/ha. Đất đai đang cảnh báo
nguy cơ suy thoái nghiêm trọng do tác động của thiên nhiên và hoạt động của
con người, ngay từ lúc này chúng ta cần có kế hoạch dài hạn để đạt sử dụng
9
bền vững đất đai. Thế giới ngày càng phát triển, công nghệ và công nghiệp
đang dần chiếm ưu thế, việc chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất phi nông nghiệp
đang là vấn đề đáng quan tâm của toàn xã hội.[17]
chuyển đổi một lượng đất nông nghiệp khổng lồ sang mục đích nhà ở, công
nghiệp, thương mại, hạ tầng và công vụ là kết quả trực tiếp từ sự thành công
ấn tượng của Trung Quốc trong phát triển kinh tế. Trải qua hơn 30 năm xây
dựng chủ nghĩa xã hội theo lý luận kinh tế “chủ nghĩa xã hội hiện thực”,
chính sách cải cách thành công của Trung Quốc đã đem lại những thành tựu
to lớn, trong 20 năm cải cách kinh tế, mức tăng trưởng GDP của Trung Quốc
đạt 9,7%/năm được xếp vào nước có mức tăng trưởng nhanh nhất thế giới,
khoảng 200 triệu người dân đã được đưa lên khỏi mức đói nghèo, năm 1998,
Trung Quốc đứng đầu thế giới về sản lượng nông sản, thu nhập của nông dân
Trung Quốc đã tăng lên 16 lần. Nông nghiệp Trung Quốc đã làm nên kỳ tích
góp phần quan trọng đáp ứng nhu cầu ăn, mặc cho 1,3 tỷ dân có mức sống
ngày càng tăng, tạo cơ sở căn bản cho quá trình công nghiệp hoá. Bên cạnh
những thành công to lớn về kinh tế, xã hội của công cuộc đổi mới, quá trình
phát triển kinh tế của Trung Quốc đã và đang chứa đựng nhiều nguy cơ và
thách thức lớn. Trong đó, chính sách sử dụng đất nông nghiệp, chính sách đô
thị hoá và công nghiệp hoá đã có những tác động không nhỏ đến kinh tế, xã
hội Trung Quốc.[17]
Quá trình chuyển dịch đất nông nghiệp sang các loại đất khác (chủ yếu là
đất công nghiệp và đất ở) của Trung Quốc tăng đã làm cho diện tích đất canh
tác ngày càng giảm, diện tích canh tác bình quân đầu người của Trung Quốc
chỉ bằng 1/3 mức trung bình trên thế giới. Cạnh tranh giữa sản xuất nông
11
nghiệp và sản xuất công nghiệp, phát triển đô thị ngày càng nhanh về tài
nguyên tự nhiên làm cho giá thành sản xuất nông nghiệp ngày càng tăng
nhanh, theo Z.Tang tốc độ tăng thu nhập của nông thôn giảm dần (từ 3,09%
năm 1980 xuống 2,47 % năm 1997), ngày càng tụt hậu so với mức tăng ngày
càng nhanh của thu nhập cư dân thành phố. Khoảng cách chênh lệch về thu
nhập giữa nông thôn và thành thị ngày càng xa nhau năm 1978 cư dân thành
phố chiếm 18% dân số cả nước và có thu nhập chiếm 34% tổng thu nhập cả
nước, năm 1996 tỷ lệ dân số thành phố tăng lên 28% nhưng chiếm tới 50%
2
, Singapore có rất ít đất để đáp ứng các nhu cầu của người
dân và một nền kinh tế đang phát triển. Sau khi thiết lập dành quỹ đất cho cơ
sở hạ tầng cần thiết như sân bay, bến cảng, các nhà máy xử lý nước thải và
lưu vực nước, các nhà hoạch định còn ít hơn 50% diện tích đất để sử dụng
cho nhà, văn phòng, nhà máy, đường xá, công viên và trường học.
Phần lớn chính sách pháp luật liên quan đến bất động sản ở Singapore đã
được ban hành như là kết quả của sự cần thiết để tối ưu hóa việc sử dụng các
nguồn tài nguyên khan hiếm này. Để kết thúc vấn đề này, nhà nước Singapore
ban hành luật thông qua các hình thức Đạo luật Nhà nước Lands, Cư Luật Sở
hữu, Đạo luật Thu hồi đất, Đạo luật Kế hoạch và quyền sử dụng đất (Strata)
Đạo luật được áp dụng trong một loạt các vấn đề khác nhau, từ quyền sở hữu
đất và thu hồi đất, sử dụng đất và phát triển. Tuy nhiên, các chính sách này
chưa xem xét hết được các vấn đề về phân bổ, quy hoạch quỹ đất của Nguồn
tài nguyên khan hiếm này ở Singapore. Singapore có một vấn đề đất đai khan
hiếm dường như nan giải. Trong khi đối mặt với điều này, chính sách đất đai
(mặc dù phần nào cực đoan) đã thay đổi được khung pháp lý quy định sử
dụng đất. Singapore với 25% dân số sống ở 1% diện tích đất của mình. Giờ
đây họ đã có thể xây dựng các căn hộ 10-15 tầng. Với thời gian, họ đạt hơn hai
mươi và ba mươi tầng, và hiện nay, khu chung cư 50 tầng đang được xây dựng.
Đây là một trông những quốc gia có môi trường và cách bố trí dân cư, khu đô
thị kiểu mẫu, thu hút rất nhiều nước trong khu vực tới học hỏi và tham quan.
13
Các chính sách hiện tại của các nhà quy hoạch đô thị của Singapore đang
từng bước cho thấy sự đầu tư sử dụng bền vững đất đai đáng để học tập. Mỗi
quận, huyện sở hữu một loạt các tiện nghi và tiện nghi cấp chiến lược để phục
vụ càng nhiều càng tốt trên một quy mô ít nhất là khu vực và trên quy mô
khu vực. Ban Phát triển nhà làm việc với Ban Tái phát triển đô thị để phát
triển nhà ở công cộng theo chính sách quy hoạch đô thị quốc gia.
Quỹ đất khan hiếm ở đất nước đông dân nhất là mục tiêu của quy hoạch
tổng dân số. Công trình thủy lợi có 21% tổng diện tích canh tác. Các cơ sở
nông nghiệp, bao gồm 5,1 triệu gia đình nông dân được tham gia trong sản
xuất thực phẩm cho tiêu dùng trong nước cũng như xuất khẩu. Trồng trọt vẫn
là hoạt động nông nghiệp lớn, nhưng tỷ trọng GDP của đất nước đã được liên
tục giảm trong những năm gần đây và hiện nay chỉ đóng góp một nửa của
những gì đạt được trong các lĩnh vực sản xuất và dịch vụ.
Cho đến khi sự ra đời của cuộc khủng hoảng kinh tế gần đây, ngành
nông nghiệp đã có thể để giữ cho phù hợp với sự gia tăng dân số. Nhìn
chung, mức sản xuất thực phẩm vượt quá tiêu dùng, và các sản phẩm dư thừa
một số hàng hóa được xuất khẩu. Đó là, tuy nhiên, một vấn đề quan tâm rằng
có thể có tình trạng thiếu thức ăn cho các lớp nghèo hơn dân số nông thôn,
đặc biệt là những người không có sức mua để nuôi sống bản thân. Suy dinh
dưỡng giữa các nhóm dinh dưỡng dễ bị tổn thương cũng nhận được sự chú ý
lớn hơn từ các nhà hoạch định quốc gia. Thái Lan có nguồn tài nguyên thiên
nhiên rộng lớn và tiềm năng con người thích hợp để tăng năng suất của khu
vực cây lương thực. Với những chính sách đúng đắn và công nghệ mới nhất,
nông nghiệp bền vững và thực phẩm an toàn có thể đạt được để làm sống lại
GDP nông nghiệp và nuôi sống số dân.
Khoảng hai phần năm của Thái Lan được bao phủ bởi các dãy núi và đồi
núi, độ dốc mà thường ngăn cản trồng trọt. Tuy nhiên 1/10 diện tích của khu
15
vực này cũng có thể được chuyển đổi mục đích nông nghiệp thông tin chi tiết
đã thu được thông qua các cuộc điều tra. Ước tính trong năm 1970 phù hợp sử
dụng đất tổng thể phân loại khoảng 58% các khu vực miền núi và đồi núi
canh tác (so với 24% 2 thập kỷ trước đó), trong đó khoảng 19% là có thể sử
dụng cho lúa, 28% cho các loại cây trồng cạn, và 11 phần trăm cho cả lúa và
nông nghiệp miền núi. Nắm giữ thực tế của đất nông nghiệp - không phải tất
cả trong số đó là canh tác tại bất kỳ một thời gian - ước tính vào giữa những
năm 1970 chiếm khoảng 43% tổng diện tích đất. Cơ cấu sử dụng đất phi nông
nghiệp của Thái Lan đang có sự thay đổi đáng kể, với sự gia tăng dân số và sự
cầu sử dụng đất của các ngành, lĩnh vực và bảo đảm an ninh lương thực. Phát
triển quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Đổi mới công tác
lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, đảm bảo quy hoạch sử dụng đất phải
đồng bộ, phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tránh tình trạng
chồng chéo giữa quy hoạch đô thị, quy hoạch điểm dân cư nông thôn, quy
hoạch khu công nghiệp với quy hoạch sử dụng đất, tránh chồng lấn quy hoạch
các công trình kiên cố trên diện tích đất có chứa tài nguyên khoáng sản. Xây
dựng hệ thống chính sách tài chính đất đai và giá cả minh bạch và hiệu quả.
[6]
Gia tăng năng suất các hệ sinh thái đất đai và đặt sản xuất nông nghiệp
bền vững lên làm vấn đề ưu tiên, thông qua các chính sách hỗ trợ giảm nghèo
dựa trên quan điểm thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo vệ đa dạng sinh
học, áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác nhằm giảm thiểu sử dụng phân
bón hóa học và hóa chất bảo vệ thực vật trong nông nghiệp. Tăng cường
nghiên cứu khoa học và công nghệ kết hợp với bảo tồn kiến thức bản địa
17
trong việc chống thoái hóa đất và cải tạo đất bị suy thoái. Xây dựng cơ cấu
cây trồng vật nuôi cho phù hợp với từng địa bàn ưu tiên, bảo đảm sử dụng bền
vững tài nguyên đất, bảo vệ và phát triển rừng.
1.4.2. Những chính sách về đất đai liên quan đến quản lý sử dụng đất bền
vững ở Việt Nam
Đất nước ta đang trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước,
việc này góp phần rất lớn trong việc chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất, đất nông
nghiệp đang ngày càng thu hẹp khi các khu công nghiệp và tiến trình đô thị
hóa đang diễn ra mạnh mẽ. Vấn đề nhà ở, vấn đề gia tăng dân số là gánh nặng
của đất đai. Theo các nhà sinh thái phát triển đô thị bền vững cần đảm bảo các
tiêu chí: (1) Phát triển nhà ở theo chiều cao để tiết kiệm nguyên, nhiên vật
liệu và mặt bằng; (2) Bảo tồn địa hình địa mạo tự nhiên; (3) Tránh xây dựng
thành phố trong thung lũng vì đất ở đấy phì nhiêu và dễ lở; (4) Bảo vệ và phát
triển cây xanh đô thị; (5) Khuyến khích tiết kiệm nước; (6) Hạn chế sử dụng
tế hộ, nền nông nghiệp Việt Nam đã không những đáp ứng được lương thực
trong nước mà còn dư để xuất khẩu. Trồng trọt và chăn nuôi đều phát triển
theo hướng đa dạng hoá sản phẩm, xoá dần tính độc canh để tăng hiệu quả sử
dụng đất đai.[12]
Chính sách đất đai cùng với nhiều chính sách nông nghiệp đã góp phần
bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, từng bước thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp và cơ cấu kinh tế nông thôn. Trước đổi mới, giải quyết
lương thực còn nhiều khó khăn. Hàng năm, nước ta phải nhập khẩu hàng triệu
tấn lương thực. Nhờ thay đổi chính sách (như chính sách giao khoán đất nông
nghiệp cho người dân) nên từ năm 1989 đến nay, nước ta liên tục xuất khẩu
gạo với số lượng lớn và ổn định thu ngoại tệ về cho đất nước. Năm 1990, sản
19
lượng lương thực cả nước đạt 21,5 triệu tấn, lương thực bình quân theo đầu
người đạt 327,5 kg. Đến năm 2003 sản lượng lương thực đã đạt 37,5 triệu tấn,
đưa lương thực bình quân đầu người lên 464,8 kg. Nhờ đảm bảo vững chắc
lương thực, sản xuất nông nghiệp có điều kiện chuyển sang chuyên môn hoá
sản xuất hàng hoá có giá trị cao nhằm xuất khẩu.
Vào những năm 1990, trước tình trạng nhiều địa phương tuỳ tiện chuyển
đất trồng luá sang sử dụng vào mục đích khác (như làm nhà ở, sản xuất gạch
ngói, trồng cây ăn quả ), Chính phủ đã ban hành chỉ thị số 247 ngày
28/4/1995 để kiểm soát việc sử dụng đất trồng lúa. Khi an ninh lương thực
quốc gia được đảm bảo, chính sách đất đai cho phép chuyển một phần đất
trồng lúa kém hiệu quả sang mục đích khác có hiệu quả hơn như nuôi trồng
thuỷ sản và cây trồng khác tránh sự lãng phí nguồn lực (thể hiện ở Nghị quyết
09/NĐ - CP ngày 15/6/2000 của Chính phủ về một số chủ trương và chính
sách về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp).
Chính sách đất đai nhằm vào khuyến khích nông dân tăng cường sử
dụng có hiệu quả đất đai, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp
và cơ cấu kinh tế nói chung. Chính phủ đã ban hành Nghị định 64/CP ngày
27/9/1993 về giao đất nông nghiệp cho hộ nông dân. Nông dân không những
nghiệp, dịch vụ và giảm tỷ trọng nông nghiệp trong nền kinh tế.
Sự ra đời của các khu công nghiệp là những mảnh đất màu mỡ cho ra đời
trên 4400 doanh nghiệp trong và ngoài nước hoạt động trong lĩnh vực sản xuất
và dịch vụ công nghiệp, với giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 31,9%
(cao gấp đôi so với mức tăng giá trị công nghiệp cả nước), các khu công nghiệp
Việt Nam đã thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa Việt Nam.
21
Đến hết năm 2005, các KCN là nơi đào tạo thực tế 750.000 người nông
dân, người lao động phổ thông ở những nơi thị tứ trở thành công nhân, và với
tốc độ tăng trưởng này, đến 2010 các KCN Việt nam sẽ thu hút 2,5 triệu
người. Đây là nguồn tài lực để đưa Việt Nam từ một nước nông nghiệp phát
triển ở trình độ thấp trở thành một nước công nghiệp mới ở thập niên thứ 2
của thế kỷ 21.
Nhiều ngành công nghiệp như sản xuất xe hơi, sản xuất máy móc trang
thiết bị, nguyên vật liệu cao cấp tại các KCN, đặc biệt khi công nghiệp hoá
dầu tại khu Dung Quất đi vào hoạt động, sẽ góp phần nâng cao chất lượng
phát triển các ngành công nghiệp Việt Nam.[16]
Tuy nhiên, sự phát triển của các khu công nghiệp làm thu hẹp diện tích
đất canh tác đất nông nghiệp, gây ảnh hưởng đến an ninh lương thực quốc gia,
nhiều khu công nghiệp mang tính tự phát, thiếu các quy hoạch chiến lược,
nhiều KCN nằm liền kề với các đô thị lớn gây ảnh hưởng đến chất lượng môi
trường đô thị trong tương lai gần . Các khu công nghiệp góp phần giải quyết
việc làm, tạo thu nhập cho người lao động và thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu lao
động. Các khu công nghiệp đã tạo ra một số lượng lớn việc làm, nâng cao
trình độ tay nghề và tương ứng với nó là tăng thu nhập của người lao động,
góp phần tạo ra sự ổn định kinh tế và xã hội.Tính đến hết năm 2005, các KCN
đã tạo việc làm cho trên 0,74 triệu lao động trực tiếp tăng gấp 3 lần so với
năm 2001, 14 lần so với năm 1995 và khoảng 2 triệu lao động gián tiếp.
Tuy nhiên sự tập trung cao của lao động xung quanh các khu công
nghiệp cũng nảy sinh không ít các vấn đề xã hội cần phải giải quyết tình trạng