ảnh hưởng của đô thị hóa đến sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện phổ yên - tỉnh thái nguyên giai đoạn 2008 - 2010 - Pdf 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

i

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN THỊ ĐỊNH

ẢNH HƢỞNG CỦA ĐÔ THỊ HOÁ ĐẾN SỬ DỤNG
ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHỔ YÊN
TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 2008 - 2010

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2011

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

iii
LỜI CAM ĐOAN

- Tôi xin cam đoan rằng những số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn
này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ ở một học vị nào.
- Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ
nguồn gốc.

Tác giả luận văn Nguyễn Thị Định


Tác giả luận văn Nguyễn Thị Định

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

v
MỤC LỤC
Danh mục bảng, biểu đồ
Ký tự viết tắt
Đặt vấn đề ……………………………………………………………
1
1. Tính cấp thiết của đề tài…………………………………………………
1
2. Mục đích và yêu cầu………………………………………………
2
2.1. Mục đích………………………………………………………………
2
2.2. Yêu cầu……………………………………………………………
2
Chƣơng 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu …………………………
4
1.1. Đô thị hóa và quá trình phát triển của đô thị………………………
4
1.1.1. Khái niệm về đô thị……………………………………………………


vi
2.2.3. Phương pháp xử lý số liệu điều tra phân tích kết quả nghiên cứu
37
2.2.4. Phương pháp chuyên gia………………………………………………
37
2.2.5. Phương pháp phân tích………………………………………………
37
Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận……………………………
38
3.1. Điều kiện tự nhiên,kinh tế - xã hội……………………………………
38
3.1.1. Điều kiện tự nhiên…………………………………………………….
38
3.1.2. Tình hình điều kiện kinh tế - xã hội…………………………………
43
3.1.3. Thực trạng quá tình đô thị hóa………………………………………
46
3.2. Tác động của đô thị hóa đến biến động đất đai……………………
49
3.2.1. Biến động đất đai nói chung………………………………………
49
3.2.2. Sự biến động các loại đất trong quá trình đô thị hóa giai đoạn 2008 –
2010………………………………………………………………………….

51
3.2.3. Thực trạng quá trình chuyển mục đích sử dụng đất, công tác giao đất,
cho thuê, thu hồi đất………………………………………………… ………

55

3.4.2. Những giải pháp thể chế chính sách…………………………………
79
3.4.3. Những giải pháp kinh tế - xã hội……………………………………
79
3.4.4. Giải pháp kỹ thuật…………………………………………………….
81
Kết luận và kiến nghị…………… ………………………………………
82
1. Kết luận……………………………………………………………
82
2. Kiến nghị………………………………………………………………….
82
Danh mục tài liệu tham khảo
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

viii
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 3.1.
Tăng trưởng kinh tế huyện Phổ Yên thời kỳ 2008 – 2010……
47
Bảng 3.2.
Chuyển dịch kinh tế huyện Phổ Yên thời kỳ 2008 – 2010…
47
Bảng 3.3.
Tình hình biến động đất đai huyện Phổ Yên giai đoạn 2008-2010
50
Bảng 3.4.
Biến động đất nông nghiệp giai đoạn 2008 -2010 ………….
52
Bảng 3.5.

Diện tích, năng suất một số loại cây trồng chính trên đất hàng
năm huyện Phổ Yên giai đoạn 2008 – 2010………………….

67
Bảng 3.14.
Diện tích, năng suất một số loại cây trồng chính trên đất lâu
năm huyện Phổ Yên giai đoạn 2008 – 2010………………….

69
Bảng 3.15.
Một số thông tin cơ bản của hộ điều tra………………………
70
Bảng 3.16.
Biến động diện tích đất nông nghiệp của các hộ điều tra giai
đoạn 2008 – 2010……………………………………………
71
Bảng 3.17.
Tình hình chuyển đổi nghề nghiệp của hộ trước và sau thu
hồi đất………………………………………………………
74
Bảng 3.18.
Thay đổi thu nhập của hộ qua quá trình đô thị hoá…………
77
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ix
DANH MỤC CÁC KÝ TỰ VIẾT TẮT
1L
:
1 lúa

MNCD
:
Mặt nước chuyên dùng
NS
:
Năng suât
NTTS
:
Nuôi trồng thuỷ sản
SL
:
Sản lượng
THCS
:
Trung học cơ sở
THPT
:
Trung học phổ thông
UBND
:
Uỷ ban nhân dân

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đô thị hoá là quá trình tất yếu diễn ra không chỉ đối với nước ta mà còn
đối với tất cả các nước trên thế giới, nhất là đối với các nước ở châu Á. Nền kinh
tế càng phát triển thì quá trình đô thị hoá diễn ra càng nhanh.
Đất nước ta đang trên đà phát triển, quá trình công nghiệp hoá và đô thị
hoá phát triển song song với nhau. Đô thị hoá là hệ quả của sức mạnh công

lên sự bất ổn xã hội như: giải quyết việc làm, nhu cầu nhà ở, ô nhiễm môi trường….
Đô thị hoá là quá trình tất yếu của mỗi quốc gia trong quá trình phát triển.
Tuy nhiên, phát triển kinh tế phải đi đôi với sử dụng đất hợp lý để mang lại hiệu
quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường.
Xuất phát từ thực tế trên, được sự hướng dẫn của GS.TS Nguyễn Thế
Đặng, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Ảnh hưởng của đô thị hoá đến sử dụng
đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Phổ Yên - tỉnh Thái Nguyên giai đoạn
2008 - 2010”.
1. Mục đích và yêu cầu
* Mục đích
- Xác định được sự tác động và sự ảnh hưởng của quá trình đô thị hoá đến
sử dụng đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất trên địa bàn huyện.
- Đưa ra giải pháp sử dụng đất có hiệu quả và không ảnh hưởng đến quá
trình đô thị hoá.
* Yêu cầu
- Đánh giá khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội trên địa bàn
nghiên cứu.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

3
- Quá trình đô thị hoá diễn ra trên địa bàn huyện Phổ Yên.
- Đánh giá ảnh hưởng của quá trình đô thị hoá đến sử dụng đất trên địa
bàn nghiên cứu.
- Định hướng giải pháp cho sử dụng đất trong quá trình đô thị hoá.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

4
Chƣơng 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Đô thị hóa và quá trình phát triển đô thị

đô thị không bị ảnh hưởng bởi ranh giới của các khu tự quản (thành phố) hoặc
thậm chí là ranh giới tỉnh bang
+ Tại Trung Quốc, một đô thị là một khu thành thị, thành phố và thị trấn có
mật độ dân số hơn 1.500 người trên một cây số vuông. Đối với các khu thành thị
có mật độ dân số ít hơn 1.500 người trên một cây số vuông thì chỉ dân số sống
trong các đường phố, nơi có dân cư đông đúc, các làng lân cận nhau được tính là
dân số thành thị.

+ Tại Pháp, một đô thị là một khu vực bao gồm một vùng phát triển do xây
cất (gọi là một "đơn vị thành thị" (unité urbaine). - gần giống như cách định
nghĩa của đô thị Bắc Mỹ và các vùng vành đai ngoại ô (couronne périurbaine).
Mặc dù cách dịch chính thức thuật từ aire urbaine của INSEE là "urban area"
trong tiếng Anh, đa số người Bắc Mỹ sẽ nhận thấy rằng nó tương tự với định
nghĩa về vùng đô thị của mình. [8]
Ở Việt Nam theo Nghị định số 72/2001/NĐ-CP ngày 5 tháng 10 năm 2001
của Chính phủ Việt Nam về việc phân loại đô thị và cấp quản lý đô thị: Đô thị là
khu dân cư tập trung đủ hai điều kiện :
- Về phân cấp quản lý, đô thị là thành phố, thị xã, thị trấn được cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền thành lập
- Về trình độ phát triền, đô thị phải đạt được những tiêu chuẩn sau:
Là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự
phát triển kinh tế xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ như vùng liên tỉnh,
vùng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương , vùng huyện hoặc tiểu vùng
trong huyện.
Đối với khu vực nội thành phố, nội thị xã, thị trấn tỷ lệ lao động phi nông
nghiệp tối thiểu phải đạt 65% tổng số lao động, kết cấu hạ tầng phục vụ các hoạt
động của dân cư tối thiểu phải đạt 70% mức tiêu chuẩn quy chuẩn thiết kế quy
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

6

7
- Đô thị loại đặc biệt: là thủ đô hoặc đô thị rất lớn với chức năng là trung
tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu
mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển
kinh tế xã hội của cả nước. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao
động từ 90% trở lên, có cơ sở hạ tầng xây dựng về cơ bản đồng bộ và hoàn
chỉnh, quy mô dân số từ 1,5 triệu người trở lên, mật độ dân số bình quân từ
15000 người /km
2
trở lên.
- Đô thị loại I: Là đô thị rất lớn, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa,
khoa học – kĩ thuật, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong cả nước
và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của một vùng lãnh thổ
liên tỉnh hoặc cả nước. Dân số đô tị có trên 50 vạn người, tỷ lệ lao động phi nông
nghiệp >= 85% tổng số lao động của thành phố. Mật độ dân cư bình quân từ
12000 người /km
2
trở lên. Loại đô thị này có tỷ suất hàng hóa cao, cơ sở hạ tầng
kĩ thuật và mạng lưới công trình công cộng được xây dựng nhiều mặt đồng bộ và
hoàn chỉnh.
- Đô thị loại II: Là đô thị lớn, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa
học kĩ thuật, du lịch dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu vùng trong tỉnh, vùng
liên tỉnh hoặc cả nước, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của một
vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với cả nước. Dân số đô thị có từ
25 vạn đến dưới 1 triệu người, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp >= 80% tổng số
lao động, mật độ dân cư bình quân từ 10000 người / km
2
trở lên, sản xuất hàng
hóa phát triển, cơ sở hạ tầng kỹ thuật và mạng lưới công trình công cộng được
xây dựng nhiều mặt tiến tới tương đối đồng bộ và hoàn chỉnh.

đang bắt đầu xây dựng một số công trình công cộng và cơ sở hạ tầng kĩ thuật.
Việc xác định quy mô dân số và tỷ lệ lao động phi nông nghiệp của đô thị chỉ
tiến hành trong phạm vi địa giới nội thị. Riêng miền núi, quy mô dân số đô thị
loại III có thể quy định tối thiểu từ 8 vạn người, đô thị loại IV từ 2 vạn người và đô
thị loại V là 2000 người. [9]
c, Vai trò của đô thị trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội
Đô thị tượng trưng cho thành quả kinh tế, văn hóa của một quốc gia, là sản
phẩm mang tính kế thừa củ nhiều thế hệ cả về cở sở vật chất kỹ thuật và văn hóa.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

9
Đô thị là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân có vai trò thúc đẩy sự phát
triển kinh tế - xã hội của cả nước, có khả năng tiếp nhận các thành tựu khoa học
kỹ thuật của khu vực và trên thế giới. [5]
1.1.2. Đô thị hóa
a, Khái niệm
Khái niệm về đô thị hóa rất đa dạng, bởi vì đô thị hóa chứa đựng nhiều hiện
tượng và biểu hiện khác nhau trong quá trình phát triển. Các nhà khoa học cũng
xem xét và quan sát hiện tượng đô thị hóa từ nhiều góc độ khác nhau:
Đô thị hóa là sự mở rộng của đô thị, tính theo tỉ lệ phần trăm giữa số dân đô thị
hay diện tích đô thị trên tổng số dân hay diện tích của một vùng hay khu vực. Nó
cũng có thể tính theo tỉ lệ gia tăng của hai yếu tố đó theo thời gian. Nếu tính theo
cách đầu thì nó còn được gọi là mức độ đô thị hóa; còn theo cách thứ hai, nó có tên là
tốc độ đô thị hóa. Đô thị hóa là quá trình phát triển rộng rãi lối sống thị thành thể hiện
qua các mặt dân số, mật độ dân số, chất lượng cuộc sống, [5]
Sự tăng trưởng của đô thị được tính trên cơ sở sự gia tăng của đô thị so với
kích thước (về dân số và diện tích) ban đầu của đô thị. Do đó, sự tăng trưởng của
đô thị khác tốc độ đô thị hóa (vốn là chỉ số chỉ sự gia tăng theo các giai đoạn thời
gian xác định như 1 năm hay 5 năm)
Đô thị hóa là quá trình tập trung dân số vào các đô thị, là sự hình thành

Theo các học già Mỹ, hiện tượng này còn gọi là “sự phục hưng nông thôn”.
Phát triển đến một lúc nào đó, bằng các chính sách của mình, các chính phủ sẽ
điều chỉnh hướng vào sự phát triển nông thôn. Quá trình này sẽ góp phần san
bằng khoảng cách và chất lượng sống giữa thành thị và nông thôn.
b, Đặc trưng của đô thị hoá
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

11
- Đô thị hoá là hiện tượng mang tính toàn cầu và có những đặc trưng chủ yếu sau
đây:
Một là, số lượng các thành phố, kể cả các thành phố lớn tăng nhanh, đặc
biệt là thời kỳ sau chiến tranh thế giới thứ hai.
Hai là, quy mô dân số tập trung trong mỗi thành phố ngày càng lớn, số
lượng thành phố có trên một triệu dân ngày càng nhiều.
Ba là, việc hình thành và phát triển nhiều thành phố gần nhau về mặt địa lý,
liên quan chặt chẽ với nhau do phân công lao động đã tạo nên các vùng đô thị. [6]
c, Sự phát triển của đô thị hóa
Quá trình đô thị hóa diễn ra song song với động thái phát triển không gian
kinh tế xã hội. Trình độ đô thị hóa phản ánh trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất, của nền văn hóa và phương thức tổ chức cuộc sống xã hội.
Quá trình đô thị hóa thực chất cũng là một quá trinh phát triển kinh tế xã
hội, hơn nữa nó còn là quá trình phát triển không gian văn hóa và kiến trúc. Nó
gắn liền với sự phát triển của khoa học kĩ thuật và sự phát triển của các ngành
nghề mới. Quá trình đô thị hóa có thể theo hai xu hướng:
- Đô thị hóa tập trung:
Là toàn bộ công nghiệp và dịch vụ công cộng tập trung vào các thành phố
lớn, hình thành và phát triển các đô thị lớn,khác biệt nhiều với nông thôn.
- Đô thị hóa phân tán:
Là hình thái mạng lưới điểm dân cư có tầng bậc phát triển cân đối công
nghiệp,nông nhiệp và dịch vụ công cộng,bảo đảm cân bằng sinh thái,tạo điều

hơn, quy mô lớn hơn. Ngược lại vùng nào kém thuận lợi hơn sẽ đô thị hóa chậm
hơn và quy mô nhỏ hơn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

13
- Điều kiện xã hội: mỗi phương thức sản xuất sẽ có một hình thái đô thị
tương ứng và do đó quá trình đô thị hóa có những đặc trưng riêng của nó. Kinh
tế thị trường đã mở đường cho lực lực sản xuất phát triển mạnh. Sự phát triển
của lực lượng sản xuất là điều kiện để công nghiệp hóa, hiện đại hóa và là tiền đề
cho đô thị hóa.
- Văn hóa dân tộc: Mỗi dân tộc đều có một nền văn hóa riêng của mình và
nền văn hóa đó có ảnh hưởng đến tất cả các vấn đề kinh tế, chính trị, xã
hội,…nói chung và hình thái đô thị nói riêng.
- Trình độ phát triển kinh tế: phát triển kinh tế là yếu tố có tính quyết định
trong quá trình đô thị hóa. Bởi nói đến kinh tế là nói đến vấn đề tài chính. Để xây
dựng nâng cấp hay cải tạo đô thị đòi hỏi nguồn tài chính lớn. Nguồn đó có từ
trong nước hay nước ngoài. Trình độ phát triển kinh tế thể hiện nhiều phương
diện như quy mô, tốc độ tăng trưởng GDP, cơ cấu ngành của nền kinh tế, sự phát
triển các thành phần kinh tế, luật pháp kinh tế, trình độ hoàn thiện của kết cấu hạ
tầng, trình độ văn hoá giáo dục của dân cư, mức sống dân cư.
- Tình hình chính trị: Sự ổn định chính trị là động lực thúc đẩy quá trình đô
thị hoá, chính trị càng ổn định thì dô thị càng phát triển. Ở Việt Nam từ sau năm
1975, tốc độ đô thị hoá ngày càng cao, các khu đô thị mới mọc lên nhanh chóng,
đặc biệt trong thời kỳ đổi mới với các chính sách mở cửa nền kinh tế, thu hút đầu
tư nước ngoài, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần thì đô thị hoá đã tạo ra sự
phát triển kinh tế vượt bậc.[5]
1.2. Quá trình phát triển đô thị trên thế giới và Việt Nam
1.2.1. Quá trình phát triển đô thị trên thế giới
a, Thời kì cổ đại
Đó là thời tiền sử được tính từ 5000 năm đến 1000 năm trước công nguyên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

15
Môi trường đô thị bị ảnh hưởng nghiêm trọng do sự phát triển của công
nghiệp và dân số,thiếu những khu cây xanh,công viên.
Công trình công nghiệp xây dựng lộn xộn. Mật độ xây dựng cao và các
công trình.
Những vấn đề trên đã dẫn tới sự khủng hoảng của đô thị thời kì này,do đó
đòi hỏi phải có những cuộc cải tổ và những tư tưởng mới cho sự phát triển của
ngành quy hoạch đô thị hiện đại.[3]
1.2.3 Khái quát quá trình phát triển đô thị Việt Nam
a, Tình hình phát triển đô thị từ trước thế kỷ XVIII
Trong lịch sử hàng nghìn năm tồn tại,Viêt Nam luôn phải chống lại các
cuộc ngoại xâm của phương Bắc. Do đó đô thị mang tính chất phòng thủ chủ yếu
là chống ngoại xâm. Dấu vết đô thị là trung tâm chính trị và quốc phòng.
Dấu vết đô thị đầu tiên ở nước ta là thành Cổ Loa của An Dương Vương ở
tả ngạng sông Hồng (khoảng 200 năm trước công nguyên) là trung tâp chính trị
của nước Âu Lạc. Cổ Loa có 3 vòng thành,dài 16 km (hình 2.9).
Trong thời kì Bắc thuộc một số thành thị khác nhau mang tính chất quân sự
và thương mại đã được hình thành. Một trong số những đô thị lớn nhất thời Bắc
thuộc là thành Tống Bình (Hà Nội ngày nay).
Năm 1010 Lý Thái Tổ dời đô về Đại La ( thành Tống Bình cũ )và đổi tên là
Thăng Long. Đây là mốc khai sinh cho Hà Nội ngày nay. Thăng Long phát triển
mạnh mẽ về kinh tế, xã hội, văn hóa và đã trở thành một đô thị có vị trí quan
trọng nhất trong cả nước. Ngay từ thời đó đã xuất hiện kiến trúc cung đình hiện đại.
Dưới thời thời phong kiến nhiều loại đô thị khác cũng đã hình thành. Đó
là những nơi đóng đô chính của các vua chúa phong kiến như thành Hoa Lư –
Ninh Bình (kinh đô của nhà Đinh); Thành Tây Đô ở Thanh Hóa( thành nhà Hồ)…
b, Đô thị dưới thời nhà Nguyễn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status