Thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng cháy chữa cháy rừng tại hạt kiểm lâm huyện tràng định tỉnh lạng sơn - Pdf 13

MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TƯ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT
Bộ NN&PTNT : Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
VLVH : Vừa học vừa làm
FAO : Tổ chức nông lương thực
UNDP : Chương trình phát triển liên hợp quốc
USD : Tiền đô la của Mỹ
UBND : Ủy ban nhân dân
HDND : Hội đồng nhân dân
PCCCR : Phòng cháy chữa cháy rừng
BVR : Bảo vệ rừng
CHDCND : Công hòa dân chủ nhân dân
NĐ : Nghị định
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
2
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Rừng là tài nguyên vô cùng quí giá, là một bộ phận của môi trường
sống, rừng gắn liền với đời sống của các đồng bào các dân tộc miền núi. Rừng
không chỉ có giá trị về kinh tế mà còn có ý nghĩa lớn lao trong nghiên cứu
khoa học, bảo tồn nguồn gen, điều hòa khí hậu, phòng hộ đầu nguồn, hạn chế
thiên tai, ngăn chặn sự hoang mạc hóa, chống sói mòn, lở đất, ngăn ngừa lũ
lụt, đặc biệt đối với huyện Tràng Định rừng còn có ý nghĩa đảm bảo an ninh
quốc phòng đồng thời tạo cảnh quan đẹp phục vụ du lịch sinh thái, du lịch
cộng đồng.
Theo “Chiến lược phát triển lâm nghiệp 2006 - 2020” của Bộ NN &
PTNT, 2007 [1] ở Việt Nam hiện nay đã vượt qua được thời kỳ suy thoái diện
tích rừng. Diện tích rừng tăng từ 9,3 triệu ha năm 1995 lên 11,31triệu ha năm
2000 và 12,61 triệu ha năm 2005 (bình quân tăng khoảng 0,3 triệu ha/năm).

Theo số liệu thống kê của Hạt kiểm lâm Tràng Định (tính từ năm 2000-
2010) tổng số vụ cháy rừng là 32 vụ thiệt hại gây nên 7.5 hecta rừng trồng,
17,4 hecta rừng vầu thuần loài, gần 100 hecta rừng IA, IB chủ yếu là cây bụi,
lau lách, giàng giàng có xen kẽ một số cây gỗ nhỏ.
Xuất phát từ những lí do trên, nhằm tăng cường hiệu quả công tác quản
lý bảo vệ rừng tại địa phương, phát triển bền vững tài nguyên rừng, góp phần
vào công cuộc phát triển đất nước và sự nghiệp lâm nghiệp quốc gia, tôi tiến
hành thực hiện đề tài: “Thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
công tác phòng cháy chữa cháy rừng tại Hạt kiểm lâm Tràng Định - tỉnh
Lạng Sơn”.
1.2. ĐIỀU KIỆN ĐỂ THỰC HIỆN CHUYÊN ĐỀ
1.2.1. Điều kiện của bản thân
Là một sinh viên đang học tập tại lớp VLVH - k8 Đông Anh - Hà Nội,
qua quá trình học tập và rèn luyện, được sự chỉ bảo của thầy cô giáo trong
khoa Lâm nghiệp, cũng như “học ở trường, học sách vở, học bạn bè, học lẫn
nhau” tôi đã tích lũy cho mình được vốn kiến thức cần thiết.
Được sự đồng ý của ban giám hiệu nhà trường, ban chủ nhiệm khoa
Lâm nghiệp Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, tôi được thực hiện đề
tài thực tập tốt nghiệp tại hạt Kiểm lâm huyện Tràng Định, tỉnh Lạng sơn.
Sau đợt TTTN và viết chuyên đề nghiên cứu sẽ giúp tôi được làm uqen
với công tác nghiên cứu khoa học, củng cố thêm kiến thức thực tế,
3
4
1.2.2. Điều kiện của cơ sở, địa phương nơi triển khai thực hiện chuyên đề
1.2.2.1. Điều kiện tự nhiên
a) Vị trí địa lý
Tràng Định nằm ở toạ độ địa lý 22°12'30'-22°18'30' vĩ Bắc và
106°27'30'-106°30' kinh Đông.
- Phía Bắc giáp huyện Thạch An tỉnh Cao Bằng
- Phía Đông - Đông Bắc giáp huyện Long Châu, Quảng Tây, Trung Quốc.

ven sông, suối và lân lũng núi đá vôi. Độ cao phổ biến là 200 - 500m, có các
đỉnh cao 820,636,675 tập trung ở các xã biên giới, có độ dốc trung bình 25-30
0
.
Dạng địa hình núi đất là phổ biến, có độ dốc trên 25-30
0
chiếm trên
42% diện tích, thích hợp cho trồng rừng, khoanh nuôi tái sinh tự nhiên và một
số nơi thấp có thể phát triển cây ăn quả, trồng cây hồi.
Dạng địa hình núi đá chủ yếu ở xã Quốc Khánh, Tri Phương, Chí Minh
chiếm khoảng 10,7% diện tích tự nhiên.
Các dải thung lũng hẹp, vùng cánh đồng phục vụ phát triển sản xuất
nông nghiệp chiếm trên 4% diện tích.
c) Hệ thống sông suối - thủy văn
Tràng Định có hệ thống sông suối đa dạng trong đó có 3 hệ thống sông
chính chi phối nguồn nước mặt của tỉnh, đó là: sông Kỳ Cùng, sông Bắc Giang
(sông Văn Mịch) và sông Bắc Khê.
5
6
Trong 3 hệ thống sông nói trên thì hệ thống sông Kỳ Cùng là tuyến
sông lớn nhất tỉnh Lạng Sơn, bắt nguồn từ vùng núi Bắc Xa cao 1166 m, sông
chảy theo hướng Đông Nam - Tây Bắc qua Lộc Bình, thành phố Lạng Sơn,
Na Sầm và đến Thất Khê sông uốn khúc và chuyển hướng Tây Bắc - Đông
Nam qua biên giới đổ vào đất Trung Quốc. Diện tích lưu vực 6.660 km2 với
chiều dài dòng chính (tính đến biên giới Việt Trung) 243 km. Lòng sông Kỳ
Cùng rất dốc, nhiều thác ghềnh và lưu vực hẹp ngang, có nhiều sông suối nhỏ
đổ vào, nên có tiềm năng phát triển thuỷ điện vừa và nhỏ kết hợp tích nước,
điều tiết thuỷ lợi cho sản xuất.
Tràng Định còn có 7 con suối lớn và một mạng lưới khe rạch khá dày
đặc, có khả năng cung cấp nước cho sinh hoạt và nước tưới cho cây trồng,

(T/mm)
Tổng số giờ
nắng trong
tháng (h)
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
15,6
17,7
20,0
21,6
26,6
27,6
28,4
27,0
26,5
22,5
18,0
15,5
83
75

1581
1274
1310
785
TB 22,25 82,17 1.238,4 1.116,2
(Nguồn: Trạm khí hậu thủy văn của Huyện Tràng Định)
Nhiệt độ trung bình năm 21,6
0
C. Nhiệt độ tối cao tuyệt đối 39
0
C, tối
thấp tuyệt đối - 1,0
0
C. Độ ẩm không khí bình quân năm là 82-84%.
Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9. Lượng mưa trung bình năm là
1.155-1.600 mm. Lượng bốc hơi bình quân năm là 811 mm. Số giờ nắng
trung bình năm là 1466 giờ. Số ngày có sương muối trong năm không đáng
kể, chỉ 2 đến 3 ngày. Với nền nhiệt độ và số giờ nắng trung bình trong năm
như trên cũng rất thuận lợi cho việc bố trí mùa vụ, bố trí cơ cấu các loại cây
trồng, là điều kiện để phát triển đa dạng, phong phú các loại cây trồng ôn đới,
á nhiệt đới.
Tuy nhiên khí hậu Tràng Định cũng tương đối khắc nghiệt, do nằm
trong lòng máng trũng đón gió mùa đông bắc nên mùa đông thường lạnh và
khô, ảnh hưởng khá lớn đến sự sinh trưởng của các loại cây trồng.
7
8
đ) Thổ nhưỡng - đất đai
- Đất đai: Đất đai được quy hoạch sử dụng như sau:
Bảng 1.2: Hiện trạng sử dụng đất ở huyện Tràng Định (năm 2010)
STT Mục đích sử dụng Mã

9
Qua bảng trên cho ta thấy tình hình sử dụng đất đai tại huyện Tràng Định:
Tổng diện tích đất tự nhiên là 99.962,41 ha trong đó đất nông nghiệp chiếm
5.68% tổng diện tích đất tự nhiên. Đất lâm nghiệp chiếm 89,58%, đất ở chiếm
0,69%, đất chuyên dùng chiếm 0,88%, còn lại là các loại đất khác.
+ Thổ như‚ng huyện Tràng Định như sau:
- Đất đỏ vàng phát triển trên đá sét (F
s
), chiếm trên 53,4 % diện tích đất
tự nhiên.
- Đất đỏ vàng phát triển trên đá mác maaxit (F
a
) chiếm trên 28 % diện
tích đất tự nhiên.
- Đất vàng nhạt phát triển trên đá cát (F
a
) chiếm 3,4 % diện tích tự nhiên.
- Đất phù sa sông suối (p
y
) chiếm 1,2% diện tích tự nhiên.
Còn lại là đất nâu đỏ trên đá vôi, đất phù sa được bồi, đất đỏ vàng biến
đổi do trồng lúa, sông suối, núi đá…
Diện tích đất có rừng huyện Tràng Định: 89.598,10 ha, chiếm 89,63%
diện tích tự nhiên,trong đó đất rừng sản xuất có 71.908,51 ha, đất rừng phòng
hộ là 17.689,59 ha.
Sự phong phú về số lượng loài và tính đa dạng sinh học của thục vật
rừng trên địa bàn đã tạo cho Tràng Định có thế mạnh phát triển ngành du lịch
sinh thái.
Ngoài các cây có trong sách đỏ Việt Nam ra, Tràng Định cũng còn
nhiều loài cây khác như Thông, Hồi,… các loài cây này đã được người dân

Để nâng cao giá trị kinh tế đất lâm nghiệp, huyện đã tập trung phát
triển thành công một số loại cây đặc sản có giá trị xuất khẩu như cây hồi và
cây quế, cây thạch đen đem lại hiệu quả kinh tế cao. Riêng đối với cây Thạch
đen của huyện hàng năm trồng duy trì ổn định 2000 ha năng suất 56 tạ/ha.
Sản lượng bình quân hàng năm từ 10.000 - 15.000 tấn. giá trị thu nhập từ 150
- 180 tỷ đồng góp phần xóa đói giảm nghèo nâng cao đời sống vật chất tinh
thần cho nhân dân các dân tộc huyện Tràng Định.
+ Nông nghiệp
Tài nguyên nước phong phú, tài nguyên nước ngầm đủ cung cấp nước
sinh hoạt cho nhân dân, nước tưới cho các loại cây trồng, nước cho chăn nuôi
gia súc, nước cho công nghiệp có tiềm năng cho nhiều công trình thuỷ điện
vừa và nhỏ.
Tràng Định có cánh đồng Thất Khê là một trong những cánh đồng lớn
của tỉnh Lạng Sơn với diện tích đất canh tác 1.361,6 ha thuộc địa bàn của 5 xã
(Đại Đồng, Chi Lăng, Hùng Sơn, Đề Thám và thị trấn Thất Khê).
10
11
Hình 1.2. Một góc nhìn về cánh đồng Thất Khê - huyện Tràng Định
Cánh đồng là nơi hội tụ của 07 con sông suối chính tạo nên cánh đồng
lúa Thất Khê phì nhiêu, màu m‚. Ngoài ra còn cánh đồng lúa Tri Phương và
Quốc Khánh với diện tích đất canh tác là 1.163 ha, tạo thành vựa lúa lớn đảm
bảo an ninh lương thực cho huyện Tràng Định nói riêng và cho tỉnh Lạng Sơn
nói chung.
Hàng năm, tổng diện tích gieo trồng lúa của toàn huyện là 5.532ha.
Diện tích gieo trồng Ngô là 2.050 ha. Trong đó có những giống lúa là đặc sản
của địa phương như: Lúa Bao thai, Nếp cái hoa vàng, Khẩu Lùm Pua
Tràng Định vẫn nổi tiếng với các loại cây ăn quả bản địa như: Mận
Thất Khê, Lê Tràng Định, Quýt Kim Đồng, Hồng Quốc Khánh được người
tiêu dùng rất ưa chuộng và đem lại giá trị kinh tế cao. Hàng năm đồng bào các
dân tộc xã Quốc Khánh và xã Kim Đồng thu nhập hàng trăm triệu đồng từ cây

lượng, loại hình và đang từng bước đáp ứng yêu cầu của Chuẩn nghề nghiệp
theo từng cấp học.tỉ lệ đảng viên trong giáo viên là 40 % đội ngũ giáo viên
thường xuyên được đi đào tạo, bồi dư‚ng nâng cao trình độ
Chất lượng giáo dục các mặt ngày càng nâng cao,buớc đầu đáp ứng
mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ cho phát tiển Kinh tế
-Xã hôi của địa phương.
Giáo dục dân tộc được quan tâm đặc biệt,hệ thống trường lớp phát triển
đến các vùng xa xôi hẻo lánh nhất, huyện có trường phổ thông dân tộc nội trú
12
13
dành cho dối tương học sinh con em các dân tộc vùng kinh tế -xã hội có nhiều
khó khăn.
Từ nhiều nguồn vốn khác nhau,hệ thống trường lớp học đã cơ bản được
kiên cố hoá,xoá bỏ lớp học 3 ca,nhà học tranh tre nứa lá.môi trường giáo dục
được cải thiện ngày càng thân thiện hơn.
- Mạng lưới y tế
Huyện có Trung tâm y tế xây dựng khang trang, được đưa vào sử dụng
từ tháng 4 năm 2010, trong đó bệnh viện được xây dựng với qui mô 100
giường bệnh, có đầy đủ các khoa phòng và trang thiết bị y tế theo qui định
của bệnh viện tuyến huyện hạng III.
Tất cả các xã đều có nhà Trạm y tế kiên cố và bán kiên cố, trang thiết bị
y tế được trang bị tương đối đầy đủ, đáp ứng được một phần nhu cầu khám
chữa bệnh và phòng bệnh cho nhân dân.
23/23 trạm y tế đều có nữ hộ sinh hoặc y sỹ sản nhi và có cán bộ phụ
trách về y học cổ truyền 305/305 thôn bản đều có nhân viên y tế cọng đồng
Các chương trình y tế quốc gia luôn được triển khai đồng bộ và có hiệu
quả, nên đã chủ động phòng chống được dịch bệnh cho nhân dân. Trên địa
bàn huyện đã thanh toán xong bệnh bại liệt, loại trừ được bệnh phong; các
bệnh nguy hiểm ở trẻ em như bệnh bạch hầu, ho gà, uốn ván giảm hẳn.
Từ năm 2009 đã có 23/23 xã đạt Chuẩn, đứng ở tốp đầu trong toàn tỉnh,

- Hệ thống lưới điện quốc gia ngày càng được quan tâm, mở rộng đến
các xã, thôn bản. Từ năm 2008, điện lưới quốc gia đã có tại 23/23 xã, Thị
trấn. Tỷ lệ hộ được sử dụng điện đạt 90% năm 2010, trong đó ở khu vực thị
trấn thị tứ tỷ lệ này là 100%.
- Toàn huyện Tràng Định 1 bưu điện huyện và 22 xã có điểm bưu điện
văn hóa xã, bán kính phục vụ bình quân 3,0 km. Số dân phục vụ bình quân là
3.000 người /1 điểm phục vụ.
Có 23/23 xã, thị trấn đạt 100% xã, thị trấn có báo đến trong ngày, với
mạng vận chuyển Bưu chính rộng khắp, hiện tại các dịch vụ Bưu chính phổ
cập đã được phục vụ đến tất cả các xã.
Dịch vụ điện thoại cố định: 100% số xã có máy điện thoại, số lượng
thuê bao cố định đạt 15 máy/100 dân. Trên địa bàn huyện hiện nay có mạng
điện thoại di động đang cung cấp dịch vụ, đã phủ sóng di động tới 23/23 xã,
thị trấn trong huyện.
14
15
- Trên địa bàn huyện Tràng Định hiện có 7 chợ, trong đó có 1 chợ loại
II là chợ trung tâm thị trấn Thất Khê, có 6 chợ loại III, chợ cụm xã họp theo
phiên 5 ngày 1 lần. Ngoài ra còn có 01 cửa khẩu và 01 cặp chợ đường biên.
- Thủy lợi: Tổng số các công trình thủy lợi được đầu tư xây dựng trên
toàn huyện có 15 hồ chứa nước, 6 đập dâng và 58 phai đập chứa nước. Tổng
chiều dài các tuyến kênh mương khoảng 320 km, trong đó kênh mương được
kiên cố hóa là 130 km. Hàng năm các công trình thủy lợi phục vụ tưới cho sản
xuất 1.517 - 1.860 ha/2.200 ha diện tích canh tác vụ xuân.
Trên địa bàn huyện đến nay có tổng số 64 công trình cấp nước sinh
hoạt, trong đó có 58 công trình nước tự chảy, 01 công trình trạm bơm, 05
công trình bể chứa.
- Điện lưới: Hệ thống lưới điện quốc gia ngày càng được quan tâm, mở
rộng đến các xã, thôn bản. từ năm 2008, điện lưới quốc gia đã có 23/23 xã, thị
trấn. Tỷ lệ hộ được sử dụng điện đạt 90% năm 2010, trong khu vực thị trấn thị

Điều 42. Phòng cháy, chữa cháy rừng
1. Ở những khu rừng tập trung, rừng dễ cháy, chủ rừng phải có phương
án phòng cháy, chữa cháy rừng; khi trồng rừng mới tập trung phải thiết kế và
xây dựng đường ranh, kênh, mương ngăn lửa, chòi canh lửa, biển báo, hệ
thống thông tin theo quy định của pháp luật về phòng cháy, chữa cháy; chấp
hành sự hướng dẫn, kiểm tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
2. Trường hợp được đốt lửa trong rừng, gần rừng để dọn nương rẫy, dọn
đồng ruộng, chuẩn bị đất trồng rừng, đốt trước mùa khô hanh hoặc dùng lửa
trong sinh hoạt thì người đốt lửa phải thực hiện các biện pháp phòng cháy, chữa
cháy rừng.
3. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân xây dựng, tiến hành các hoạt động trên
các công trình đi qua rừng như đường sắt, đường bộ, đường dây tải điện và
hoạt động du lịch sinh thái, hoạt động khác ở trong rừng, ven rừng phải chấp
hành các quy định về phòng cháy, chữa cháy; tuân thủ các biện pháp phòng
cháy, chữa cháy rừng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và chủ rừng.
4. Khi xảy ra cháy rừng, chủ rừng phải kịp thời chữa cháy rừng, báo
ngay cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền; trong trường hợp cần thiết Uỷ ban
nhân dân các cấp có trách nhiệm và thẩm quyền huy động mọi lực lượng,
phương tiện cần thiết ở địa phương, điều hành sự phối hợp giữa các lực lượng
để kịp thời chữa cháy rừng có hiệu quả.
16
17
Trong trường hợp cháy rừng xảy ra trên diện rộng có nguy cơ gây thảm
họa dẫn đến tình trạng khẩn cấp thì việc chữa cháy rừng phải tuân theo các
quy định của pháp luật về tình trạng khẩn cấp.
Chính phủ quy định chi tiết về phòng cháy, chữa cháy rừng, khắc phục
hậu quả sau cháy rừng.
Điều 80. Nhiệm vụ của Kiểm lâm
1. Xây dựng chương trình, kế hoạch bảo vệ rừng, phương án phòng,
chống các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, phòng

+ Thông tư liên bộ số 06 - TT/LBB ngày 22 tháng 1 năm 1996 của Bộ
nông nghiệp và phát triển nông thôn hướng dẫn lập kế hoạch cấp phát và quản
lý, quyết toán kinh phí cho công tác phòng cháy chữa cháy rừng.
+ Chỉ thị 117/TTg ngày 20 tháng 3 năm 1995 của Thủ tướng Chính phủ
về những biện pháp cấp bách với công tác phòng cháy chữa cháy rừng.
+ Thông tư số 12/1998/TT-BLĐ-TBXH ngày 16 tháng 10 năm 1998
của Bộ lao động thương binh và xã hội về việc hướng dẫn hợp đồng làm công
tác quản lý bảo vệ rừng trong mùa khô hanh
+ Chỉ thị số 19/1998/CT-TTg ngày 17 tháng 4 năm 1998 của Thủ tướng
Chính phủ về các biện pháp cấp bách phòng cháy chữa cháy rừng.
+ Công điện số 285/CP-KTL ngày 18 tháng 3 năm 1998 của Thủ tướng
Chính phủ điện gửi: UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, các bộ
nông nghiệp và phát triển nông thôn, kế hoạch và đầu tư tài chính tăng cường
công tác phòng cháy chữa cháy rừng.
+ Quyết định số 517NN/TCCB/QĐ ngày 29 tháng 4 năm 1996 của Bộ
trưởng bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn về việc kiểm tra đôn đốc công
tác phòng cháy chữa cháy rừng của các tỉnh.
+ Quyết định số 86/QĐ-TTg ngày 21 tháng 2 năm 1998 của Thủ tướng
Chính phủ về việc thành lập ban chỉ đạo trung ương về công tác phòng cháy
chữa cháy rừng.
+ Công văn số 3990NN/BCĐPCCCR/CV ngày 6 tháng 11 năm 1997
của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn chỉ đạo cho ban chỉ đạo phòng
cháy chữa cháy rừng của các tỉnh thành phố trực thuộc trung ương tăng cường
công tác đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật cho công tác phòng cháy chữa cháy
rừng, kiện toàn ban chỉ đạo của tỉnh, thành phố.
+ Chỉ thị số 21/02/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 12 tháng 12
năm 2002 về tăng cường thực hiện công tác phòng cháy chữa cháy rừng.
18
19
+ Quyết định 1157/QĐ-TTg ngày 4 tháng 12 năm 2002 chỉ đạo các địa

19
20
Ở Mỹ năm 1914 E.Abeal và C.B.Shon 1929 đã đưa ra phương pháp dự
tính dự báo cháy rừng thông qua việc xác định độ ẩm của tầng thảm mục
trong rừng với yếu tố khí tượng thủy văn để từ đó đề ra các biện pháp phòng
cháy chữa cháy rừng. Họ cho rằng độ ẩm của tầng thảm mục rừng nói lên
mức độ khô hạn của rừng. Độ khô hạn càng cao thì khả năng xuất hiện cháy
rừng càng lớn.
Ở Nga năm 1927 E.V.Valentic Ông đã thống kê các nạn cháy rừng và đã
xác định được mối quan hệ giữa số lượng và diện tích rừng cháy và số vụ
cháy với 3 chỉ số như: Số ngày không mưa, lượng mưa và tốc độ gió từ đó
Ông kết luận cháy rừng bắt nguồn từ nơi không vệ sinh rừng, rừng gặp khô
hạn kéo dài nguồn vật liệu cháy dần dần được tăng lên và dẫn đến cháy rừng.
V.G.Nestorov (1939) cũng đi sâu nghiên cứu về các yếu tố khi tượng
thủy văn và một số yếu tố khác có ảnh hưởng đến cháy rừng và đề ra
phương pháp dự báo cháy rừng theo phương pháp tổng hợp, Ông đưa ra biểu
thức toán học để đánh giá mức độ nguy hiểm của cháy rừng gồm 3 yếu tố:
Nhiệt độ lúc 13 giờ trưa, lượng mưa ngày, độ ẩm không khí và đã đi đến kết
luận “Nơi nào nhiệt độ càng cao, số ngày không mưa kéo dài và độ ẩm
không khí càng thấp thì dẫn đến vật liệu cháy càng khô nên rất dễ phát sinh
nạn cháy rừng”.
Từ đó Ông tổng kết đưa ra chỉ tiêu tổng hợp để đánh giá mức độ nguy
hiểm cho từng vùng rừng. Ông đưa ra 5 cấp độ cháy rừng nguy hiểm với giá
trị P:
Cấp I có giá trị P < 300 đây là cáp nhỏ nhất.
Cấp V có giá trị P > 1000 đây là cấp lớn nhất.
Giá trị P càng cao thì mức độ nguy hiểm, nguy cơ cháy rừng càng lớn.
Giá trị P tỷ lệ thuận với nhiệt độ, số ngày không mưa tỷ lệ nghịch với độ
ẩm không khí (Lượng mưa/ ngày).
Ở Inđonêsia đã và đang nghiên cứu phương pháp tụ mây để chữa cháy

thủy sản bị giảm sút, mất mát lớn về đa dạng sinh học, thu nhập của ngành du
lịch bị giảm xuống đáng kể. Sức khỏe của 70 triệu người thuộc các nước
trong khu vực bị ảnh hưởng. Các chỉ số về ô nhiễm không khí tăng lên gấp
đôi ở nhiều khu vực tại Inđonêsia và Malaysia. Tổng thiệt hại tính bằng tiền
lên đến 6 tỷ USD cho riêng Inđonêsia và khoảng 10 tỷ USD cho cả khu vực.
1.4.2.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Tính đến cuối năm 1999 nước ta còn khoảng 10,9 triệu ha rừng, chiếm
32,2% tổng diện tích tự nhiên toàn quốc, trong đó có 9,4 triệu ha rừng tự
nhiên và 1,5 triệu ha rừng trồng.
21
22
Diện tích rừng dễ cháy có khoảng 6 triệu ha bao gồm rừng Thông, Tràm,
Bạch đàn, Phi lao, Sa mu, Pơmu, rừng khộp, rừng tre nứa và trảng cỏ, cây bụi.
Ở Việt Nam bình quân mỗi năm mất khoảng gần 100.000 ha rừng, trong
số đó có khoảng 10% là do hậu quả cháy rừng. Theo thống kê chưa đầy đủ từ
năm 1963 đến năm 1994 có khoảng 1 triệu ha rừng bị cháy chủ yếu ở các
tỉnh: Quảng Ninh, Lâm Đồng, Minh Hải, Kiên Giang, Huế, Hà Tĩnh và vùng
Tây Bắc, Tây Nguyên. Trong khi đó từ những năm 1960 tới năm 1999 chúng
ta mới chỉ trồng mới được khoảng 1,5 triệu ha rừng.
Theo báo cáo của Cục Kiểm lâm trong 3 năm từ 1998 đến 2000 đã xảy ra
2108 vụ cháy rừng gây thiệt hại khoảng 23.000 ha. Trong 7 tháng đầu năm
2001 đã xảy ra ít nhất hơn 10 vụ cháy rừng, tổng diện tích bị thiệt hại khoảng
400 ha trong đó cháy lớn nhất ở Lâm Đồng là 330 ha và nhỏ nhất là ở tỉnh
Thái Nguyên 0,75 ha.
Trung bình mỗi năm Việt Nam xảy ra 1.413 vụ cháy rừng, gây thiệt hại
3.616 ha rừng tự nhiên và 3.032,5 ha rừng trồng. Đặc biệt từ tháng 1 đến
tháng 4 năm 2002 các vụ cháy rừng Tràm ở Vườn Quốc gia U Minh Thượng
(Kiên Giang) và U Minh Hạ (Cà Mau) đã làm thiệt hại trên 5.500 ha. Chưa kể
đến tổn thất về tài nguyên, môi trường chỉ tính riêng chi phí cho công tác
chữa cháy đã lên đến 7 - 8 tỷ đồng.

Định tỉnh Lạng Sơn.
- Thời gian tiến hành chuyên đề từ tháng 9 năm 2011 đến tháng 2
năm 2012.
2.3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Đánh giá thực trạng cháy rừng tại huyện Tràng Định tỉnh Lạng Sơn.
+ Công tác tham mưu chỉ đạo.
+ Công tác tuyên truyền về phòng cháy chữa cháy rừng.
+ Công tác phòng cháy chữa cháy rừng năm 2006 - 2010.
- Tìm hiểu những thuận lợi, khó khăn trong công tác phòng cháy chữa
cháy rừng tại huyện Tràng Định tỉnh Lạng Sơn.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế việc cháy rừng tại huyện
Tràng Định tỉnh Lạng Sơn.
2.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện được một số nội dung đã nêu trên chuyên đề sử dụng một
số phương pháp nghiên cứu sau:
23
24
2.4.1. Phương pháp ngoại nghiệp
- Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp:
Thu thập số liệu thứ cấp chúng tôi sử dụng phương pháp kế thừa số liệu.
+ Thu thập số liệu về tổng diện tích rừng của toàn huyện
+ Tổng diện tích rừng bị thiệt hại do cháy rừng gây ra trong toàn huyện
+ Loại rừng bị cháy
+ Nguyên nhân gây cháy
+ Các biện pháp phòng cháy chữa cháy rừng hiện đang thực hiện
- Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
Sử dụng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn RRA
* Xây dựng bản câu hỏi phù hợp với trình độ người dân và lượng thông tin
về công tác phòng cháy chữa cháy rừng, chủ yếu là người dân sống gần rừng.
* Chọn mẫu điều tra phỏng vấn: Cán bộ tham gia quản lý địa bàn, chọn

cao. Nếu địa phương, đơn vị nào để rừng bị xâm hại cũng như cháy rừng xẩy
ra, gây thiệt hại lớn tài nguyên rừng thì Chủ tịch UBND địa phương và Thủ
trưởng đơn vị đó phải chịu trách nhiệm trước Chủ tịch UBND tỉnh.
Khẩn trương xây dựng lực lượng bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy
rừng từ cấp tỉnh đến cơ sở. Mỗi huyện, thành phố, thị xã; xã, phường có rừng
và đơn vị chủ rừng đều phải thành lập Đội cơ động bảo vệ rừng, sẵn sàng xử
lý mọi tình huống xảy ra. Riêng đối với công tác phòng cháy, chữa cháy rừng
phải củng cố, duy trì các tổ đội quần chúng tham gia cứu chữa cháy rừng của
các thôn bản, khối phố có rừng và tổ đội sản xuất của các đơn vị chủ rừng.
Hệ thống tổ chức dự báo cháy rừng phục vụ công tác chỉ đạo phòng
chống cháy rừng. Thực hiện quyết định số 127/2000/QĐ - BNN-KL ngày 11
tháng 12 năm 2000 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn về việc ban
25

Trích đoạn Những khó khăn MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY RỪNG TẠI HẠT KIỂM LÂM TRÀNG ĐỊNH Công tác tuyên truyền và giáo dục pháp luật, hướng dẫn các biện pháp kỹ thuật PCCCR cho nhân dân Xây dựng đường băng cản lửa và chòi canh phát hiện lửa rừng KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 4.1 KẾT LUẬN
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status