PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG, LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN Ở CÁC NUỚC ĐANG PHÁT TRIỂN - Pdf 26

ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
KHOA KINH TẾ
***
BỘ MÔN:
KINH TẾ PHÁT TRIỂN
TIỂU LUẬN:
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG, LÝ THUYẾT VÀ
THỰC TIỄN Ở CÁC NUỚC ĐANG PHÁT
TRIỂN
GVHD: TS Nguyễn Chí Hải
Nhóm thực hiện: nhóm 11
Nguyễn Thị Hoàng Anh K104010001
Phạm Quỳnh Anh K104010002
Phan Thị Thu Hằng K104010022
Đặng Thu Hồng K104010032
Bùi Hồng Uyên K104010096
Phát triển bền vững. Lý thuyết và thực tiễn tại các nước đang phát triển.
MỤC LỤC


 !"#$%&%'( !")!*#$%&
+ !"#$%&%'( !")!*#$%&,' /012*345(%6!732,38(
 !"9
:;! <-=;( !"#$%&/>!%6!--6-/;( !"?
@!A3-=;( !")!*#$%&B
-CD3-E-#F/!GH( !"#$%&B
+-/!$3)!I#F./FJ( !")!*#$%&K
LMNMOPQRSTU:VMWPXYLZ[MQRST\]
NMOP^:O[P_
N!!IJ`!J@G>6-_
N!!IJ-=;8TF_

Đặc biệt với các nước đang phát triển, phát triển bền vững lại là một bài toán không dễ
giải quyết. Cân bằng mục tiêu tăng trưởng kinh tế và đảm bảo phát triển bền vững về
môi trường, văn hoá, xã hội là đích hướng đến của tất cả các quốc gia. Nhưng mỗi
nước lại có một phương pháp, hướng giải quyết khác nhau. Nghiên cứu kinh nghiệm
phát triển thực tiễn tại các quốc gia phát triển và đang phát triển khác sẽ đem lại nhiều
bài học kinh nghiệm quý báu cho quá trình phát triển kinh tế bền vững tại Việt Nam.
3
Phát triển bền vững. Lý thuyết và thực tiễn tại các nước đang phát triển.
Chương I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1. Phát triển bền vững và phát triển kinh tế bền vững
Phát triển bền vững là một khái niệm mới nhằm định nghĩa một sự phát triển về mọi
mặt trong hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát triển trong tương lai xa. Khái
niệm này hiện đang là mục tiêu hướng tới nhiều quốc gia trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ
dựa theo đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý, văn hóa riêng để hoạch định chiến
lược phù hợp nhất với quốc gia đó.
Khái niệm “phát triển bền vững” được giới thiệu lần đầu tại hội nghị Liên Hiệp Quốc
về “Môi trường sống của con người” ở Stockholm, Thụy Điển vào năm 1972 để
khuyến khích các quốc gia phải nhận thức được việc tiêu thụ quá mức các nguồn tài
nguyên thiên nhiên. Hội nghị chuyên đề của Liện hiệp Quốc đã tạo ra sự quan tâm rất
lớn về môi trường ở cấp quốc tế, dẫn đến việc thành lập các cơ quan liên quan ở nhiều
nước, bao gồm Chương trình Môi trường LHQ (UNEP) và Ủy ban môi trường và phát
triển thế giới.)
Thuật ngữ "phát triển bền vững" xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm
Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên
Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: "Sự phát triển của nhân loại
không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất
yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học".
Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 nhờ Báo cáo Brundtland (còn gọi
là Báo cáo Our Common Future) của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới -
WCED (nay là Ủy ban Brundtland). Báo cáo này ghi rõ: Phát triển bền vững là "sự

cuộc sống.
Phát triển bền vững cho rằng vì sự chênh lệch giàu nghèo trên thế giới cho nên bắt
buộc phải theo một hướng đi mới. Một mặt cần phải kìm giữ sử dụng tài nguyên, ngăn
ngừa ô nhiễm môi trường và phá hủy môi sinh, giảm thiểu rác thải. Mặt khác, số dân
đói nghèo trên thế giới có yêu cầu gia tăng tiêu dùng và sản xuất để thỏa mãn các yêu
cầu căn bản, bảo vệ và nâng cao nhân phẩm. Phát triển bền vững nhận định rằng quan
hệ không cân bằng, không bình đẳng trên thế giới và mô hình toàn cầu hóa kiểu tân tự
do là một mối đe dọa cần phải phòng chống. Phát triển bền vững chỉ là thực tại nếu nó
có tính cách toàn cầu, nó nhằm thỏa mãn yêu cầu căn bản của con người là lương thực,
nước sạch, nhà ở, sức khỏe, giáo dục, an sinh, phúc lợi, quyền phát biểu, quyền tham
gia, v.v. và nhiều yêu cầu tinh thần và vật chất khác. Luận thuyết Phát triển bền vững
thừa nhận tăng trưởng kinh tế có tính cần thiết nhưng cũng xác định tăng trưởng chỉ là
điều kiện cần (không phải là điều kiện đủ) cho phát triển. Như vậy có nghĩa tăng
trưởng chỉ là phương tiện cho cứu cánh là phát triển bền vững.
Theo Luận thuyết Phát triển bền vững, kinh tế và xã hội phải hòa hợp, bổ sung thành
một thể thống nhất. Nhu cầu của con người phải được đáp ứng, hàng hóa và dịch vụ
phải được cung cấp và phân phối trong sự công bằng. Phát triển bền vững chủ trương
can thiệp vào kinh tế - xã hội để thống nhất các chính sách hoặc đường lối nhằm thực
hiện những đổi thay mong muốn, tạo điều kiện cho con người có tiến bộ. Phát triển
bền vững thừa nhận rằng mỗi xã hội, mỗi dân tộc có yêu cầu và lý do để định những
phương hướng phát triển và chọn những phương thức hành động riêng. Mục tiêu cuối
cùng của phát triển bền vững là thỏa mãn yêu cầu cơ bản của con người, cải thiện cuộc
sống, song song bảo toàn và quản lý hữu hiệu hệ sinh thái, bảo đảm tương lai ổn định.
Phát triển bền vững cho rằng cần phải hoạt động sản xuất có giới hạn, tiêu dùng và thụ
hưởng có tiết kiệm, phân phối công bằng thu nhập, điều hòa dân số và nhân lực, bảo
đảm sự cân bằng giữa nhu cầu có khuynh hướng gia tăng nhanh với tài nguyên bị hạn
chế. Phát triển bền vững đề cao các giá trị nhân bản, tính công bằng trong sản xuất,
5
Phát triển bền vững. Lý thuyết và thực tiễn tại các nước đang phát triển.
tiêu dùng và thụ hưởng. Nó nhằm thực hiện và đảm bảo sự liên đới giữa các thế hệ,

chính họ gây ra.
Đối với những nước đang trong quá trình chuyển đổi, do một thời kỳ lịch sử phát triển
kinh tế theo mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung và hiện nay đang trong giai đoạn
đầu của sự phát triển. Lo ngại sự tụt hậu về kinh tế so với thế giới cộng với những
nhận thức sai lầm về hai khái niệm tăng trưởng và phát triển, các nước này vì thế
khuyến khích khai thác tối đa nguồn tài nguyên thiên nhiên để phục vụ cho sản xuất,
tăng tốc độ tăng trưởng với hy vọng đuổi kịp các nước khác trong thời gian ngắn.
6
Phát triển bền vững. Lý thuyết và thực tiễn tại các nước đang phát triển.
Ngoài ra những nước đang trong quá trình chuyển đổi cũng mắc phải những vấn đề
bảo vệ môi trường, tài nguyên thiên nhiên giống như những nước đang phát triển khác.
Với những sai lầm về nhận thức và những khó khăn đã dẫn tới nguồn tài nguyên thiên
nhiên đến bên bờ của khủng hoảng cân bằng sinh thái.
Tuy nhiên, ngày nay khi mà mối quan hệ tương tác giữa các nước ngày càng phức tạp
hơn và những tác động môi trường không chỉ xảy ra riêng với một quốc gia nào mà
xảy ra trên toàn thế giới. Nhận thức về bảo vệ môi trường và các nước hiện có những
hành động tích cực nhằm phát triển bền vững đang tăng lên. Các nước phát triển đã
giúp đỡ các nước đang phát triển, các nước nghèo khắc phục hậu quả ô nhiễm môi
trường và có những nỗ lực lớn trong việc nghiên cứu nguồn nguyên liệu sạch thay
thế… Các nước đang phát triển đã sử dụng có chọn lọc công nghệ nhằm giảm thiểu tác
động đến môi trường. Các nước đang trong quá trình chuyển đổi đã chuyển hướng từ
mục tiêu tăng trưởng nhanh sang mục tiêu phát triển bền vững, hài hoà xã hội.
4. Nội dung của phát triển kinh tế bền vững
4.1. Các tiêu chí cơ bản đánh giá sự phát triển bền vững:

Bao gồm 6 nhóm chỉ tiêu chính:
- Thứ nhất, nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn lực: vốn, lao động, năng
suất lao động. Tăng trưởng kinh tế phải đảm bảo sử dụng hợp lý, tiết kiệm và hiệu
quả các nguồn lực kinh tế - xã hội.
- Thứ hai, nhóm chỉ tiêu đánh giá cơ cấu kinh tế của quốc gia: cơ cấu kinh tế chuyển

phần nhân loại bị đe dọa vì bệnh tật, đói nghèo, thiên tai, v…v Phát triển bền
vững về mặt xã hội còn có nghĩa con người có môi trường sống hài hòa, công bằng
và có an sinh.
- Về mặt kinh tế, cần phải phân biệt phát triển với tăng trưởng. Tăng trưởng chú
trọng tới vật chất và số lượng, tích lũy và bành trướng trong khi phát triển quan
tâm tới tiềm năng, phẩm chất, phục vụ con người một cách toàn diện, về vật chất
lẫn tinh thần. Phát triển bền vững về mặt kinh tế nghịch với gia tăng sản xuất
không giới hạn, chinh phục thị trường bằng mọi cách, thương mại hóa bất cứ hàng
hóa hoặc dịch vụ nào, tìm lợi nhuận tối đa trong mọi hoàn cảnh. Phát triển bền
vững kinh tế đòi hỏi phải cân nhắc ảnh hưởng bây giờ hay sau này của hoạt động
và tăng trưởng sản xuất lên chất lượng cuộc sống, cứu xét xem có gì bị hư hại, bị
phí phạm.
- Phát triển bền vững về phương diện môi trường có nghĩa phải bảo vệ khả năng tái
sinh của hệ sinh thái, nhịp độ gia tăng sử dụng tài nguyên có khả năng tái sinh phải
thấp hơn tốc độ tái sinh, việc sử dụng tài nguyên không có khả năng tái sinh phải
tùy thuộc khả năng sáng chế tư liệu thay thế. Sau cùng, mức độ ô nhiễm phải thấp
hơn khả năng tái tạo của môi trường, môi sinh. Yêu cầu bền vững về môi trường-
môi sinh buộc phải giới hạn sự tăng trưởng kinh tế. Cần phải thừa nhận rằng kinh
tế chỉ là một bộ phận của hệ sinh thái và phát triển kinh tế phải bảo vệ môi trường
– môi sinh.
- Về phương diện chính trị, phát triển bền vững có nghĩa hết hợp và dung hòa các
vấn đề xã hội, kinh tế và môi trường để hệ thống tổ chức và sinh hoạt chính trị
không có căng thẳng, xáo trộn, có thể đi tới rối loạn hoặc đổ vỡ. Các định chế
chính trị cần phải tôn trọng và bảo vệ công bằng, khuyến khích các đối tượng thụ
hưởng đối thoại và tham gia trong tinh thần phù hợp với các nguyên tắc dân chủ tự
do. Tính quan liêu phải được xóa bỏ vì nó trói buộc con người, đè nén xã hội, cản
trở mọi sự đổi thay, tiến bộ. Tôn trọng đạo lý cũng là một yêu cầu rất cần, gần như
một bắt buộc.
4.2. Các điều kiện bảo đảm phát triển kinh tế bền vững
Hoạch định chiến lược và kế hoạch

đi đến một xã hội có nguồn của cải dồi dào. Và chính sự phát triển như vũ bão của
khoa học, kỹ thuật và công nghệ đã và đang thúc đẩy mạnh mẽ sức sản xuất cũng như
lực lượng sản xuất phát triển không ngừng.

Vấn đề thể chế và quản lý của Nhà nước
Năng lực quản lý, điều hành của Nhà nước: là nhân tố rất quan trọng không chỉ đối với
phát triển kinh tế mà còn đối với việc bảo đảm tính bền vững. Theo các mô hình tăng
trưởng nội sinh: "chính sách của Chính phủ có tác động đến tăng trưởng dài hạn".
Để phát triển kinh tế bền vững cần có các điều kiện và môi trường cần thiết đảm bảo
như: môi trường chính trị, môi trường pháp lý, môi trường kinh tế vĩ mô, môi trường
văn hoá - xã hội v.v.
9
Phát triển bền vững. Lý thuyết và thực tiễn tại các nước đang phát triển.
CHƯƠNG II: KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TẠI
MỘT SỐ NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN. BÀI HỌC KINH
NGHIỆM CHO VIỆT NAM.
1. Kinh nghiệm tại một số nước
1.1. Kinh nghiệm của Nhật Bản
Là một nước thiệt hại lớn trong chiến tranh thế giới lần thứ II, Nhật Bản ngày nay là
một siêu cường kinh tế thứ hai của thế giới. Đạt được thành tựu đó, Nhật Bản đã thực
thi các vấn đề như: chuyển đổi cơ cấu ngành liên tục, tốc độ tăng trưởng kinh tế được
chú ý. Thời kỳ gần 20 năm từ năm 1955 đến năm 1973 là thời kỳ mà nền kinh tế Nhật
Bản có tốc độ tăng trưởng rất cao. GDP thực tế theo giá so sánh hàng năm (năm gốc là
1965) của Nhật Bản trong thời kỳ này hầu hết đều có tốc độ tăng lên tới hai chữ số.
Năm 1973, GNP của Nhật Bản chỉ còn bằng một phần ba của Mỹ và lớn thứ hai trên
thế giới.
Những nhân tố tạo nên sự tăng trưởng nhanh chóng của Nhật Bản trong thời kỳ này
gồm: cách mạng công nghệ, lao động rẻ lại có kỹ năng, khai thác được lao động dư
thừa ở khu vực nông nghiệp, tỷ lệ để dành cao, đầu tư tư nhân cao, đồng yên Nhật
được cố định vào dolla Mỹ với tỷ giá 360JPY/USD có lợi cho xuất khẩu của Nhật

Mục tiêu tăng trưởng nhanh chóng mặt (có thể đến 2 con số) không còn nằm trong
chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Trung Quốc. Hiện nay, Trung Quốc chuyển
hướng và đang cố gắng kìm hãm tốc độ phát triển, không để quá nóng. Chính phủ
Trung Quốc đưa ra các biện pháp thắt chặt đầu tư rất mạnh tay.
Trung Quốc có những thay đổi tích cực trong cơ cấu chi tiêu, đầu tư nhiều hơn cho bảo
vệ và khắc phục những thiệt hại đối với môi trường. Dự kiến sẽ duy trì sự tăng trưởng
bình ổn của cung ứng tiền tệ, tiếp tục điều chỉnh kết cấu đầu tư, giảm đầu tư vào các
ngành tiêu hao năng lượng và gây ô nhiễm cao ở mức thích hợp và tăng tiêu dùng
trong nước.
Là một nền kinh tế chuyển đổi, Trung Quốc chú trọng cải cách thể chế, ban hành nhiều
bộ luật, điều lệ, sửa đổi hoặc huỷ bỏ những quy định đã cũ, lạc hậu (trái với các quy
định WTO). Trung Quốc vận dụng tốt những quy tắc bảo hộ của WTO để đảm bảo
duy trì sản xuất ổn định trong mỗi doanh nghiệp cũng như toàn bộ nền kinh tế. Trung
Quốc đã thực hiện bước đột phá trong cải cách cơ chế chính sách đối với doanh nghiệp
Nhà nước, áp dụng các tiêu chuẩn quản lý chất lượng quốc tế.
2.4. Kinh nghiệm của Malaysia
Những năm 90 của thế kỷ 20 trở về đây, Malaysia hướng sang mục tiêu phát triển cân
đối giữa tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội và môi trường. Là một
nước phát triển sau nên Malaysia nhận thức khá tốt trong việc hoạch định và đảm bảo
chiến lược phát triển kinh tế bền vững. Tóm lại, Malaysia đã đạt được những kết quả
phát triển đáng khích lệ trong suốt 4 thập kỷ qua.
2. Bài học rút ra cho Việt Nam
2.1. Vấn đề đặt ra
• Kiên trì mô hình kinh tế thị trường mở và hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế
dựa vào tăng trưởng xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp chế biến, công nghiệp
chế tạo trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh “tĩnh” và “động” của đất nước.
11
Phát triển bền vững. Lý thuyết và thực tiễn tại các nước đang phát triển.
• Phát triển cơ cấu hàng hoá xuất khẩu theo hướng đa dạng hoá, lựa chọn mặt
hàng xuất khẩu chủ lực phù hợp với tiến trình chuyển đổi cơ cấu ngành trong

đủ hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân, xây dựng đất nước
giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủvà văn minh là nguyên tắc quán triệt nhất
quán trong mọi giai đoạn phát triển.
- Thứ hai, phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm của giai đoạn phát triển sắp tới,
bảo đảm an ninh lương thực, năng lượng để phát triển bền vững, bảo đảm vệ sinh
và an toàn thực phẩm cho nhân dân; kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa với phát
triển xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên
trong giới hạn cho phép về mặt sinh thái và bảo vệ môi trường lâu bền. Từng bước
thực hiện nguyên tắc “mọi mặt kinh tế, xã hội và môi trường đều cùng có lợi”.
- Thứ ba, bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường là một yếu tố không thể tách rời
của quá trình phát triển. Tích cực và chủ động phòng ngừa, ngăn chặn những tác
động xấu đối với môi trường do hoạt động của con người gây ra. Cần áp dụng rộng
rãi nguyên tắc “người gây thiệt hại đối với tài nguyên và môi trường thì phải bồi
hoàn”.
Xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ và có hiệu lực về công tác bảo vệ môi
trường; chủ động gắn kết và có chế tài bắt buộc lồng ghép yêu cầu bảo vệ môi
trường trong việc lập quy hoạch, kế hoạch, chương trình và dự án phát triển kinh
tế-xã hội, coi yêu cầu về bảo vệ môi trường là một tiêu chí quan trọng trong đánh
giá phát triển bền vững.
- Thứ tư, quá trình phát triển phải bảo đảm đáp ứng một cách công bằng nhu cầu của
thế hệ hiện tại và không gây trở ngại tới cuộc sống của các thế hệ tương lai. Tạo
lập điều kiện để mọi người và mọi cộng đồng trong xã hội có cơ hội bình đẳng để
phát triển; được tiếp cận tới những nguồn lực chung và được phân phối công bằng
những lợi ích công cộng; tạo ra những nền tảng vật chất, tri thức và văn hóa tốt đẹp
cho những thế hệ mai sau; sử dụng tiết kiệm những tài nguyên không thể tái tạo lại
được; gìn giữ và cải thiện môi trường sống; phát triển hệ thống sản xuất sạch và
thân thiện với môi trường; xây dựng lối sống lành mạnh, hài hòa, gần gũi và yêu
quý thiên nhiên.
- Thứ năm, khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực cho công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, thúc đẩy phát triển nhanh, mạnh và bền vững đất nước. Công nghệ

khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội. Tốc độ tăng trưởng duy trì bình quân trên 7% trong
thời gian dài.
1.2. Chất lượng tăng trưởng kinh tế
Chất lượng tăng trưởng kinh tế chưa cao, thiếu tính ổn định. Tốc độ tăng trưởng kinh
tế của Việt Nam đã chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng đóng góp của yếu tố vốn,
tăng tỷ trọng đóng góp của yếu tố lao động và tăng tỷ trọng đóng góp của yếu tố năng
suất các nhân tố tổng hợp. Tuy vậy, năng suất lao động mặc dù liên tục tăng nhưng
quy mô tuyệt đối vẫn còn thấp.
1.3. Cơ cấu nền kinh tế
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch một cách hợp lý theo xu hướng chung của thế giới nhưng
tốc độ chuyển dịch còn chậm. Về cơ cấu ngành kinh tế trong thu nhập quốc nội GDP:
Xét theo 3 khu vực lớn là Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản; Công nghiệp và Xây
dựng; Dịch vụ thì khu vực Công nghiệp và xây dựng có tốc độ tăng trưởng cao hơn tốc
14
Phát triển bền vững. Lý thuyết và thực tiễn tại các nước đang phát triển.
độ tăng trưởng chung nên tỷ trọng của ngành trong tổng GDP cả nước đã tăng nhanh,
nhất là từ năm 1990. Chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành nông nghiệp chủ yếu là
trồng trọt sang chăn nuôi (chiếm 18,1% tổng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp).
Khu vực công nghiệp có vốn FDI đã vươn lên chiếm tỷ trọng cao đối với một số sản
phẩm chủ yếu sản xuất.
1.4. Vấn đề xóa đói giảm nghèo
Trên thực tế cho thấy tỷ lệ nghèo đã được giảm mạnh. Tuy nhiên, tốc độ giảm nghèo
đã chậm lại.
Nguyên nhân chính của những thành tựu to lớn nêu trên được xác định là tăng trưởng
kinh tế cao và ổn định tạo điều kiện thuận lợi cho xóa đói giảm nghèo.
Ngoài ra, vẫn còn có những thách thức trong việc thực hiện mục tiêu xoá đói giảm
nghèo. Đó là: Thành tựu xoá đói giảm nghèo chưa vững chắc; Tỷ lệ nghèo đói ở nông
thôn, vùng núi và trung du còn cao; Khác biệt về đói nghèo giữa các dân tộc còn lớn;
Chênh lệch giàu - nghèo có xu hướng gia tăng.
Khả năng tiếp cận với các dịch vụ xã hội của người nghèo có tăng lên nhưng vẫn còn

Bước sang thời kỳ phát triển mới, những nội dung cần phải thực hiện là:
- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và vai trò của nhà nước để tiếp tục đổi mới hơn
nữa cả về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá tư tưởng, đặc biệt là đổi mới hệ thống
chính trị, cải cách nền hành chính quốc gia.
- Thực hiện chính sách ngoại giao mềm dẻo, đảm bảo nguyên tắc độc lập chủquyền
của quốc gia, đa phương hoá, đa dạng hoá trong quan hệ đối ngoại
- Cải cách hành chính và bộ máy nhà nước.
 Hoàn thiện công tác quy hoạch, kế hoạch và đầu tư phát triển.
Công tác quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Trong thời gian tới, công
tác quy hoạch phải được đổi mới theo hướng nhà nước xây dựng và thực hiện quy
hoạch “cứng” nền kinh tế quốc dân, còn doanh nghiệp thực hiện quy hoạch “mềm”. -
Quy hoạch định hướng theo chiến lược cơ cấu.
Chuyển biến mạnh mẽ trong chính sách đầu tư theo hướng khắc phục sự thiên lệch
trong đầu tư, tạo điều kiện khuyến khích đầu tư tư nhân và đầu tư nước ngoài.
 Phát triển khoa học - công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực nhằm phát triển nền
kinh tế và thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu các ngành kinh tế nước ta.
Ngày nay, khoa học - công nghệ, có vai trò hết sức quan trọng đối với tăng trưởng,
phát triển kinh tế nói chung và trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá “rút
ngắn.
 Đẩy mạnh hoạt động thương mại nhằm phát triển kinh tế và thúc đẩy chuyển
đổi cơ cấu ngành kinh tế trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế.
Đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính sách, cơ chế quản lý thương mại thích ứng với
quá trình phát triển sản xuất và chuyển đổi cơcấu ngành, chuyển đổi cơ cấu mặt hàng
xuất nhập khẩu:
Chuyển đổi cơ cấu mặt hàng xuất nhập khẩu phải phù hợp với quá trình chuyển đổi cơ
cấu ngành kinh tế.
 Hoàn thiện thể chế, chính sách kinh tế nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế và
chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và
quốc tế.
Phát triển đồng bộ các loại thị trường. Cơ chế thị trường cạnh tranh có tác động trực

Chương trình Nghị sự 21. Năm 1992, đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam tham dự Hội
nghị thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và Phát triển ở Rio de Janero (Braxin) đã ký
Tuyên bố chung của thế giới về môi trường và phát triển, Chương trình Nghị sự 21
toàn cầu, cam kết xây dựng Chiến lược phát triển bền vững quốc gia và chương trình
nghị sự 21 địa phương. Năm 2004, Việt Nam đã phê chuẩn Chiến lược quốc gia về bảo
vệ môi trường thời kỳ đến 2010 và định hướng đến 2020. Việt Nam cũng đã tham gia
nhiều cam kết quốc tế nhằm bảo vệ môi trường và phát triển xã hội. Năm 2000, Việt
Nam cam kết thực hiện các Mục tiêu thiên niên kỷ của thế giới.
Hội đồng phát triển bền vững quốc gia cũng đã được thành lập theo Quyết định của
Thủ tướng Chính phủ số1032/QĐ-TTg ngày 27/9/2005. Hội đồng do Phó Thủ tướng
Chính phủ làm Chủ tịch, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư là Phó Chủ tịch thường
trực. Cơ quan Thường trực giúp việc cho Hội đồng phát triển bền vững là Văn phòng
phát triển bền vững, đặt tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Hòa nhập với cộng đồng quốc tế, trong quá trình đổi mới kinh tế và xã hội, phát triển
bền vững, với những nội hàm phát triển toàn diện và có hiệu quả về kinh tế, đi đôi với
17
Phát triển bền vững. Lý thuyết và thực tiễn tại các nước đang phát triển.
thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường, luôn luôn là mục tiêu phát
triển trong từng thời kỳ kế hoạch của đất nước.
Đại hội Đảng lần thứ IX đã thông qua Mục tiêu chiến lược 10 năm (2001-2010), mà
nội dung tập trung vào những nhân tố phát triển bền vững: “Đưa nước ta ra khỏi tình
trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân
dân. Tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp
theo hướng hiện đại; nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ
tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản. Vị thế của nước ta trên
trường quốc tế được nâng cao”.
Để thực hiện Mục tiêu phát triển bền vững như Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc đã
đề ra và thực hiện cam kết quốc tế về phát triển bền vững, Thủ tướng Chính phủ đã
phê duyệt Định hướng Chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình Nghị

ngày càng nhiều hàng hóa theo yêu cầu của thị trường, phải bảo đảm vệ sinh, an
toàn thực phẩm, bảo tồn và phát triển được các nguồn tài nguyên đất, nước,
không khí, rừng và đa dạng sinh học.
• Phát triển bền vững vùng và xây dựng các cộng đồng địa phương phát triển bền
vững.
19
Phát triển bền vững. Lý thuyết và thực tiễn tại các nước đang phát triển.
KẾT LUẬN
Phát triển kinh tế bền vững là một khái niệm tuy mới nhưng rất nhanh chóng trở thành
một vấn đề được nhiều học giả quan tâm và nghiên cứu từ nhiều mặt, từ nhiều mối liên
hệ với các khái niệm khác.
"Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thỏa mãn nhu cầu của hiện tại song không
xâm hại tới khả năng thỏa mãn của các thếhệtương lai".Việc này cần phải được đảm
bảo bằng sự tăng trưởng kinh tế đạt được cả về chất và về lượng.
Tiêu chí để đánh giá một nền kinh tế được coi là tăng trưởng có chất lượng hay không
chỉ khi đảm bảo được 2 yếu tố sau: Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng cao cần được duy trì
trong dài hạn.Thứ hai, tăng trưởng đó phải đóng góp trực tiếp vào việc nâng cao chất
lượng cuộc sống.
Phát triển kinh tế bền vững hiểu theo nghĩa rộng chính là phát triển kinh tế thể hiện sự
lan tỏa tích cực của nền kinh tế đến bền vững về văn hóa, xã hội và bền vững môi
trường. Phát triển kinh tế bền vững là yêu cầu đòi hỏi phải đạt được của sự phát triển
bền vững.
Có nhiều quan niệm khác nhau nhưng có một điểm chung đó là sự tiến bộ của một đất
nước phải được đánh giá trên ba mặt, tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và đảm bảo
môi trường môi sinh. Từ đó thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác hợp
lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường
và thu nhập, giữ gìn và phát triển văn hoá, xã hội.
Đối với các nước đang phát triển, phát triển bền vững hay phát triển kinh tế bền vững
là một vấn đề quan trọng.
Tại Việt Nam, từ thực tiễn quá trình phát triển kinh tế trong thời kì đổi mới, cùng với


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status