SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM ẢO TRONG GIẢNG DẠY VẬT LÝ 9"
1. TÓM TẮT ĐỀ TÀI:
Vật lí là một môn khoa học thực nghiệm được ứng dụng rộng rãi trong cuộc sống
và trong kỹ thuật, vì vậy việc lồng ghép các thí nghiệm vào trong các bài học của môn vật
lí là một biện pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng dạy và học góp phần tích cực
trong hoạt động truyền đạt kiến thức cho học sinh.
Việc đổi mới nội dung và phương pháp trong dạy học vật lí phải gắn liền với việc
tăng cường sử dụng thí nghiệm trong quá trình dạy học vật lí, tuy nhiên đối với bộ môn
vật lý nói chung và vật lí 9 nói riêng khối lượng kiến thức trong mỗi bài học tăng lên, đặc
biệt là các bài trong chương quang học môn vật lý lớp 9, mỗi bài có từ 2 đến 3 thí
nghiệm, mà các thí nghiệm trong bài đòi hỏi phải có sự chính xác cao của các dụng cụ,
nếu không sẽ dẫn đến học sinh rất khó quan sát hiện tượng xảy ra trong thí nghiệm. Hiện
nay trong bộ dụng cụ thí nghiệm của trường thì chỉ có một đèn chiếu,các đèn trộn màu
nhìn không rõ màu sắc được trộn ra. Từ đó dẫn đến học sinh mất tập trung và thiếu tin
tưởng vào thí nghiệm. Đây cũng chính là điều lo lắng và trăn trở của tôi khi lên lớp.Chính
vì thế tôi đã suy nghĩ và đưa ra giải pháp thay thế là sử dụng thí nghiệm ảo thay cho thí
nghiệm trực quan khi dạy chương quang học môn vật lý 9.
Nghiên cứu được tiến hành trên hai nhóm tương đương là hai lớp 9 trường THCS
Thiện Mỹ. Lớp 9A1 là lớp thực nghiệm, lớp 9A2 là lớp đối chứng. Lớp thực nghiệm
được thực hiện giải pháp thay thế khi dạy chương quang học môn vật 9. Khi tiến hành
nghiên cứu kết quả cho thấy là việc sử dụng thí nghiệm ảo trong dạy học vật lí có ảnh
hưởng rõ rệt đến sự hứng thú của học sinh, lớp thực nghiệm có kết quả học tập cao hơn
lớp đối chứng. Điểm bài kiểm tra sau tác động của nhóm thực nghiệm có giá trị trung
bình là 8,16; điểm bài kiểm tra sau tác động của nhóm đối chứng là 7,01.Kết quả kiểm
chứng t – test cho thấy P < 0.05 có nghĩa là có sự khác biệt lớn giữa điểm trung bình của
lớp thực nghiệm và lớp đối chứng. Điều đó chứng minh được việc dạy học có sử dụng thí
nghiệm ảo trong thực hành thí nghiệm môn vật lí 9 nâng cao chất lượng cho học sinh khi
học chương quang học.
2.GIỚI THIỆU:
Huỳnh Hữu Nghĩa.
Các nghiên cứu trên chủ yếu bàn về sử dụng công nghệ thông tin như thế nào trong
dạy học nói chung mà chưa có tài liệu, đề tài nào đi sâu vào việc sử dụng thí nghiệm ảo
trong dạy học vât lý.
Thông qua đề tài này tôi muốn có một nghiên cứu cụ thể hơn và đánh giá được hiệu
quả của việc đổi mới phương pháp dạy học, thông qua việc sử dụng các thí nghiệm ảo
trong phần quang học môn vật lý 9 hỗ trợ cho giáo viên thay trong việc sử dụng thí
nghiệm trực quan trong một số bài về ánh sáng ở chương quang học mà dụng cụ thí
nghiệm thiếu độ tin cậy. Từ đó, truyền cho các em lòng tin vào khoa học, say mê tìm hiểu
về vật lý cùng các ứng dụng của nó trong đời sống.
2.1 Vấn đề nghiên cứu:
Sử dụng thí nghiệm ảo trong dạy học chương quang học môn vật lí 9 có nâng cao
chất lượng cho học sinh không?
2.2 Giả thuyết nghiên cứu:
Sử dụng thí nghiệm ảo trong dạy học chương quang học môn vật lý 9 sẽ nâng cao
chất lượng cho học sinh trường THCS Thiện Mỹ
3.PHƯƠNG PHÁP :
3.1 Khách thể nghiên cứu.
Học sinh lớp 9A1, 9A2 Trường THCS Thiện Mỹ có những điểm tương đồng thuận
lợi cho việc nghiên cứu
* Giáo viên:
Cô Võ Thanh Trúc giáo viên dạy vật lý của 2 lớp 9A1, 9A2
+ Lớp 9A1 ( Lớp thực nghiệm )
+ Lớp 9A2 ( Lớp đối chứng)
* Hai lớp được chọn tham gia nghiên cứu có nhiều điểm tương đồng nhau về năng
lực học tập, thành phần dân tộc cụ thể như sau:
Bảng 1: Giới tính thành phần dân tộc của HS lớp 9A1, 9A2Trường THCS Thiện Mỹ
-Về hình thức học tập: tất cả các em ở hai lớp đều tích cực, chủ động.
- Về thành tích học tập hai lớp tương đương nhau về điểm số của môn lý ở HKI.
Số HS các nhóm Dân tộc
nghiệm ảo tại các website baigiagdientubachkim.com.
- Lớp 9A2 : Thiết kế bài dạy sử dụng các dụng cụ trực quan theo tiết dạy bình
thường.
* Tiến hành dạy thực nghiệm :
Thời gian thực nghiệm theo kế hoạch dạy học và theo thời khóa biểu để đảm bảo tính
khách quan.
Bảng 4: Thời gian thực nghiệm
Thời gian Môn/Lớ
p
Tiết(PPCT) Nội dung bài dạy
24/01/2011 Vật lý 46 Bài 40: Hiện tượng khúc xạ ánh sáng.
10/02/2011 Vật lý 47 Bài 41: Quan hệ giữa góc tới và góc khúc
xạ.
21/02/2011 Vật lý 48 Bài 42: Thấu kính hội tụ
17/02/2011 Vật lý 49 Bài 43 Ảnh của một vật tạo bởi thấu kính
hội
21/02/2011 Vật lý 50 Bài 44: Thấu kính phân kì
2/04/2011 Vật lý 62 Bài 52: Ánh sáng trắng ánh sáng màu
4/04/2011 Vật lý 63 Bài 53: Sự phân tích ánh sáng trắng.
9/04/2011 Vật lý 64 Bài 54: Sự trộn các ánh sáng màu
11/04/2011 Vật lý 65 Bài 55: Màu sắc các vật dưới ánh sáng
trắng và ánh sáng màu:
14/04/2011 Vật lý 66 Bài 56: Các tác dụng của ánh sáng
16/04/2011 Vật lý 67 Bài 57: Thực hành nhận biết ánh sáng đơn
sắc và ánh sáng không đơn sắc.
3.4 Đo lường:
- Bài kiểm tra trước tác động là bài kiểm tra học kì I môn vật lý 9.
- Bài kiểm tra sau tác động là bài kiểm tra sau khi học xong các bài trong chương
quang học ( xem phần phụ lục).Bài kiểm tra gồm 16 câu trắc nghiệm dạng nhiều lựa chọn
đúng sai và 4 câu tự luận .
- Kết quả của bài kiểm tra sau tác động của nhóm thực nghiệm có điểm trung bình cộng
là 8,16 kết quả điểm trung bình cộng bài kiểm tra tương ứng của nhóm đối chứng là 7,01. Độ
chênh lệch điểm số giữa hai nhóm là 0,82. Điều đó cho thấy điểm trung bình cộng của hai lớp
đối chứng và thực nghiệm đã có sự khác biệt rõ rệt, lớp được tác động có điểm trung bình
cộng cao hơn lớp đối chứng.
- Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn của hai bài kiểm tra là SMD = 0,82. Điều này
có nghĩa mức độ ảnh hưởng của tác động là lớn.
- Phép kiểm chứng T-test điểm trung bình sau tác động của hai lớp là p = 0.002<
0.05. Kết quả này khẳng định sự chênh lệch điểm trung bình của hai nhóm không phải là
do ngẫu nhiên mà là do tác động.
* Hạn chế:
Việc sử dụng thí nghiệm ảo trong thí nghiệm vật lý là một giải pháp tốt mang lại
hiệu quả thiết thực là giúp giáo viên có thể diễn đạt rõ ràng hơn những hiện tượng vật lý
và giúp học sinh có thể dễ dàng hơn trong việc quan sát, từ đó đi đến những nhận thức
đúng đắn về các hiện tượng vật lý. Tuy nhiên chúng ta cũng không nên quá lạm dụng vào
chúng, đồng thời đòi hỏi giáo viên phải có trình độ nhất định về công nghệ thông tin,mất
nhiều thời gian thiết kế thí nghiệm và bài dạy.
5.KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ:
5.1.Kết luận:
- Việc sử dụng thí nghiệm ảo trong dạy học vật lí làm tăng tính thực nghiệm của
môn học, tạo hứng thú học tập cho học sinh, giúp học sinh tin tưởng và nắm vững kiến
thức hơn.
- Hầu hết các thí nghiệm ảo đều có tính chính xác rất cao, gần như tuyệt đối, đáp
ứng phần lớn mục tiêu của tiết học, bài học và phương pháp giảng dạy của mỗi giáo viên.
Qua việc sử dụng thí nghiệm ảo trong chương quang học đã có thể giúp tôi diễn đạt rõ
ràng hơn về các hiện tượng vật lý như sự phân tích ánh sáng trắng và sự trộn các ánh sáng
màu lại với nhau để được ánh sáng có màu mới, hơn nữa qua đó học sinh cũng có thể dễ
dàng nhận biết kết quả một cách chính xác và tăng thêm hứng thú cho học sinh khi được
học các bài giảng có ứng dụng công nghệ thông tin và sử dụng phần mềm thí nghiệm ảo.
2 Nguyễn Hoàng Duy 7 10
3 Châu Thị Ngọc Đác 6 8
4 Trương Hoàng Đức 4.3 8
5 Nguyễn Trung Hậu 7 9.3
6 Trần Chung Hiếu 7 9.3
7 Lê Phát Huy 6 9
8 Lý Thị Thanh Hương 7.8 8.5
9 Trương Thị Thúy Loan 7 8
10 Hứa Thành Lộc 8 9.3
11 Huỳnh Phước lộc. 4 6
12 Cao Diễm My 8.5 10
13 Trần Thị Diễm Ngân 7 8.8
14 Ngô Thị Mỹ Nhung 5 7
15 Nguyễn Thị Mai Như 8 10
16 Nguyễn Vinh Pha 6 9
17 Phan Tấn Phát 3.5 6
18 Trần Nhật Phong 5 6
19 Quách Hoàng Phúc 4 7
20 Tôn Thị Kim Thoa 8.5 8
21 Nguyễn Thị Ngọc Trâm 7.5 9
22 Nguyễn Thị Ngọc Trâm 8 10
a
23 Lê Mỹ Trinh 5.8 6
24 Lê Ngọc Tuyền 4.3 7
25 Nguyễn Trường Vàng 4 6
26 Quách Hoài Phong 5 8
LỚP ĐỐI CHỨNG
STT Họ và tên
Điểm kiểm tra trước
tác động