SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC DẠY CÁC DẠNG BÀI TẬP LUYỆN
TỪ VÀ CÂU CHO HỌC SINH LỚP 3 "
Mở đầu
Nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy trong nhà trường nói chung và cho bậc tiểu
học nói riêng, hiện nay vấn đề cải cách giảng dạy là mối quan tâm chúng của toàn xã hội.
Đã có nhiều những cải cách giảng dạy mới được đưa vào giảng dạy ở trường học. Chính
sự đổi mới phương pháp giáo dục ở bậc Tiểu học sẽ góp phần quan trọng cho việc thực
hiện mục tiêu đào tạo của ngành giáo dục là đào tạo con người mới, con người lao động
tự chủ, năng động, sáng tạo, có kỷ luật, có năng suất cao trong sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước.
Xu hướng đối mới của phương pháp dạy học ở bậc tiểu học là làm sao để giáo viên
không chỉ là người truyền thụ kiến thức, mà còn là người tổ chức, định hướng cho học
sinh hoạt động, để học sinh huy động vốn hiểu biết để chiếm lĩnh tri thức mới. Làm sao
để người thầy là người chỉ đạo, học sinh hoạt động tích cực nhiều hơn. Trong phạm vi
môn Tiếng việt ở Tiểu học nhiều cơ hội về phương pháp, về nội dung kiến thức được đặt
ra từ thực tế lên lớp, đòi hỏi mỗi giáo viên phải tìm lời giải đáp nhằm phục vụ yêu cầu
giảng dạy.
Xuất phát từ mục đích đó mà trong từng môn học, tiết học, cần phải biết vận dụng,
kết hợp, đưa vào những phương pháp dạy học sao cho phù hợp, đấy là vấn đề thiết thực
hưởng ứng cuộc vận động sâu rộng trong toàn ngành về đổi mới phương pháp dạy học ở
Tiểu học.
1- Lý do chọn đề tài:
1.1/ Hiện nay để hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới đòi hỏi Bộ
giáo dục và đào tạo triển khai đổi mới toàn diện và đồng bộ giáo dục - đào tạo. Xu hướng
phát triển chương trình và đổi mới về sách giáo khoa của giáo dục phổ thông nói chung, ở
Tiểu học nói riêng theo 4 cột trụ giáo dục của thế kỷ XXI do UNESCO đề xướng: Học để
biết, học để làm, học để cùng chung sống và học để tự khẳng định mình. Chương trình
Tiểu học mới nhằm kế thừa và phát triển những thành tựu, khắc phục những tồn tại của
chương trình cũ. Đây là chương trình sẽ được áp dụng thống nhất trong cả nước để góp
Mục đích dạy luyện từ và câu cũng nhằm trang bị cho học sinh những hiểu biết về từ
vựng, ngữ pháp để thực hiện tư tưởng, tình cảm trong hình thức nói và viết.
Kết quả học tập củ học sinh phản ánh chất lượng của một nền giáo dục để học sinh
học tốt thì giáo viên phải dạy tốt. Trên cơ sở nắm vững nội dung chương trình người giáo
viên tổ chức cho học sinh tiến hành hoạt động học để chiếm những tri thức. Như vậy, mỗi
giáo viên phải tự biến quá trình dạy học của giáo viên thành quá trình tự học của học
sinh, biết dạy học sinh cách học và tự học. Điều đó đòi hỏi mỗi giáo viên phải có một
trình độ sư phạm lành nghề, luôn luôn tìm tòi, sáng tạo, có phát kiến mới trong dạy học,
nắm vững nội dung kiến thức lớp mình, trang bị cho mình một kiến thức và phương pháp
dạy học nhằm phát huy tính năng động và chủ động của học sinh, tạo cho học sinh khả
năng làm việc độc lập và tự giải quyết các tình huống nảy sinh trong cuộc sống.
1.3/ Để thực hiện được kết quả dạy học như mong muốn, phù hợp với xu thế hiện
đại của thế giới thì chương trình Tiếng việt năm 2000 đã đổi mới. Theo quan niệm mới
thì chương trình tiểu học là sự cụ thể hoá mục tiêu giáo dục tiểu học bằng một kế hoạch
hoạt động sư phạm. Mục tiêu cuối cùng của chương trình Tiểu học năm 2000 nhằm đem
lại.
- Chất lượng mới cho phổ cập tiểu học trong đó tập trung vào:
+ Các kỹ năng cơ bản về đọc, viết, tính toán và các cơ sở ban đầu
+ Trình độ học tập toàn diện, thiết thực ở Tiểu học.
+ Các năng lực chủ chốt để bước đầu thích ứng với cuộc sống.
- Phương pháp học tập dựa trên các hoạt động tích cực chủ động, sáng tạo của học
sinh nhằm: Thay đổi cơ bản về cách dạy thụ động hiện nay; nâng cao hiệu quả đào tạo
con người, đặc biệt về phương pháp suy nghĩ, làm việc khoa học đổi mới và sáng tạo.
- Góp phần bước đầu hình thành và phát triển hệ thống giá trị con người Việt Nam
xã hội chủ nghĩa phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập
quốc tế.
Dạy Tiếng việt trong đó có luyện từ và câu thông qua hoạt động giao tiếp nhằm đạt
được mục tiêu đề ra là một trong những nguyên tắc chỉ đạo của việc xây dựng chương
trình mới vì vậy để khắc phục những hạn chế của chương trình cũ và đáp ứng những yêu
cầu của xã hội Bộ GD&ĐT đã chủ trương soạn thảo và đưa vào nhà trường bộ sách giáo
việt có vị trí ngang hàng với các ngôn ngữ phát triển khác trên thế giới, vì thế vị trí, vai
trò của Tiếng việt ngày càng được khẳng định và đề cao. Tiếng việt là ngôn ngữ, là
phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của xã hội. Đồng thời thể hiện chất liệu nghệ thuật
người viết, là công cụ nhận thức, tư duy của con người, là phương tiện tổ chức và phát
triển của xã hội. Do vậy Tiếng việt được đưa vào dạy học trong tất cả các cấp học với
lượng kiến thức và thời gian nhiều. Đây là môn học quan trọng trong quá trình giúp học
sinh có thể sử dụng Tiếng việt như một phương tiện sắc bén để giao tiếp.
- Môn Tiếng việt là một trong những bộ môn trong nhà trường nên phải được thực
hiện theo nguyên tắc giáo dục học. Nguyên tắc dạy vàv học Tiếng việt phải cụ thể hoá
mục tiêu và nguyên tắc dạy học nói chung vào bộ môn cuả mình. Ngoài ra, việc dạy từ
loại trong phân môn luyện từ và câu cho học sinh cần dựa trên cơ sở quy luật chi phối
quá trình dạy học Tiếng việt. Bởi vì, môn Tiếng việt có những quy luật riêng được khái
quát từ thực tiễn dạy học bộ môn này. Trên cơ sở những quy luật nguyên tắc để đề ra một
phương pháp dạy học cũng như cách tổ chức quá trình dạy và Tiếng việt xác định nội
dung dạy học cụ thể hơn, khoa học hơn.
- Sự phát triển tâm lý ở từng lứa tuổi, từng giai đoạn có liên quan đến việc tiếp
nhận tiếng mẹ đẻ. Phương pháp dạy học Tiếng việt đã vận dụng quy luật tiếp thu tri thức,
hình thành kỹ năng, kỹ xảo của học sinh Tiểu học vào bộ môn của mình. Ở giai đoạn đầu
của bậc tiểu học, tri giác của trẻ mang tính đại thể, ít đi sâu vào chi tiết mang tính không
chủ định, phân biệt đối tượng chưa chính xác. Vì vậy trong dạy học giáo viên cần sử
dụng đồ dùng trực quan, tài liệu học sinh động, tổ chức nhiều hình thức dạy học phong
phú, hấp hẫn.
1.1/ Mục tiêu môn Tiếng việt chương trình 2000:
Giáo dục trong nhà trường tiểu học hiện nay nhấn mạnh mục đích đào tạo con
người phát triển toàn diện: Có đức, có tài, có khả năng thích ứng với cuộc sống. Mục tiêu
của môn Tiếng việt ở nhà trường tiểu học nói chung là:
a/ Hình thành và phát triển các kỹ năng nghe - nói - đọc - viết cho học sinh nhằm
giúp các em sử dụng Tiếng việt có hiệu quả trong học tập và giao tiếp ở gia đình, nhà
trường và xã hội.
b/ Góp phần cùng với môn học khác phát triển năng lực tư duy cho học sinh.
1.2/ Nguyên tắc xây dựng chương trình:
Bộ môn Tiếng việt tong nhà trường tiểu học là sự kết hợp của 6 phân môn từng
phân môn đều tuân theo nguyên tắc dạy học nói chung… Song việc chỉ đạo xây dựng
chương trình Tiếng việt 2000 tuân theo 3 nguyên tắc chủ yếu là: Nguyên tắc dạy học
Tiếng việt thông qua hoạt động giao tiếp; Nguyên tắc tận dụng những kinh nghiệm sử
dụng Tiếng việt của học sinh; Nguyên tắc tích hợp.
Dạy Tiếng việt phải qua hoạt động giao tiếp thì nói, nghe, đọc, viết là 4 kỹ năng
giao tiếp chỉ được hình thành và phát triển thông qua giao tiếp mà không thể qua con
đường nào khác. Việc lựa chọn nội dung chương trình đã coi trọng quan điểm “dung hoà”
tức là đưa vào chương trình sách giáo khoa những văn bản có sẵn để rèn kỹ năng tiếp
nhận và sản sinh văn bản, đồng thời vẫn có một tỷ lệ cần thiết những bài dạy gắn với
những tình huống giao tiếp tự nhiên mà vẫn là điển hình và giàu tính sư phạm. Dựa trên
mối quan hệ qua lại giữa 2 quá trình lĩnh hội và sản sinh văn bản trong giao tiếp, chương
trình sắp xếp nội dung học đọc, học viết song song với nội dung học nghe, học nói ở tất
cả các lớp. Nội dung học đọc, học viết chiếm tỷ lệ cao hơn sơ với nội dung học nghe, học
nói ở các lớp 1, 2, 3 nội dung học nghe chiếm tỷ lệ cao hơn so với nội dung học nghe,
nói ở lớp 4, 5. Sự sắp xếp đó có dụng ý: Dùng hình thức giao tiếp bằng lời (nghe nói)
làm cơ sở để học cách giao tiếp bằng chữ (đọc, viết) sau đó dùng hình thức giao tiếp bằng
chữ làm cơ sở để hoàn thiện hình thức giao tiếp bằng lời
Những học sinh coi Tiếng việt là tiếng mẹ đẻ bước vào lớp 1 đã có trong hành trang
một số vốn từ, một số kiểu câu, quy tắc giao tiếp và các em đã biết sử dụng chúng trong
giao tiếp ở mức tự giác còn thấp, giáo viên dạy Tiếng việt trong nhà trường Tiểu học
không thể quen đặc điểm này để khai thác cái vốn mà trẻ đã có.
Môn Tiếng việt đặc biết chú trọng dạy Tiếng việt tích hợp với dạy văn hoá các bài
học dùng ngữ điệu là các tác phảam hay đoạn trích tác phẩm văn học có giá trị nội dung
nghệ thuật cao. Nhờ đó trẻ em bước đầu được tiếp xúc với ngôn ngữ văn học, rung cảm
trước vẻ đẹp của nó, nắm được một số đặc điểm chính của nó. Để vận dụng trong việc
tiếp nhận các tác phẩm văn học phù hợp với lứa tuổi và trong việc sáng taọ lời nói. Nhờ
dạy Tiếng việt tích hợp với dạy học sinh còn được bước đầu làm quen với một số khái
niệm (Tác phẩm, tác giả, nhân vật, thể loại…) có một số kỹ năng cơ bản, kể chuyện, tóm
sách giáo viên hướng dẫn, các phương pháp dạy Tiếng việt, đặc biệt là dạy luyện từ
và câu chương trình 2000 mang tính ưu việt hơn, điểm nổi bật nhất là phát huy tính
tích cực, chủ động và gây hứng thú học tập cho học sinh, góp phần đào tạo thế hệ
mới năng động, sáng tạo, tích ứng với sự phát triển của xã hội.
1.4/ Phân bố chương trình sách giáo khoa:
Tuân theo những mục tiêu và nguyên tắc đã trình bày trên đây nội dung chương
trình Tiếng việt ở Tiểu học bao gồm những bộ phận sau:
- Kỹ năng sử dụng Tiếng việt (nghe, đọc, nói, viết)
- Tri thức Tiếng việt (Một số hiểu biết, tối thiểu về hữu ích, về ngữ âm, chính tả,
ngữ nghĩa, ngữ pháp…)
- Tri thức về văn học, về xã hội và tự nhiên (một số hiểu biết tối thiểu về sáng tác
văn học, các tiếp cận chúng về con người và đời sống tinh thần, vật chất của học sinh, về
đất nước và dân tộc Việt Nam).
Nội dung này được sắp xếp theo 2 giai đoạn phát triển:
a/ Giai đoạn 1 (các lớp 1, 2, 3).
Nội dung có nhiệm vụ hình thành những cơ sở ban đầu cho việc học đọc, học viết,
định hướng, việc học nghe, học nói trên cơ sở vốn Tiếng việt mà trẻ em đã có. Những bài
học ở giai đoạn này chủ yếu là những bài thực hành: Đọc, viết, nghe, nói. Tri thức Tiếng
việt không được dạy thành bài riêng mà được rút ra từ bài thực hành, được thấm vào học
sinh một cách tự nhiên qua hoạt động thực hành. Phần “tri thức” có trong nội dung
chương trình của lớp 1, 2, 3 chỉ có ý nghĩa xác định những tri thức cần học sinh làm
quen.
b/ Giai đoạn 2 (các lớp 4, 5)
Nội dung chương trình nhằm phát triển các kỹ năng đọc, viết, nghe, nói lên một
mức độ cao hơn, trong đó có yêu cầu: Viết hoàn chỉnh một số văn bản và đọc hiểu được
đặc biệt coi trọng. Học sinh ở giai đoạn này đã bước đầu được cung cấp những khái niệm
cơ bản về một số đơn vị ngôn ngữ và quy tắc sử dụng Tiếng việt, làm nền móng vững
chắc cho sự phát triển kỹ năng. Bên cạnh những bài học thực hành các em còn học về
những bài tri thức Tiếng việt (từ vựng, ngữ pháp, văn bản, phong cách…) những bài học
này cũng không phải là lý thuyết đơn thuần trực tiếp nhận hoàn toàn bằng con đường tư
của giáo dục Tiểu học - Bậc học nền tảng, chưa có sự đầu tư thoả đáng cho bậc học.
Ngày nay người giáo viên tiểu học đã và đang thể hiện rõ hết trọng trách của mình trong
giai đoạn phát triển mới của xã hội người giáo viên sẽ tìm những điều cần dạy trong sách
giáo khoa nhưng phải biết chọn dạy cái gì? Dạy như thế nào? chò phù hợp với từng đối
tượng học sinh.
Đối với học sinh trong nhà trường, học sinh không chỉ là đối tượng được giáo dục
mà chủ yếu là chủ thể nhận thức, rèn luyện kỹ năng và thông qua đó hình thành nhân
cách con người mới. Vì vậy hoạt động giảng dạy của giáo viên đều hướng vào học sinh
làm sao cho học sinh có hứng thú với bài học thông qua đó rút ra được kiến thức. Tuy
nhiên học sinh Tiểu học ngại học môn từ ngữ, ngữ pháp vì đây là môn học khó, trừu
tượng. Nếu giáo viên tổ chức không linh hoạt các hình thức dạy học thì học sinh thụ
động tiếp thu kiến thức và không hứng thú học bộ môn này. Dựa trên cơ sở lý luận
thực tiễn trên đây chúng tôi đi sâu việc tìm hiểu dạy về từ loại qua phân môn luyện từ
và câu ở lớp 4 chương trình 2000 để thấy rõ những đổi mới của một phân môn trong
hệ thống Tiếng việt bậc Tiểu học.
CHƯƠNG II
CÁC KIỂU BÀI CUNG CẤP LÝ THUYẾT VỀ TỪ LOẠI QUA PHÂN MÔN
LUYỆN TỪ VÀ CÂU Ở LỚP 3 CHƯƠNG TRÌNH 2000
2.1/ Mục đích yêu cầu của kiểu bài cung cấp lý thuyết về từ loại qua phân môn
luyện từ và câu ở lớp 3 chương trình 2000:
- Cung cấp cho học sinh một số hiểu biết sơ giảng về từ loại.
- Rèn luyện cho học sinh kỹ năng dùng từ loại để đặt câu
- Bồi dưỡng cho học sinh thói quen sử dụng từ loại: Danh, Động, Tính. Có ý thức
thức dụng Tiếng việt văn hoá trong giao tiếp và thích hợp Tiếng việt.
2.2/ Thống kê nội dung các chủ điểm được dạy của kiều bài cung cấp lý thuyết
dùng từ laọi cho học sinh lớp 3 thông qua phân môn luyện từ và câu.
Nội dung dạy Tiếng việt lớp 3 tập trung vào việc hình thành cơ sở ban đầu cho việc
học đọc, học viết. Các kiến thức Tiếng việt rút ra từ bài thực hành đọc, viết, nghe, nói mà
không được dạy phần bài riêng. Học sinh chưa phải ghi nhớ những định hướng khái quát
về các đơn vị của Tiếng việt hay các quy tắc sử dụng Tiếng việt song phải biết cách gọi
Cung cấp một số kiến thức sơ giản về các từ loại cơ bản của Tiếng việt: Danh từ (tuần
5, 6 , 7 và 8 - 5 tiết: Gồm cả cách viết danh từ riêng). Động từ (Tuần 9 và 11 - 2 tiết), tính từ
(tuần 11 và 12 - 2 tiết) ; thông qua các bài tập.
- Nhận diện từ theo từ loại
- Luyện viết danh từ riêng
- Tìm và phân loại từ theo từ loại
- Luyện sử dụng từ
d/ Câu: 26 tiết
Cung cấp các kiến thức sơ giản về cấu tạo, công dụng và cách sử dụng các kiểu câu:
Câu hỏi (tuần 13, 14 và 15 - 4 tiết), câu kế (tuần 16, 17, 1+, 20, 21, 22, 24, 25 và 26 - 12
tiết, bao gồm các kiểu câu: Ai làm gì, Ai thế nào, Ai là gì) Câu khiến (Tuần 27, 29 - 3 tiết),
Câu cảm (tuần 30 - 1 tiết), Thêm trạng ngữ cho câu (Tuần 31, 32, 33, 34 - 6 tiết); thông qua
các bài tập.
- Nhận diện các kiểu câu
- Phân tích cấu tạo câu
- Đặt câu theo mẫu nhằm thực hiện các mục đích cho trước
- Lựa chọn câu để đảm bảo lịch sử trong giao tiếp
- Luyện sử dụng câu trong các tình huống khác nhau
- Luyện mở rộng câu.
e/ Dấu câu: 3 tiết
Cung cấp kiến thức về công dụng và luyện tập sử dụng các dấu câu: Dấu hai chấm
(tuần 2 - 1 tiết) Dấu ngoặc kép (tuần 8 - 1 tiết). Dấu chấm hỏi (tuần 13 - học cùng câu
hỏi), Dấu gạch ngang (tuần 23 - 1 tiết); thông qua các bài tập:
Tìm công dụng của dấu câu.
- Luyện sử dụng dấu câu
+ Đặc dấu câu vào chỗ thích hợp
+ Tập viết câu, đoạn có sử dụng dấu câu.
2/ Biện pháp dạy học chủ yếu:
a/ Cung cấp kiến thức mới:
Giáo viên tổ chức cho học sinh làm các bài tập ở phần Nhận xét theo các hình thức:
+ Học sinh phát hiện kiến thức mới
+ Học sinh nhận diện kiến thức mới
+ Học sinh kiểm nghiệm kiến thức mới
+ Nắm vững bản chất kiến thức
+ Vận dụng luyện tập thực hành.
3.2/ Quá trình dạy các kiểu bài cung cấp lý thuyết về từ loại cho học sinh lớp 4
qua phân môn luyện từ và câu:
Các bước lên lớp của một tiết dạy luyện từ và câu giữ một vị trí quan trọng, với nội
dung kiến thức mỗi bài khác nhau, song lại tương đương nhau và “đồng dạng” nên có
quy trình chung là :
3.2.1 Kiểm tra bài cũ:
Giáo viên yêu cầu học sinh giải được các bài tập ở nhà hoặc nêu ngắn gọn những điều
đã học ở tiết trước, cho ví dụ minh hoạ.
3.2.2/ Dạy bài mới:
Giới thiệu bài: Có thể giới thiệu gián tiếp (như liên hệ với bài cũ)
Giới thiệu trực tiếp.
Hướng dẫn học sinh luyện tập: Giáo viên tổ chức cho học sinh thực hiện từng bài tập
trong sách giáo khoa theo một trình tự chung là:
+ Đọc và xác định yêu cầu của bài tập
+ Học sinh giải một phần bài tập làm mẫu
+ Học sinh làm bài tập theo hướng dẫn của giáo viên.
+ Tổ chức trao đổi, nhận xét về kết quả, rút ra những điểm ghi nhớ vào kiến thức.
3.2.3/ Củng cố, dặn dò:
Giáo viên chốt lại những kiến thức, kỹ năng cần nắm vững ở bài luyện tập, nêu yêu
cầu thực hành, luyện tập ở nhà.
3.3/ Phương pháp và hình thức tổ chức dạy kiểu bài cung cấp lý thuyết về từ loại
cho học sinh lớp 3 qua phân môn luyện từ và câu chương trình 2000:
Theo định hướng dạy Tiếng việt thông qua các hoạt động giao tiếp chương trình 2000.
Đặc biệt coi trọng phương pháp giáo viên tổ chức cho cá nhân học nhóm, trong giờ với
những tài liệu học tập phong phú, đa dạng và hấp dẫn học sinh để phát huy tính tích cực chủ
lên lớp phân môn luyện từ và câu lớp 3:
3.4.1/ Thuận lợi:
Quy trình lên lớp tiết luyện từ và câu lớp 3 được xây dựng trên cơ sở các bước lên lớp
chính của 1 tiết học. Trong bước “Dạy bài mới” phần hướng dẫn cho học sinh luyện tập là
trọng tâm, nhìn chung kiến thức các bài đáp ứng được mục tiêu của chương trình. Nội dung
kiến thức vừa phải mở rộng, đa dạng, phong phú, hệ thống hệ thống bài tập đòi hỏi cách
thức tổ chức cho học sinh lĩnh hội tri thức của giáo viên. Giáo viên tổ chức hoạt động sinh
động, linh hoạt hấp dẫn hơn phần nội dung kiến thức không chỉ giới thiệu những kiến thức
mới mà còn củng cố ôn luyện những kiến thức đã học tập trung vào các kiến thức kỹ năng
cơ bản thiết thực tích hợp được nhiều mặt giáo dục.
Trong chương trình Tiếng việt khi triển khai thực hiện giáo viên chủ động lựa chọn
các nội dung và phương pháp thích hợp với từng đối tượng học sinh để tổ chức, hướng dãn
học sinh tự học, tự phát triển và chiếm lĩnh tri thức mới. Hình thức tổ chức dạy học thường
linh hoạt phối hợp giữa dạy học trong và ngoài lớp ở nhà trường và ở hiện trường. Phương
pháp hiện nay đã thay đổi về căn bản cách dạy, cách học thụ động trước kia, giáo viên có thể
sử dụng phiếu bài tập trong quá trình giảng dạy vì phiếu bài tập là cá thể hoá của việc học,
thúc đẩy học sinh hoạt động trí tuệ thực sự, là một phương tiện dạy học theo hướng thực
hành giao tiếp ngôn ngữ. Ngoài ra giáo viên có thể đưa ra các bài tập theo hình thức trắc
nghiệm để đánh giá kết quả bài làm của học sinh chính xác hơn. Trong phần hướng dẫn học
sinh luyện tập hệ thống bài tập trong sách giáo khoa giúp học tự học sinh được nhiều hơn,
các em được tham gia các hoạt động hướng tới sự phát triển về năng lực.
3.4.2/ Khó khăn:
Việc thay đổi nội dung sách giáo khoa, phương pháp và các hình thức tổ chức dạy học
tạo ra một bước chuyển khó khăn đối với giáo viên nhất là những giáo viên đã có thời gian
công tác lâu năm trong bước hướng dẫn học sinh luyện tập nếu giáo viên không cụ thể hoá
bài tập, hướng dẫn, giải thích cho học sinh hiểu mục đích của bài tập thì dẫn đến thiếu thời
gian vì có những bài tập lệnh đưa ra cần cụ thể hơn, có lệnh bài tập mang tính trừu tượng
khó hiểu.
Ở phần từ ngữ cần đưa thêm một số dạng bài tập cho học sinh.
Sách giáo khoa cũng có một số hạn chế trong từng bước lên lớp như chưa chỉ ra mục
+ Em đã biết:
* Danh từ chung: Vua, một, cành /
sồi / vàng
* Danh từ riêng: Mi - đát