Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp dạy học có hiệu quả các dạng bài tập Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4 - Pdf 26

Sáng kiến kinh nghiệm : Một số biện pháp dạy học có hiệu quả các dạng bài
tập Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4
PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI :
Tiếng Việt là môn học có vai trò đặc biệt quan trọng ở bậc Tiểu học, là
phương tiện chủ yếu để học sinh tiếp thu kiến thức của các môn học khác. Môn
Tiếng Việt ở Tiểu học có nhiệm vụ hình thành năng lực ngôn ngữ cho học sinh, thể
hiện ở bốn kỹ năng: Nghe, nói, đọc, viết.
Môn Tiếng Việt là một công cụ hữu hiệu trong hoạt động và giao tiếp của học
sinh, giúp học sinh tự tin và chủ động hoà nhập các hoạt động học tập trong trường
học, giúp học sinh hình thành và rèn luyện các kỹ năng cơ bản ở Tiểu học, nó chi
phối kết quả học tập của các môn học khác. Đồng thời các môn học ở Tiểu học có
tác dụng hỗ trợ cho nhau nhằm giáo dục con người một cách toàn diện nhất.
Môn Tiếng Việt trong chương trình Tiểu học nhằm hình thành và phát triển các
kỹ năng sử dụng tiếng Việt để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động
của từng lứa tuổi. Trong bộ môn Tiếng Việt, phân môn Luyện từ và câu có nhiệm
vụ cung cấp kiến thức về từ và câu, làm giàu vốn từ cho học sinh và phát triển
năng lực dùng từ, đặt câu của các em. Cụ thể là:
1. Mở rộng hệ thống hoá vốn từ trang bị cho học sinh một số hiểu biết về từ
và câu.
2. Rèn luyện cho học sinh các kỹ năng dùng từ đặt câu, sử dụng dấu câu,
một số phép nối, cách thay thế và liên kết câu.
3. Bồi dưỡng cho học sinh thói quen dùng từ đúng, nói và viết thành câu, có
ý thức sử dụng tiếng Việt trong học tập và trong giao tiếp.
Trường Tiểu học Ba Vì là một trường vùng cao của Huyện Ba Tơ, học sinh là
người đồng bào dân tộc ( Hre) chiếm tỉ lệ 70 %. Môn tiếng Việt là ngôn ngữ thứ
hai của các em. Việc sử dụng vốn từ trong học tập và giao tiếp của các em còn
nhiều hạn chế.
Với kinh nghiệm của bản thân tôi, có 6 năm liền dạy lớp 4. Nhận thức rõ được
Giáo viên : Trần Thị Thu Thao Trường Tiểu học Ba Vì
1

1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN :
Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự
phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất và thẩm mĩ và các kĩ
năng cơ bản, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ
nghĩa, bước đầu xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh
tiếp tục học trung học cơ sở (theo Luật giáo dục).
Vị trí của phân môn Luyện từ và câu: Từ và câu có vai trò đặc biệt quan
trọng trong hệ thống ngôn ngữ. Từ là đơn vị trung tâm của ngôn ngữ. Câu là đơn vị
nhỏ nhất có thể thực hiện chức năng giao tiếp. Vai trò của từ và câu trong hệ thống
ngôn ngữ quyết định tầm quan trọng của việc dạy Luyện từ và câu ở Tiểu học.
Việc dạy Luyện từ và câu nhằm mở rộng, hệ thống hóa làm phong phú vốn từ của
học sinh, cung cấp cho học sinh những hiểu biết sơ giản về từ và câu, rèn cho học
sinh kĩ năng dùng từ đặt câu và sử dụng các kiểu câu để thể hiện tư tưởng, tình
cảm của mình, đồng thời giúp học sinh có khả năng hiểu câu nói của người khác.
Luyện từ và câu có vai trò hướng dẫn học sinh trong việc nghe, nói, đọc, viết, phát
triển ngôn ngữ và trí tuệ của các em. Ngoài ra còn rèn luyện tư duy và giáo dục
thẩm mĩ cho học sinh.
Thực hiện chiến lược nâng cao chất lượng giáo dục và hiệu quả đào tạo
chúng ta phải tập trung vào nguyên lí: “Học đi đôi với hành, giáo dục gắn liền với
thực tiễn”. Đây là nguyên lí thể hiện khá rõ nét trong tư tưởng Hồ Chí Minh đối
với giáo dục. Tuy nhiên trong học tập, học sinh cũng phải khám phá ra nhiều hiểu
biết mới, sẽ ghi nhớ những gì đã lĩnh hội được thông qua hoạt động nỗ lực của
chính mình. Trí tuệ của các em được phát triển nhờ sự đối thoại giữa chủ thể với
Giáo viên : Trần Thị Thu Thao Trường Tiểu học Ba Vì
3
Sáng kiến kinh nghiệm : Một số biện pháp dạy học có hiệu quả các dạng bài
tập Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4
đối tượng và môi trường. Vì ở tuổi của các em: Nghe thì quên, nhìn thì nhớ, làm
thì hiểu. Vừa chơi vừa học các em lại thấy thoải mái hơn, mà có hiệu quả hơn.


Chủ điểm 4: Có chí thì nên. Ý chí - Nghị lực
Chủ điểm 5: Tiếng sáo diều. Đồ chơi - Trò chơi.
* Học kỳ II: 5 chủ điểm
Chủ điểm 1: Người ta là hoa là đất. Tài năng - Sức khoẻ
Chủ điểm 2: Vẻ đẹp muôn màu - Cái đẹp
Chủ điểm 3: Những người quả cảm - Dũng cảm
Chủ điểm 4: Khám phá thế giới.Du lịch - Thám hiểm
Chủ điểm 5: Tình yêu cuộc sống - Lạc quan yêu đời
1.1.2 Yêu cầu kiến thức :
1.1.2.1 Mở rộng và hệ thống hoá vốn từ:
Môn Tiếng Việt có 10 đơn vị học thì môn Luyện từ câu mở rộng và hệ thống
hoá 10 chủ điểm đó.
Ngoài các từ ngữ được dạy qua các bài tập đọc, chính tả, tập viết, … học
sinh được cung cấp vốn từ một cách có hệ thống trong các bài từ ngữ theo chủ đề.
Lớp 4, học sinh học thêm khoảng 550 từ ngữ (kể cả thành ngữ, tục ngữ và một số
yếu tố gốc Hán thông dụng) theo các chủ đề.
1.1.2.2 Các mạch kiến thức và kĩ năng về từ và câu lớp 4 :
* Từ :
- Cấu tạo từ :
+ Từ đơn
+ Từ phức, từ ghép, từ láy.
- Từ loại :
+ Danh từ, danh từ chung, danh từ riêng.
+ Động từ.
+ Tính từ.
Giáo viên : Trần Thị Thu Thao Trường Tiểu học Ba Vì
5
Sáng kiến kinh nghiệm : Một số biện pháp dạy học có hiệu quả các dạng bài
tập Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4
* Các kiểu câu :

ít, nên khó khăn khi đọc và hiểu để làm tốt các bài tập luyện từ và câu của chương
trình lớp 4.
Với nhiều lý do cả về chủ quan lẫn khách quan nên việc tiếp thu và vận dụng
của học sinh về vấn đề dùng từ, đặt câu, hiểu nghĩa của từ, trong phân môn Luyện
từ và câu, học sinh còn gặp nhiều khó khăn. Qua khảo sát thực tế đối với 95 em
học sinh khối lớp 4 trường Tiểu học Ba Vì (thời điểm tháng 9/2012 ) năm học
2012-2013, trước khi áp dụng sáng kiến tôi đã thu được kết quả cụ thể như sau:
Tổng số học sinh khảo sát : 95 em
Tổng số
học sinh
Giỏi Khá Trung bình Yếu
95 SL TL % SL TL % SL TL % SL TL %
15 15,8 19 20 33 34,7 28 29,5
1.3 NGUYÊN NHÂN :
1.3.1 Đối với giáo viên :
- Phân môn “Luyện từ và câu” tạo cho học sinh môi trường giao tiếp để học
sinh mở rộng vốn từ có định hướng, trang bị cho học sinh các kiến thức cơ bản về
tiếng Việt gắn với các tình huống giao tiếp thường gặp. Từ đó nâng cao các kỹ
năng sử dụng tiếng Việt của học sinh.
- Việc áp dụng các phương pháp dạy học chưa phù hợp với đối tượng học sinh,
còn lệ thuộc vào đáp án, gợi ý, dẫn đến sự tẻ nhạt, khô khan, ít lôi cuốn học sinh.
- Khi dạy giáo viên còn lệ thuộc máy móc vào sách giáo khoa, hầu như ít sáng
tạo, chưa phát huy được tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh và việc
mở rộng vốn từ, phát triển vốn từ cho học sinh, giúp học sinh làm giàu vốn hiểu
biết phong phú về Tiếng Việt.
1.3.2 Đối với học sinh :
70% số học sinh là người dân tộc thiểu số ( Dân tộc Hre) chỉ có ngôn ngữ nói,
Giáo viên : Trần Thị Thu Thao Trường Tiểu học Ba Vì
7
Sáng kiến kinh nghiệm : Một số biện pháp dạy học có hiệu quả các dạng bài

Phần Luyện tập là trọng tâm của giờ dạy. Phần này giúp HS củng cố và vận
dụng những kiến thức lí thuyết đã học vào những bài tập cụ thể.
2.1.1 Đối với dạng bài thuyết có hai dạng bài tập như sau:
2.1.1.1 Bài tập nhận diện:
Dạng bài tập này giúp học sinh nhận ra hiện tượng về từ và câu cần nghiên
cứu ở mức yêu cầu thấp, những hiện tượng này được nêu sẵn trong các ngữ liệu
khác.
*Ví dụ : Tìm các danh từ chung và danh từ riêng trong đoạn văn sau :
“ Chúng tôi / đứng / trên / núi / Chung /. Nhìn / sang / trái / là / dòng / sông /
Lam / uốn khúc / theo / dãy / núi/ Thiên Nhẫn / ”
(Tiếng Việt 4 – tập 1 – trang 58)
Mức yêu cầu cao hơn, học sinh phải tự tìm các hiện tượng về từ vừa học
trong vốn tiếng Việt của mình (không tìm trong đoạn văn).
*Ví dụ : “Tìm các từ chỉ trạng thái của các sự vật : dòng thác, lá cờ”.
Đây cũng chính là kiểu bài tập hệ thống hóa vốn từ trong các bài tập làm giàu
vốn từ.
Dựa vào các nội dung lí thuyết về từ, có thể chia các bài tập nhận diện thành
các bài tập về cấu tạo từ, bài tập về từ loại.
Giáo viên : Trần Thị Thu Thao Trường Tiểu học Ba Vì
9
Sáng kiến kinh nghiệm : Một số biện pháp dạy học có hiệu quả các dạng bài
tập Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4 2.1.1.2 Bài tập vận dụng :
Dạng bài tập này tạo điều kiện cho học sinh sử dụng những đơn vị từ ngữ,
ngữ pháp đã học vào hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ nói của mình.
*Ví dụ 1 : “Hãy viết một câu có dùng tính từ nói về một người bạn hoặc
người thân của em. (Tiếng Việt 4 – tập 1 – trang 112).
Để chuẩn bị dạy một kiến thức lí thuyết về từ và câu, chúng ta đặt khái niệm

- Phân loại theo phạm vi sử dụng - ta được từ địa phương, từ toàn dân
Đặt trong hệ thống, bài Từ ghép và từ láy là bài lí thuyết về từ thứ hai của
chương trình Tiếng Việt mới sau bài Từ đơn và từ phức. Từ đơn, từ phức, từ ghép,
từ láy là kết quả của một cách phân loại từ - phân loại theo cấu tạo. Sách giáo khoa
quan niệm “Tiếng cấu tạo nên từ. Từ gồm một tiếng gọi là từ đơn. Từ gồm hai
hay nhiều tiếng gọi là từ phức”. Từ phức được phân loại thành hai kiểu : Từ ghép
và từ láy.
Để phân loại các kiểu từ phức, sách giáo khoa nhấn mạnh vào cách thức cấu
tạo chứ không miêu tả kết quả phân loại:
Có hai cách chính để tạo từ phức là :
1/ Ghép những tiếng có nghĩa lại với nhau. Đó là các từ ghép.
M : tình thương, thương mến
2/ Phối hợp những tiếng có âm đầu hay vần (hoặc cả âm đầu và vần) giống
nhau. Đó là các từ láy.
M : săn sóc, khéo léo, luôn luôn”.
(Tiếng Việt 4 - Tập 1 - trang 39)
Cách trình bày như trên mang tính hành dụng, phù hợp hơn với yêu cầu rèn
luyện kĩ năng sử dụng tiếng Việt cho học sinh, bởi nó đã chỉ dẫn cách thức tạo từ
để từ những tiếng (hình vị) cho sẵn, học sinh dễ dàng tạo ra những từ ghép, từ láy.
Bước đầu tiên của giờ học là bước Nhận xét, thực chất là phân tích ngữ liệu
với mục đích làm rõ những dấu hiệu của khái niệm từ ghép, từ láy. Tuỳ vào các
nét dấu hiệu được đưa ra, giáo viên cần chọn thao tác phân tích cho phù hợp. Để
giúp học sinh nhận diện được từ ghép và từ láy, giáo viên yêu cầu các em xác định
mỗi tiếng trong từ có nghĩa hay không có nghĩa. Nếu cả hai tiếng đều có nghĩa thì
đó là từ ghép. Nếu có ít nhất một tiếng không có nghĩa và các tiếng trong từ có sự
Giáo viên : Trần Thị Thu Thao Trường Tiểu học Ba Vì
11
Sáng kiến kinh nghiệm : Một số biện pháp dạy học có hiệu quả các dạng bài
tập Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4
phối âm (chúng giống nhau hoặc là phụ âm đầu, hoặc là vần, hoặc là cả phụ âm

Sáng kiến kinh nghiệm : Một số biện pháp dạy học có hiệu quả các dạng bài
tập Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4
Để tăng vốn từ cho học sinh cần phải cung cấp những từ mới, do đó công việc
đầu tiên của dạy từ là làm cho học sinh hiểu nghĩa từ. Việc dạy nghĩa từ được tiến
hành trong tất cả các giờ học, tiết học, bất cứ ở đâu có cung cấp từ ngữ, thuật ngữ,
khái niệm thì ở đó có dạy nghĩa từ.
*Ví dụ : Các bài tập đọc thường có mục ghi chú, giải nghĩa các từ ngữ cho
học sinh. Các bài tập dạy nghĩa cũng nhằm mục đích này. Bài tập giải nghĩa từ
xuất hiện trong phân môn Luyện từ và câu không nhiều, nhưng việc giải nghĩa từ
lại thường xuyên phải thực hiện không chỉ trong giờ Luyện từ và câu mà trong rất
nhiều giờ học của môn học Tiếng Việt và các môn học khác.
Để dạy nghĩa từ, trước hết giáo viên phải hiểu nghĩa từ và biết giải nghĩa phù
hợp v ới mục đích dạy học, phù hợp với đối tượng học sinh.
Ở Tiểu học, ta thường nêu một số biện pháp giải nghĩa như sau:
2.2.2.1 Giải nghĩa bằng trực quan :
Giải nghĩa bằng trực quan là biện pháp đưa ra các vật thật, tranh ảnh, sơ đồ
để giải nghĩa từ. Lúc này, vật thật, tranh vẽ, biểu bảng, sơ đồ được dùng để đại
diện cho nghĩa của từ.
*Ví dụ : Khi học bài “Sầu riêng” cô giáo cho sinh xem tranh (hoặc ảnh
chụp) cây, trái sầu riêng. ( Tiếng Việt 4- Tập 2- trang 34)
2.2.2.2 Giải nghĩa các từ bằng các từ đồng nghĩa, trái nghĩa.
*Ví dụ 1: “Siêng năng là chăm chỉ”; “Ngăn nắp là không lộn xộn”.
Tương ứng với cách giải nghĩa này, sách giáo khoa có các bài tập yêu cầu
giải nghĩa bằng đồng nghĩa hoặc trái nghĩa.
*Ví dụ 2: Tìm từ cùng nghĩa với từ dũng cảm trong các từ dưới đây :
Gan dạ, thân thiết, hoà thuận, anh dũng, thông minh, bạo gan, quả cảm,
(Tiếng Việt 4 – tập 2 – trang 73)
*Ví dụ 3 : Tìm những từ cùng nghĩa và những từ trái nghĩa với từ dũng cảm.
M : - Từ cùng nghĩa : can đảm - Từ trái nghĩa : hèn nhát
(Tiếng Việt 4 – tập 2 – trang 83)

một yêu cầu khó đối với học sinh tiểu học. Vì vậy, các dạng bài tập giải nghĩa bằng
Giáo viên : Trần Thị Thu Thao Trường Tiểu học Ba Vì
14
Sáng kiến kinh nghiệm : Một số biện pháp dạy học có hiệu quả các dạng bài
tập Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4
định nghĩa trong sách giáo khoa thường xây dựng dưới dạng cho sẵn từ và nghĩa
của từ, các định nghĩa về từ, yêu cầu học sinh xác lập sự tương ứng.
Loại bài tập giải nghĩa bằng định nghĩa có 3 dạng :
*Dạng 1: Cho sẵn từ, yêu cầu tìm trong các nghĩa đã cho nghĩa phù hợp với từ.
*Ví dụ : Dòng nào dưới đây nêu đúng nghĩa của từ tự trọng ?
a. Tin vào bản thân mình.
b. Quyết định lấy công việc của mình.
c. Coi trọng và gìn giữ phẩm giá của mình.
d. Đánh giá mình quá cao và coi thường người khác.
( Tiếng Việt 4 - tập 1 – trang 49)
*Dạng 2 : Cho từ và nghĩa của từ, yêu cầu học sinh xác lập sự tương ứng.
*Ví dụ : Tìm từ (ở cột A) phù hợp với lời giải nghĩa (ở cột B):
(Tiếng Việt 4 – tập 2 - trang 74)
Khi hướng dẫn giải kiểu bài tập này, giáo viên phải giúp cho học sinh hiểu ý
nghĩa của từng yếu tố ở hai vế để thấy sự tương ứng cặp đôi. Các em lấy lần lượt
các từ ngữ ghép với một nội dung xem có sự tương ứng, tức là tạo thành câu đúng
nghĩa không. Nếu học sinh điền, nối đúng, tạo ra sự tương ứng hợp lí giữa nghĩa và
từ là các em đã nắm được nghĩa từ.
*Dạng 3 : Cho sẵn từ, yêu cầu học sinh xác lập nội dung nghĩa tương ứng.
Dạng bài tập này ít xuất hiện trong sách giáo khoa.
*Ví dụ 1: Em hiểu các thành ngữ dưới đây như thế nào?
a. Cầu được ước thấy. b. Ước sao được vậy.
c. Ước của trái mùa. d. Đứng núi này trông núi nọ.
(Tiếng Việt 4 - tập 1 – trang 88)
*Ví dụ 2: Mỗi câu tục ngữ sau đây khuyên người ta điều gì?

giáo viên còn phải xác định sẵn những từ nào mình sẽ giải nghĩa và những từ nào
để học sinh giải nghĩa, dưới hình thức thực hiện các bài tập giải nghĩa từ.
Giáo viên : Trần Thị Thu Thao Trường Tiểu học Ba Vì
16
Sáng kiến kinh nghiệm : Một số biện pháp dạy học có hiệu quả các dạng bài
tập Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4
Việc lựa chọn các biện pháp giải nghĩa và hình thức bài tập giải nghĩa tuỳ
thuộc vào từng trường hợp cụ thể. Nó bị quy định bởi nhiệm vụ học tập (từ sẽ được
đưa vào vốn từ tích cực hay tiêu cực), bởi đặc điểm của từ ( trừu tượng hay cụ thể,
danh từ hay động từ, tính từ, thuần Việt hay Hán Việt), bởi trình độ của học sinh
(trước đó đã được chuẩn bị để nắm nghĩa từ như thế nào)
2.2.3 Bài tập hệ thống hóa vốn từ :
Trong sách giáo khoa Tiếng Việt, kiểu bài tập hệ thống hoá vốn từ chiếm tỉ lệ
cao suốt từ lớp 2 đến lớp 5. Dựa vào đặc trưng của hoạt động liên tưởng khi tìm từ
ngữ, có thể chia bài tập hệ thống hoá vốn từ thành nhiều nhóm, dạng.
2.2.3.1 Nhóm bài tập tìm từ :
Dựa vào quy luật liên tưởng, người ta chia nhóm bài tập tìm từ thành :
*Bài tập tìm từ có cùng chủ đề :
*Ví dụ 1 : Tìm các từ :
+ Chỉ những hoạt động có lợi cho sức khoẻ. M : tập luyện
+ Chỉ những đặc điểm của một cơ thể khoẻ mạnh. M : vạm vỡ
(Tiếng Việt 4 - tập 2 - trang 19)
Các từ cần tìm ở đây thuộc cùng một chủ điểm từ ngữ, hay nói cách khác là
cùng nằm trong một hệ thống liên tưởng. Vì vậy dạng bài tập này ngoài tác dụng
giúp học sinh mở rộng vốn từ còn có tác dụng giúp HS hình thành, phát triển tư
duy hệ thống.
Về cách dạy, giáo viên cần dựa vào các ví dụ mẫu trong sách giáo khoa để
hướng dẫn học sinh tìm từ. Các từ mẫu (còn gọi là từ điểm tựa) giúp học sinh hiểu
rõ yêu cầu của bài tập, đồng thời có tác dụng gợi ý, định hướng cho học sinh trong
việc tìm từ.

2.2.3.2 Nhóm bài tập phân loại từ :
Giáo viên : Trần Thị Thu Thao Trường Tiểu học Ba Vì
18
Sáng kiến kinh nghiệm : Một số biện pháp dạy học có hiệu quả các dạng bài
tập Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4
Bài tập phân loại từ là những bài tập cho sẵn các từ, yêu cầu học sinh phân
loại theo một căn cứ nào đó. Bài tập có thể cho sẵn các từ rời, cũng có thể để các từ
ở trong câu, đoạn. Các căn cứ để phân loại cũng chính là những căn cứ để tìm từ
trong nhóm bài tập tìm từ. Vì vậy, tương tự như nhóm bài tập tìm từ, các bài tập
phân loại từ có thể chia thành bài tập phân loại từ theo chủ đề, theo các nhóm
nghĩa, phân loại từ theo các lớp từ vựng, theo từ loại, tiểu loại của từ, phân loại từ
dựa vào cấu tạo.
Chẳng hạn dựa vào nghĩa, yêu cầu học sinh phân nhóm từ như :
*Ví dụ : Xếp các từ có tiếng lạc cho trong ngoặc đơn thành hai nhóm :
a) Những từ trong đó lạc có nghĩa là “vui, mừng”.
b) Những từ trong đó lạc có nghĩa là “rớt lại, sai”.
(lạc quan, lạc hậu, lạc điệu, lạc đề, lạc thú).(Tiếng việt 4 - tập 2 - trang 146)
Giải các bài tập hệ thống hoá vốn từ, học sinh sẽ xây dựng được những nhóm
từ khác nhau. Để hướng dẫn học sinh làm những bài tập này, giáo viên cần có vốn
từ cần thiết và biết phân loại các từ. Các bài tập hệ thống hoá vốn từ vừa sức với
học sinh tiểu học, được các em thực hiện một cách tự nhiên và có hứng thú.
Những bài tập được sử dụng ở Tiểu học để dạy dùng từ là bài tập điền từ, bài
tập thay thế từ, bài tập tạo ngữ, bài tập đặt câu, bài tập viết đoạn văn, bài tập chữa
lỗi dùng từ.
2.2.4 Bài tập sử dụng từ ( tích cực hóa vốn từ ) :
2.2.4.1 Bài tập điền từ :
Bài tập điền từ là kiểu bài tập được sử dụng nhiều ở Tiểu học. Loại bài tập
này có hai mức độ :
* Cho trước các từ, yêu cầu HS tìm trong số những từ đã cho những từ thích
hợp để điền vào chỗ trống trong câu, đoạn cho sẵn.

Tinh thần, hành động, xông lên, người chiến sĩ, nữ du kích, em bé liên lạc,
nhận khuyết điểm, cứu bạn, chống lại cường, trước kẻ thù, nói lên sự thật.
Giáo viên : Trần Thị Thu Thao Trường Tiểu học Ba Vì
20
Sáng kiến kinh nghiệm : Một số biện pháp dạy học có hiệu quả các dạng bài
tập Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4
(Tiếng Việt 4 - tập 2 – trang 74)
Bài tập này có hai mức độ. Mức độ thứ nhất cho sẵn hai yếu tố, yêu cầu học
sinh chọn từng yếu tố của dãy này ghép với một hoặc một số yếu tố của dãy kia
sao cho thích hợp, ví dụ kiểu bài tập nối từ ngữ ở cột A với từ ngữ ở cột B sao cho
hợp nghĩa. Mức độ thứ hai yêu cầu học sinh tự tìm thêm từ mới có khả năng kết
hợp với từ đã cho.
Để làm những bài tập này, giáo viên hướng dẫn học sinh thử ghép mỗi từ ở
dãy này với một số từ ở dãy kia, đọc lên rồi vận dụng kinh nghiệm nói năng của
mình để xem xét cách nói nào chấp nhận được và nối cho đúng.
2.2.4.3 Bài tập dùng từ đặt câu :
Đây là những bài tập yêu cầu học sinh tự đặt câu với một từ hoặc một số từ cho
trước. Để làm được những bài tập này, học sinh cần có sự hiểu biết về nghĩa của từ
cách thức kết hợp từ với nhau.
*Ví dụ : Đặt câu với mỗi danh từ chỉ khái niệm em vừa tìm được.
(Tiếng Việt 4 - tập 1 - trang 53)
Kiểu bài tập này cũng được dùng để dạy các mạch kiến thức về từ và câu,
chúng không chỉ có mục đích làm giàu vốn từ mà còn có mục đích dạy mô hình
câu. Để làm những bài tập này, trước hết giáo viên cần hướng dẫn học sinh hiểu
nghĩa của những từ đã cho, xét xem từ đó đã được dùng như thế nào trong hoạt
động giao tiếp hàng ngày. Sau đó học sinh phải đặt được câu với những từ này.
Câu phải đúng nghĩa, đúng ngữ pháp.
Để đặt được những câu khác nhau, giáo viên cần hướng dẫn học sinh tự đặt câu
hỏi hoặc giáo viên nêu câu hỏi để các em trả lời thành câu.
*Ví dụ :

Giáo viên : Trần Thị Thu Thao Trường Tiểu học Ba Vì
22
Sáng kiến kinh nghiệm : Một số biện pháp dạy học có hiệu quả các dạng bài
tập Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4
Bài tập sử dụng từ là bài tập có tính chất từ vựng - ngữ pháp. Để làm được
những bài tập này, học sinh không những phải hiểu nghĩa của từ mà còn phải biết
cách kết hợp các từ, biết viết câu đúng ngữ pháp.

CHƯƠNG 3
QUÁ TRÌNH ỨNG DỤNG VÀ HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN
3.1 QUÁ TRÌNH ỨNG DỤNG
Qua nghiên cứu, kinh nghiệm nhiều năm, áp dụng các biện pháp giúp học sinh
làm các dạng bài tập luyện từ và câu trong chương trình lớp 4. Tôi bắt đầu phổ
biến sáng kiến kinh nghiệm cho giáo viên trong khối và bước đầu vận dụng vào
trong các tiết học tăng cường Tiếng Việt nhằm cung cấp cho học sinh vốn từ, trau
dồi thêm một số kiến thức về câu, từ, nghĩa của từ, Ngoài việc học trên lớp tôi
còn cho bài tập để học sinh về nhà nghiên cứu làm và có gì khúc mắc sẽ giải đáp
vào các tiết học tiếp theo. Qua một thời gian áp dụng thực hiện, tôi nhận thấy học
Giáo viên : Trần Thị Thu Thao Trường Tiểu học Ba Vì
23
Sáng kiến kinh nghiệm : Một số biện pháp dạy học có hiệu quả các dạng bài
tập Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4
sinh tiến bộ qua từng bài tập và có phần thích thú hơn trong giờ học, nâng cao hơn
chất lượng giáo dục.
3.2 HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN :
Áp dụng giảng dạy phân môn Luyện từ và câu theo cách đã trình bày trên
trong một thời gian, kiến thức các em được mở rộng, khắc sâu thêm vốn hiểu biết.
Tạo được không khí nhẹ nhàng, thoải mái, các em có điều kiện trao đổi với bạn,
với cô những điều mà mình chưa biết, chưa hiểu điều đó có tác dụng khơi dậy
niềm ham thích, say mê tìm tòi khám phá lĩnh vực kiến thức của tiếng Việt, giúp

*Kết quả thu được:
Tổng số
học sinh
Giỏi Khá Trung bình Yếu
SL TL% SL TL% SL TL% SL TL%
95 29 30,5 26 27,4 40 42,1
Học sinh tiếp thu kiến thức tốt, đã biết vận dụng những điều đã học để thực
hiện các dạng bài tập luyện từ và câu đã mang lại hiệu quả cao.
BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ KẾT LUẬN
1. BÀI HỌC KINH NGHIỆM :
Trong quá trình dạy học, để tổ chức thực hiện có hiệu quả các bài tập luyện từ
và câu, giáo viên phải nắm được mục đích, ý nghĩa, cơ sở xây dựng, nội dung bài
tập và biết cách giải chính xác bài tập, biết trình tự cần tiến hành giải bài tập để
hướng dẫn cho học sinh.
Trong giáo án phải ghi rõ mục đích bài tập, lời giải mẫu, những sai phạm dự
tính học sinh có thể mắc phải và cách điều chỉnh đưa về cách giải đúng.
Tiến trình công việc giáo viên cần làm trên lớp lúc này là ra nhiệm vụ (nêu yêu
cầu), hướng dẫn thực hiện và kiểm tra đánh giá.
Giáo viên : Trần Thị Thu Thao Trường Tiểu học Ba Vì
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status