SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 1 TĂNG NHANH VỐN TỪ VÀ HIỂU NGHĨA TỪ KHI HỌC MÔN TIẾNG VIỆT - Pdf 27

MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 1
TĂNG NHANH VỐN TỪ VÀ HIỂU
NGHĨA TỪ KHI HỌC MÔN TIẾNG VIỆT
?&@
************************************
I/ Cơ sở lí luận :
Sau khi rời bàn tay chăm sóc của ông bà cha mẹ, và sự dạy dỗ của các cô giáo mầm
non . Trẻ 6 tuôi bước vào một giai đoạn mới là thay đổi bậc học . Bước đàu đến
trường vừa làm quen với môi trường mới, thầy cô mới ,bắt đầu đi vào việc học chữ,
học đọc , học viết nên trẻ còn nhiều bỡ ngỡ. Vì thế việc tiếp thu kiến thức bước đầu
thật khó khăn.Trẻ phải biết và nói lên được những yêu cầu cần thiết của một bài học
nhìn vào
âm - vần - tiếng -từ -câu trong mỗi giai đoạn để trẻ đọc đúng .Giáo viên cũng từ đây
hiểu thêm được vai trò của việc dạy tiếng việt đối với học sinh lớp 1.Với những yêu
cầu ngày càng cao đòi hỏi học sinh học sinh lớp 1 phải nắm bắt được kiến thức một
cách vững vàng để biến kiến thức đó thành kỹ năng ,kỹ xảo trong môn tiếng việt
.Cũng vì muốn học sinh học thật tốt môn này tạo đà cho việc học tốt ở các lớp trên
nên việc giúp trẻ tăng thêm vốn từ hiểu nghĩa từ để dùng từ chính xác trong kỹ năng
nói ,viết là một việc làm khó khăn mà người giáo viên dạy lớp một cần phải băn
khoăn và suy nghĩ.
II/ Cơ sở lí luận để chọn đề tài :
1
Ngôn ngữ loài người ngay từ những ngày đầu sơ khai của xã hội loài người đã hình
thành và ngày càng phát triển . Nó chính là công cụ giao tiếp vô cùng quan trọng
trong đời sống hàng ngày của con người ,mà con người là sự tổng hòa của các mối
quan hệ xã hội .
Chúng ta phải công nhận tiếng việt giàu và đẹp .Lời hay ý đẹp đã có sẵn trong tiếng
việt và ngày càng phát triển. Tuy nhiên chúng ta không lấy làm thỏa mãn mà cần có ý
thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng việt .
Việc giúp học sinh lớp một tăng nhanh vốn từ , hiểu nghĩa từ và tiến tới nói đúng ,
nói hay là vô cùng quan trọng và cần thiết .Vì nhờ đó mà các em sẽ không gặp khó

đây tôi dám mạnh dạn đưa ra chất lượng đánh giá cụ thể năm học 2008-2009 như
sau:

Số
lượng
giỏi khá Trung
bình
yếu
27 5 11 9 2
3
Nhận thấy được chất lượng hiệu quả còn thấp năm học 2008-2009, 2009-2010 bản
thân tôi dám mạnh dạn và học hỏi đồng nghiệp để tìm ra hướng giải quết để học sinh
sau mỗi bài học , phần học của môn tiếng việt thêm vốn từ phong phú và thật sự có
hiệu quả trang bị cho các em đầy đủ cả 4 kỹ năng : nghe để hiểu thêm vốn từ trong
cuộc sống, đọc ,nói lưu loát để viết đúng , viết đẹp, trau dồi kỹ năng luyện nói trong
giờ học luyện nói tạo cơ sở cho việc học viết câu văn , đoạn văn ngắn và đơn giản ở
cuối lớp 1 sau khi học xong mỗi bài học tập đọc ở học kỳ II. Để đi tới đích của vấn đề
tôi bắt đầu đi từng giai đoạn cụ thể theo 3 giai đoạn :( Học âm - chữ cái . Học vần và
tập đọc ).
IV/ :Hướng giải quyết vấn đề :
Giai đoạn 1: Giai đoạn trẻ mới bắt đầu học âm và chữ cái
Muốn học sinh nhanh biết đọc thì người giáo viên cần phải biết kết hợp với cha
mẹ học sinh hướng dẫn cho phụ huynh cách học tiếng việt cách dạy tiếng việt qua
từng giai đoạn .Tuy nhiên việc làm này là rất khó đòi hỏi giáo vên phải tổ chức được
thông qua buổi họp phụ huynh đầu năm để họ thấy được học thế nào thì có hiệu
quả .Bàng các phương pháp khác nhau ngoài học ở lớp để ghi nhớ bài thì việc học ở
nhà là ôn bài lại hết sức quan trọng .Học sinh nắm được cấu tạo của âm , biết kết hợp
giữa phụ âm với nguyên âm và thanh điệu để tạo thành tiếng mới ,từ mới thông qua
từng bài học .Sau đó học sinh biết ghép phụ âm với nguyên âm rồi thanh điệu để tích
lũy vố từ cho mình. Để giúp các em hiểu , dễ dàng tìm ra được nhiều tiếng mới ,tôi

kh … …. …. …. …. ….
qu … …. …. …. …. …
th …. … …. …. …. ….
….

Hai bảng này tôi làm lấy vào trong bìa cứng và dùng cho nhiều năm các con chữ
rời đựoc gắn nam châm chắc chắn .Sau mỗi bài học của học vần chính là lúc củng cố
lại kiến thức và mở rộng từ , tiếng mới.
5
Ví dụ ở bảng 1 :
-Khi học bài âm e– ê các em sẽ ghép được rất nhiều tiếng ,từ đơn.
( Lưu ý chỉ sử dụng những âm chữ đã học chẳng hạn theo phân phối chương trình
sau khi học e- ê thì đã học phụ âm c, l, h, v, b vì thế chỉ có thể sử dụng những âm chữ
đó trong bảng ghép )

Thanh
Âm
đầu
ø
ù
~
û

c Ce( k có)
h he h è h é h ẽ h ẻ h ẹ

Thông qua 2 bảng ghép kiểu như vậy giáo viên có thể giúp h/s nhận thấy rõ hơn về
mỗi lần thêm d ấu thanh ta được một tiếng mới và cách phát âm trong tiếng cũng thay
đổi .Ngoài ra cách viết và cách đọc trong chữ viết tiếng việt có sự không đồng nhất
( chẳng hạn khi đọc tiếng “ kẻ ” đa số h/s lớp 1 chưa nghĩ ra trong trường hợp này khi

-Từ đó giúp các em hiểu từ và và nhận biết các đồ vật chính xác hơn.
Thông qua 2 bảng ôn ở phần trên sau mỗi buổi học ôn về kiến thức tiếng việt tôi
lại giúp học sinh khắc sâu một cách tổng hợp hơn thông qua mở rộng vốn từ . Với
các âm
g- gh, ng – ngh c - k tôi hướng dẫn các em hiểu thêm về luật chính tả khi sử dụng để
ghép tiếng ,ghép từ.
-Ví dụ : g k
ng o, ô, ơ, u, ư, a , gh i ( y ), e, ê
c ngh
( lưu ý chữ y dài thưòng chỉ xuất hiện khi kết hợp với k )
-Trên cơ sở học về luật chính tả rồi khi tìm từ học sinh sẽ bắt gặp một số từ sau khi đó
các em biết lựa chọn như thế nào để viết đúng :
Nghi ngờ - kì cọ
gồ ghề - ngô nghê
Như vậy giai đoạn 1 để học âm và chữ ghi âm tốt đòi hỏi giáo viên phải công phu tìm
ra biện pháp hữu hiệu nhất bởi giai đoạn này h/s mới làm quen nên taọ không khí cho
các em học một giờ học sôi nổi để giờ học nhẹ nhàng mà có hiệu quả.
*Giai đoạn 2 :
Đây là giai đoạn lúc trẻ chuyển sang học vần :
Khi việc tìm ra tiếng và từ mới cuả học sinh đã thành thạo và thành kỹ năng rồi thì
sang phần vần càng giúp các em tìm từ mới khá nhanh và tiết học diến ra sôi động
hơn.Các em sẽ thi nhau tìm và phát hiện ra nhiều tiếng từ mới kể cả học sinh trung
8
bình cả lớp . Qua thực tế vốn từ ngữ của các em sẽ rất nhiều à phong phú . Ở giai
đoạn này
Giáo viên cũng có thể sử dụng phương pháp dùng bảng ghép như ở trên : Ghép âm
đầu với các vần rồi thanh điệu ( trường hợp này dành cho đối tượng học sinh còn ở
mức trung bình và yếu là rất hiệu quả) . Nhưng ta nhận thấy rằng hiệu quả lại không
cao và không phát huy được trí lực của học sinh với đối tượng khá giỏi.Muốn đạt
được kết quả cao trong từng bài học và giúp h/s yếu quen dần cách tư duy thì ta có thể

Từ những bài tập kiểu như vậy đòi hỏi các em vừ nắm chắc quy tắc chính tả lại vừa
phát triển thành từ để các em có vốn từ thêm phong phú hơn.
10
Ví dụ 3 : Khi dạy bài vần uê –uy tôi đưa ra dạng bài tập sau để học sinh làm quen
với cách nhận diện từ có 1 tiếng có nghĩa thông qua bài tập nối
Nối âm với vần để tạo thành từ 1 tiếng có nghĩa
Th
S
h uê
Ng uy
kh
Rõ ràng qua bài tập này các em ngoài kiến thức tiếng việt còn là kiến thức từ thực tế
để có được các từ ( thuê, suy, nguy , huy,khuy…) Sau đó ghép thêm dấu thanh để
được các từ mới khác nữa, có nghĩa .Từ tiếng hay từ có 1 tiếng ta ghép thành từ có 2
tiếng như : thuê nhà , đóng thếu , nguy hiểm , khuy áo, huy hiệu , suy yếu …
Trong quá trình ghép tiếng mới từ mới nếu gặp những từ không bình thường , thiếu
văn hóa hoặc không có trong thực tế thì giáo viên cần uốn nắn ngay cho trẻ để các em
biết chọn từ đúng hay sử dụng .
+ Giai đoạn3 :
- Giai đoạn tập đọc
- Chuyển sang giai đoạn tập đọc thì việc tìm từ đã ở mức độ cao hơn . Ngoài viếc
giúp học sinh hiểu để tiến tới rèn đọc lưu lóat, diễn cảm. Khi đưa ra các từ
trong bài tập đọc trong sách giáo khoa cần giúp các em hiểu nghĩa từ bằng
cách có thể là tìm từ cùng nghĩa , gần nghĩa hay trái nghĩa,…( ở mức độ dễ)
11
Cũng có thể sử dụng tranh để học sinh dễ tư duy và phát huy được tính tích cực
của nhiều học sinh.
-Ví dụ khi dạy bài tập đọc “ sau cơn mưa ”
Qua việc đưa tranh minh họa ra khi giảng bài ,học sinh hiểu được : sau trận mưa bầu
trời ,mặt đất , mọi vật đều tươi đẹp. Sau khi học sinh cảm nhận được vẻ đẹp của bầu

dụng nó vào những tiết học tiếng việt rất hiệu quả trong năm qua nhưng phần nào
cũng còn có sự chưa thật chặt chẽ bản thân mong đồng nghiệp góp ý và trao đổi thêm.
V / Kết quả :
Qua một số cách làm trên và kết hợp vớicác biện pháp rèn đọc - luyện viết cho các
em , tôi đã gíp các em có sự hiểu biết và vốn từ khá phong phú .Chính vì vậy tôi đã
thu được một số kết quả chủ yếu trong dạy học hầu hết cuối học kỳ I thì số học sinh
đọc thuộc được câu ,bài khá rõ ,thậm chí nửa nhiều lớp còn đọc được các bài tập đọc
trong chương trình lớp 1 , đọc mẫu chuyện ngắn , chuyện tranh vì thế kết quả kiểm tra
cuối kỳ đạt kết quả cao cụ thể :

13
Số lượng giỏi khá Trung bình yếu
24 10 8 5 1

Rõ ràng việc thay đổi hình thức dạy học mang lại một kết quả thật khả quan . Và khi
đã có số lượng từ ngữ phong phú , giàu hình ảnh rồi thì các em sẽ mạnh dạn khi giao
tiếp và biết dùng lời hay ý đẹp để giao tiếp với mọi người xung quanh.
VI / Kết luận :
Trên cơ sở thực hiện việc dạy học môn tiếng việt lớp một, bản thân giám mạnh dạn
đưa ra một sáng kiến nhỏ về một phần nhỏ của bộ môn nhằm mục đích làm giàu thêm
vốn từ ngữ cho các em ngay từ lớp đầu cấp tạo cơ sở cho các em học lên sau này.
Không những thế , việc giúp học sinh lớp một tang nhanh vốn từ và hiểu nghĩa từ
khi học môn tiếng việt còn giúp tôi:
-Nắm được trình độ tiếp thu và chất lượng của học sinh lớp mình phụ trách.
- Từ đó rút ra được biện pháp thiết thực để kèm các em trung bình và yếu.
- Dần dần nâng cao chất lượng học tập của học sinh
- Bài học sẽ gây nhiều hứng thú, học sinh hiểu được ngôn ngữ và ý nghĩa của từ.
- Cũng từ đây học sinh phát huy trí tuệ một cách toàn diện và vô cùng phong phú .
Trên đây là một số biện pháp tôi đề ra và đã thực hiện để giúp học sinh lớp một tăng
nhanh vốn từ và hiểu nghĩa từ khi học môn tiếng việt . Mong được sự góp ý của BGH


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status